Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Thơ Văn
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Văn Học - Nghệ thuật :Thơ Văn  
Message Icon Chủ đề: TRUYỆN HAY CHỌN LỌC Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 138
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 30/Jun/2020 lúc 8:41am

Chuyện Thằng Lai 

Phố cổ Hội An (hình internet)

Hắn là thằng con lai. Mẹ hắn là một phụ nữ ở vùng cát Quảng Nam bị Mỹ hiếp, dính bầu đẻ ra hắn.
Ông ngoại hắn chỉ có mình mẹ hắn, ngoài ba mươi mà chưa chồng. Thương con gái mồ côi mẹ, chừ lại gặp chuyện éo le, ông khuyên nhủ con gái:
- Thôi, xấu hổ chi con, tại chiến tranh chớ tại chi mình, ai nói chi kệ họ, con ráng giữ rồi đẻ ra để cha nuôi cho. Hắn cũng là con người, lại cũng là hột máu của mình, nhà mình lại đơn chiếc một cha một con, biết đâu ông trời ổng cho mình đó con…
Nghe lời cha, cô gái cúi mặt che bụng chịu đựng. Ơn Trời, mẹ tròn con vuông, tọt ra thằng cu gần bốn cân, khóc oang oang.
Ông ngoại ngồi ngoài phòng sinh nghe thấy, cười hề hà, bảo:
- Thấy chưa, hắn khóc tiếng Việt mình đó, oa... oa, cha tổ thằng cu, ha ha...

Tới ngày đầy tháng, đích thân ông ra chợ mua sắm đầy đủ lễ vật về, áo dài khăn đóng cúng vái rất kỹ lưỡng, cầu xin mười hai Bà mụ phù hộ cho cháu ông lanh ăn lẹ lớn, lớn lên thành người Việt mình đàng hoàng. Rồi ông đặt tên cho hắn là Phan Lai. Phan là họ nhà ông. Ông bảo với con gái: ngoại của hắn là đây mà nội của hắn cũng là đây. Con ráng nuôi hắn, sau này về già con nhờ. Rồi ông mà trăm tuổi thì hắn bưng nồi hương cho ông chứ còn ai vô đây?

Rồi đúng như lòng mong ước của ông ngoại và mẹ hắn, hắn lớn như thổi. Và càng lớn hắn càng giống một lính Mỹ nào đấy. Da trắng như bạch tạng, tóc râu ngô, mắt xanh lơ lơ, mỗi khi hắn nhìn ai thì người đó thấy như hắn dò xét họ điều gì. Được cái là từ ăn mặc cho chí chơi bời thì không khác sắp nhỏ hàng xóm. Thương nhất là lúc ngồi trong mâm ăn, mới tí tuổi đã biết gắp miếng ngon bỏ chén ngoại, cơm ghế khoai, rau lang luộc chấm mắm cái cứ bưng chén lua ào ào. Buồn cười nhất là khi nói chuyện với hắn, mặt mũi thì rặt thành phố mà giọng nói thì nhà quê một cục, ngó như một thằng bé giả.

Ngày đầu đi học, ông ngoại đưa tới lớp. Cô giáo sợ cháu mặc cảm, e dè, ra tận cửa đón vào. Không ngờ mới thả xuống đã sà vào giành đồ chơi của bạn. Rồi mẫu giáo, cấp I, cấp II cứ mỗi năm một lớp, còn được chọn vào đội học sinh giỏi toán của trường. Đi học một buổi, một buổi ở nhà quơ củi, chăn bò. Một lần để bò ăn lúa bị người ta dắt bò. Nghe lời ông hắn đến nhà người giữ bò vòng tay cúi đầu:
- Con xin lỗi ông. Con gửi bò cho thằng bạn ngó dùm chạy về nhà coi chừng siêu thuốc cho mẹ. Không ngờ thằng nớ ham chơi, để…
- Thôi thôi, biết thương mẹ rứa là tốt, ông tha cho… Rồi ông vào nhà lấy hai cái bánh, bảo: Hôm nay nhà ông có giỗ…
Lai ngửa hai tay nhận bánh: - Con cảm ơn ông. Rồi dắt bò về.

Cho đến một hôm…
Hôm đó, đi học về, vừa bước vào nhà, hắn thấy khang khác. Ông thì ngồi nhà trên lặng lẽ hút thuốc, mẹ thì ngồi dưới bếp thút thít, thấy hắn bước vào thì khóc to thành tiếng. Hắn hoảng sợ, quăng cặp sách chạy đến ôm mẹ: - Mẹ ơi, có chuyện chi rứa mẹ?
Một chặp lâu, mẹ hắn mới lau nước mắt, hỏi chậm rãi: - Con ơi, con muốn đi Mỹ không?
- Đi làm chi mẹ?
- Đi tìm cha con…
- Không, không! Không đi mô hết!
Hắn vừa dậm chân sừng sộ vừa khóc rồi vùng vằng ra ngồi dưới gốc cau ở góc sân. Bỏ cơm.
Tối hôm đó, hai ông cháu lên giường một lúc thì ông bảo hắn: - Con nè, chừ chính phủ Mỹ muốn đưa những đứa con lai về Mỹ. Có một nhà ở Sài Gòn muốn đưa mẹ con ba cây vàng để xin con về làm con, cho học tiếng Mỹ để cùng gia đình họ sang Mỹ. Ông thương hai mẹ con đứt ruột. Nhưng con nè, họ biểu: con có đi luôn đâu, cũng tỉ như đi du học, lâu lâu lại về. Nhà họ cũng rứa ngại chi. Với lại con tính, nhà mình đang khó, mẹ con lại đau ốm, không tiền thuốc thang.
Thằng bé nghe ông nói, nghe chừng xuôi xuôi, không nói gì, rồi cũng lăn ra ngủ.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng nhà Sài Gòn đến. Hết vợ đến chồng dịu dàng thuyết phục hắn. Hắn cũng chỉ im lặng. Nhưng mọi việc sau đó diễn ra suôn sẻ.
Và quyển sách đời hắn từ đó, mở qua một trang mới. Năm đó hắn 15 tuổi, đang học dở lớp 9.

***
Vợ chồng nhà Sài Gòn chẳng ai xa lạ, chính là vợ chồng nhà Kim, bạn thân của gia đình tôi, đã mua Lai về làm con, cho học tiếng Anh trong hai năm trước khi qua Mỹ.
Qua Mỹ được vài ba năm chi đó, vợ chồng Kim về Sài Gòn, ra thăm tôi.
- Ông biết không - Kim kể - Hồi mới qua, vợ chồng tôi cứ phập phà phập phồng lo. Thiếu chi những đứa lai, lúc còn ở nhà cứ má má con con, khi qua đến bên nớ rồi, hắn dở quẻ “bà nớ mô phải má tôi”. Rứa là xôi hỏng bỏng không. Còn thằng này thì thương lắm. Ở nhà ăn ở với nhà tôi răng thì qua bên nớ vẫn y rứa. Hắn nói với bà xã tôi: “Ở nhà con có mẹ, qua đây con có má, má với mẹ bằng nhau. Ở nhà con không có em, chừ con có đến năm đứa em, ai sướng bằng?”.

Vợ chồng tôi cũng không phân biệt con nuôi con đẻ, phân theo tuổi nó là anh cả, và sắp con tôi cũng “chịu” anh cả lắm. Qua đến đó chúng tôi về định cư ở Houston bang Texas, cho gần gia đình bà xã tôi.
Vừa ổn định chỗ ở xong, cả nhà xáp vô làm ăn luôn: tôi nhận đi cắt cỏ cho các nhà vườn, bà xã làm neo(1), thằng lớn đi bỏ báo, sắp nhỏ đi học. Thằng Lai lúc thì phụ ba, khi thì giúp mẹ. Hắn í à, khéo tay lắm, mới mấy tháng đã được khách hàng khen, chẳng mấy chốc đã thành thạo. Khi đã thành thợ chính rồi, má hắn lập cho hắn một cuốn sổ giao hắn tự ghi công, đến cuối tháng trả lương sòng phẳng. Hắn cũng thích vậy, bảo: “Ba má cho con tập tự lập nhé. Rồi còn phải cưới vợ nữa chứ”.

Tưởng hắn nói chơi, không ngờ mới hơn một năm, một hôm hắn ngỏ ý với vợ chồng tôi muốn xin ra ở riêng.
“Chớ con định ở chỗ nào?” - má hắn hỏi. Hắn chỉ nói hai tiếng “có chỗ” rồi dẫn cả nhà ra xem. Một ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo bỏ hoang giữa một khu vườn rộng. Mọi người nhìn ngôi nhà sắp sụp trố mắt nhìn hắn. Chưa kịp hỏi thì hắn đã nói con tìm hiểu kỹ rồi. Nhà này là của vợ chồng một người Mỹ, nửa đêm không hiểu vì sao người chồng lăn đùng ra chết, người vợ bỏ đi mấy năm nay không thấy trở lại.
Mấy đứa em hắn lè lưỡi: “Anh định đến ở đây? không sợ hả?” - “Sợ gì?”. Mấy đứa em gái la lên: “Sợ ma!?” - “Không có ma! Mà có anh cũng chẳng sợ!”.
Má hắn bảo: “Con đã suy nghĩ kỹ chưa?”. Hắn nói chậm rãi: “Con đã tính rồi. Ở đây về nhà mình chỉ vài tiếng xe đạp. Lúc rảnh rỗi, con tranh thủ đạp xe đến sửa sang dọn dẹp, trồng rau… Con sẽ làm cho ngôi nhà này hồi sinh. Chỉ xin ba má liên hệ nhà chức trách xin phép cho con, xin các em ủng hộ anh”.
Kim bảo:
- Bà xã tôi quá bất ngờ, thậm chí hơi sốc vì lâu nay thấy hắn làm ăn ngon lành, cũng có ý định giúp hắn vừa làm nghề vừa tập quản lý shop, đợi đến lúc đủ lông đủ cánh thì giao hẳn cho nó lập nghiệp.
Nhưng tôi thì không quá bất ngờ như bả. Lâu nay, cứ chiều chiều hắn một mình đạp xe ra ngoại ô, tưởng hắn đi chơi. Không ngờ hắn đã lặng lẽ chuẩn bị trước. Tôi chú ý hắn ngay từ hồi còn ở nhà, trong cái vóc dáng vị thành niên của hắn đã bắt đầu chớm nở, những ý tưởng vượt tuổi tác.

Vì thế tôi bàn với bà xã và các em, hết sức giúp hắn. Nhưng hắn bảo: “Con chưa ra ngay đâu, con sẽ làm cho ngôi nhà đó không còn là nhà hoang nữa mới đến ở”.
Và không phải đợi lâu, khoảng năm sáu tháng sau, nhà cửa tinh tươm, vườn tược tươi tốt. Sướng mắt nhất là cái giàn bí trước nhà, ngó y chang cái giàn bí của ông ngoại hắn ở quê, những quả bí mập mạp, xanh bóng chen nhau thòng xuống, ăn không hết hắn mang cho những nhà lân cận.

Đến cuối năm đó hắn mới đến ở. Đến hôm trước, hôm sau treo biển làm neo, lấy tên shop neo FANLAI. Chưa bao lâu, khách đến nườm nượp, phần lớn khách quen, còn có vẻ nhộn nhịp hơn shop neo của má hắn.
Chừ thì ngon lành rồi. Chưa đầy hai mươi mà ngó cung cách làm ăn của hắn đã khác mình. Tuồng như có sẵn trong máu hắn một cái gì đấy của xã hội công nghiệp. Hắn bảo với tôi: “Ba thấy con làm ri được không, các bà các chị các em ở Mỹ đến làm móng, con học tiếng của họ, khách hàng nhất là các cô trẻ thích học nghề, con dạy nghề cho miễn phí luôn, nhưng cứ mỗi tháng phải đến làm cho con một ngày, mà cũng chỉ trong năm đầu thôi”. Tôi hỏi: “Có ai học không?” - “Khối đứa, có đứa đã thành nghề đến làm cho con rồi đấy”. Ông tính hắn có ghê không? Lại còn ri nữa: Khi đã có người đến làm rồi, hắn giao shop cho họ coi, tranh thủ làm việc khác. Trồng rau, nuôi gà, đi nhặt vỏ đồ hộp. Một bao tải khoác vai, mũ lưỡi trai hất ngược ra sau, lúc đi bộ lúc đạp xe, lượm vỏ lon về đổ dồn đống ở góc nhà. Không khác chi một thằng ve chai Việt Nam trên đất Mỹ. Các em hắn chê “Bôi bác quá ông ơi”, hắn chỉ cười. Hắn rỉ tai tôi: “Dưới đống vỏ đồ hộp là cái “két” của con đấy, hằng ngày kiếm được đồng nào con bỏ vào một hộp bánh nhét dưới đó, cuối tuần mang về gửi má giữ hộ”.
Kim còn kể nhiều chuyện về thằng con lai của anh ta. Cứ sau mỗi chuyện thú vị, Kim lại lắc đầu kêu: - Cái thằng kỳ cục hết chỗ nói!

***
Bẵng đi trên chục năm. Trong thời gian đó, nhà Kim có về nước đôi lần nhưng chỉ ở Sài Gòn rồi đi.
Tết vừa rồi, hai vợ chồng về ăn tết ở Hội An có ra thăm tôi. Chuyện thằng Lai ngày trước Kim kể với tôi, tưởng đã quên đi, nay gặp lại Kim, bật nhớ. Tôi hỏi: - Thằng Lai răng rồi?
- Kỳ cục lắm, Kỳ cục lắm! Chừ không ai gọi thằng Lai nữa mà là David Phan.
- Vẫn làm neo chứ?
- Chuyện neo niếc để bà xã tôi hôm nào ở Huế vào bả kể. Còn David bây giờ thì… kỳ cục lắm ông ạ - Rồi Kim kể say sưa, phải súc bình trà đến mấy lượt.

Trước hết là chuyện vợ con của hắn. Ra ở riêng không bao lâu, một hôm hắn về bảo “Xin ba má cho con lấy vợ” - “Thiệt hay giỡn mi?” - “Dạ thiệt” - “Có sớm không?” - “Dạ, con quá hai mươi rồi. Với lại con cần có vợ sớm, vì mẹ con đau yếu, ông ngoại già quá rồi, con lại ở bên này, phải có người chăm sóc ông và mẹ” - “Vợ nào mà chăm sóc…!” - “Dạ, vợ Việt Nam, cưới xong vẫn ở Việt Nam, thỉnh thoảng con về” - “Bao giờ cưới?” - “Lúc nào ba má về được, con theo về cưới!” - “Cái thằng này! Vợ đâu mà sẵn rứa?” - “Dạ, con đã chuẩn bị một năm nay. Con ra tiêu chuẩn cho mẹ con ở nhà kiếm” - “Tiêu chuẩn thế nào?” - “Dạ, đơn giản thôi, ba điều: Một là: không cần đẹp nhưng đừng xấu, phải khỏe để đẻ và nuôi con. Hai: biết giữ tài sản, biết làm cho tiền đẻ ra tiền. Ba: biết thương mẹ và ông ngoại. Dạ chỉ rứa thôi”.
Tôi và má hắn ngã ngửa nhưng phải nghe hắn, chứ biết răng chừ.

Cuối năm đó cưới, cưới là vợ có bầu. Đến chừ hắn đã có ba đứa: hai trai, một gái. Bốn mẹ con hắn chưa một lần qua Mỹ. Hắn bảo: “Sẽ qua nhưng chừ chưa phải lúc”.
Vợ hắn từ một cô bạn học cùng học một trường, cùng đi chăn bò hồi nhỏ nay trở thành một nàng dâu đảm đang, quản lý cơ ngơi bạc tỉ mà hắn bảo “đáng điểm 10”.
Tôi nghe cũng bắt “ngã ngửa”, hỏi chen:
- Hắn làm gì mà giàu nhanh rứa?
- Thì ông tính: ở bên nớ hắn có tiêu chi, tích cóp được đồng nào gửi về nhà, mua đất ở Hội An. Lúc đầu mua miếng nhỏ, được giá bán mua miếng to hơn, đến nay hắn đã có một miếng đất lớn, ở một nơi đắc địa, không bán mà ký hợp đồng cho thuê 10 năm lấy tiền trước, bỏ ngân hàng. Chưa kể đất chung quanh nhà ông ngoại hắn, hắn đã mua thêm nay rộng rãi, vuông vức lắm!
Tất cả hắn chỉ đạo vợ hắn gần như hằng ngày, tiền bạc phải có sổ sách, chứng từ, chi tiêu theo đúng tiêu chuẩn cho người lớn cả trẻ con. Đúng là đâu ra đấy.
À, có một chuyện này tôi quên nói: Sau việc cưới vợ đẻ con, hắn làm gì ông biết không? Sửa nhà cho ông và mẹ và…làm luôn nhà thờ tộc Phan. Lần đó hắn về, ra Hội An thuê người vẽ kiểu, có ý kiến đến từng chi tiết - Có một đôi liễn treo trước bàn thờ, theo mẫu: “Ân quốc, ân gia, ân phụ mẫu/ Tạ thiên tạ địa tạ tiền nhân”(2). Hắn bảo sửa lại: “Ân quốc, ân gia, ân… hiền mẫu”. Chứ hắn có cha mô mà… phụ mẫu? Không biết hắn học ai mà rành vậy!
- Thật hết bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Nghe tôi bình luận vậy, Kim bảo, rồi còn bất ngờ với hắn dài dài. Ông tính: hắn văn hóa chưa hết cấp II mà trí thức của mình chừ nói chuyện với hắn phải cẩn thận. Ban ngày làm "neo", lượm lon bia, đêm vào máy đọc sách!
Thấy tôi cứ lắc đầu một cách thích thú, Kim bảo:
- Chưa hết. Nghe đây rồi coi có tin được thì tin. Từ hồi qua Mỹ, hắn về nước nhiều lần, nhưng có ba lần gần đây nhất, trước khi lên máy bay hắn đưa cho vợ chồng tôi giữ, cái gì ông biết không, di chúc!
- Trời, di chúc?
- Đúng, di chúc của hắn để lại cho vợ con, ngộ nhỡ…
Đến mức này thì tôi không còn ngạc nhiên nữa mà… tá hỏa! Kim bảo khi nhận cái di chúc đầu tiên, má hắn la dữ và khuyên hắn không nên làm chuyện xui xẻo. Hắn bảo: “Tổng thống mà có lúc còn bị nạn, huống chi... Cái gì cũng phải phòng trước là hơn”.
- Có nhớ nội dung các di chúc của hắn? - Tôi hỏi dồn.
- Hai cái trước thì không. Cái gần đây thì nhớ. Hắn chỉ dặn một việc: tương lai của ba đứa con hắn.
Thằng đầu Phan Nhất Việt đang học Đại học Nông nghiệp, phải trở thành nhà nông học giỏi, về nhà cưới vợ, chăm sóc ông và ba mẹ, hương khói cho ông bà nhưng quan trọng là phải biến vườn ông thành một nhà vườn kiểu mẫu theo phương pháp hiện đại.
Thằng em Phan Hậu Việt, đang còn học phổ thông trung học, phải vào Đại học Kinh tế, chuyên ngành quản lý du lịch, cưới vợ học du lịch càng tốt, xây khách sạn trên miếng đất Hội An, phải làm cho khách sạn mình thành khách sạn nổi tiếng ở phố cổ.
Bé út Phan Mỹ Duyên đang học phổ thông cơ sở, phải học giỏi để vào ngành sinh hóa ở Đại học Bách khoa, sẽ được sang Mỹ học cao hơn nữa để nghiên cứu chế tạo mỹ phẩm bằng cây cỏ Việt Nam và tiếp quản cơ ngơi của ba, xây dựng thành một mỹ viện ở Houston.
Và... - Kim đột ngột dừng lại như đang có vật gì vướng trong cổ, một lúc sau mới tiếp - Câu cuối cùng trong cả ba di chúc đều ghi thế này:

“Nếu tôi chết hãy đưa tôi về nằm ở quê ngoại tôi”.

Phạm Phát
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 06/Jul/2020 lúc 9:51am

Căn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo.
Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao.

Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú.
Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu.

Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là… người thật. Báo chí Na Uyy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’.

Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách.

Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.
“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.
“Nguyễn Thị Vân.”
“Ngày sanh?”
“25.12.1988.”
“Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt.

Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi.
Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út.
Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:
“Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.
“Nói chung… Tôi không có cha.”
“Tên mẹ?”
“Tôi không có mẹ.”
“Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”
“Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả…”
“Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”
“Không.”
“Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”
“Không biết. Người ta đưa tôi đi.”
“Người ta là ai?”
“Nói chung nà người giắt đi đấy.”
“Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”
“Tôi không biết đâu là biên giới.”
“Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”
“Không nhớ.”
“Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”
“Khoảng một tháng.”
“Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”
“Không nhớ. Không biết.”

Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.”
 Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, đánh vào máy vài dữ kiện vu vơ.
Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:
“Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”

Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để quy trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:
“Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy… Đã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”
Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’đi – vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được.

Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:
“Cô muốn gì tại Na Uy?”
“Xin tị lạn.”
“Lý do tị nạn?”
“Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.”
“Tại sao lại chọn Na Uy làm nơi tị nạn?”
“Nói chung nà nghe người ta bảo ở La Uy sướng thì trả tiền cho đường giây đưa đi.”
“Cô phải trả bao nhiêu tiền?”
“Lăm ngàn đô.”
“Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?”
“Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.”
“Ông ấy tên gì?”
“Không biết.”
“Địa chỉ?”
“Bên cạnh nhà tôi.”
“Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?”
“Thì ở gần nhau ngoài đường.”

Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn.
Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư dãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC.
Bên ngoài ban công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi.

Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm.
Diễm cũng là dân tị nạn – mệnh danh là ‘thế hệ thứ hai.’ Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra.

 Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy? Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông – khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống.
Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền.
Diễm không biết nói dối – gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả…

Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy điện toán, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp.
Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ.
Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói.
Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc.

Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá.
Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tầm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp.

Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay.
Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà, mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ.
Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất.
Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn.

Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà.
Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại:
“Cô khỏe không?”
“Khỏe.”
“Bao giờ sanh?”
“Hai tháng nữa.”

Cô hắng giặng:
“Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy.
“Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.”

Người thiếu phụ mang bâu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da.
Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của Bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự.
Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tầm trú vào đầu mùa thu.

Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu.
Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước.
Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm.

Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép.
“Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng.
 “Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.”
“Thế thì trả tôi về Đức.”
“Tại sao lại Đức? Cô đi từ Việt Nam mà!”
“Tôi từ bên Đức sang…”
“Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Đức sang. Lời nào là thật?”
“Cái thai lày của một thằng Đức.”
“Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.”
“Không biết… thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.”

“Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai.
 Và chúng tôi sẽ liên lạc với Tòa Đại Sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.”

“Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết…” người tù nói nhanh, rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!”
“Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi.
“Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.”

Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai:
“Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.”
“Tôi cũng không muốn sanh con trong tù…”
“Vậy tên thật cô là gì? Địa chỉ?…”

Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời.
Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác – khuôn mặt của một con người.
Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm:
“Con tôi sinh trong tù à?”
Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận.

Diễm nghĩ đến thân phận chính mình – sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp… là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được.
Không, không phải cha mẹ chọn. Đó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa.
Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.

Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút quy củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu.
Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi:
“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?”
“Nương thiện nà cái gì?”

Tâm Thanh
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 14/Jul/2020 lúc 8:26am

Người Con Gái Có Móng Tay Sơn Đỏ Gắt


mong%20tay%20do

Khỏi cổng trại giam chừng hơn hai trăm thước, Trung Sĩ Thà chạy chậm lại. Chiếc Honda chở hai người tấp vào phía lề đường.


Trung Sĩ Thà thò tay vặn chìa khóa tắt máy, gài số không, chiếc xe vẫn còn đà, chạy tiếp.


Thà quẹo phải vào một con đường nhỏ. Ngay góc đường nhỏ và đường lớn tráng nhựa là một cái quán, tường mái đã xiêu vẹo.


Quán bán giải khát, và hình như có vài món nhậu nữa thì phải. Buổi trưa cuối năm trời nóng mặt đường nhựa chảy ra, dính quánh vào bánh xe.

 Con đường đất xuôi thoải xuống, qua một xe sinh tố, Thà quẹo trái vào sân một căn nhà gỗ.
Tôi xuống xe, Thà dựng chiếc Honda, khóa xe rồi quay lại nheo mắt :
-Em dẫn ông thầy tới chỗ này quen, giới thiệu ông thầy với chị Chín luôn. Chỗ này tốt lắm, lần sau tới là chị Chín nhớ ông thầy liền.

Tôi sửa lại quân phục, một cử chỉ tôi thấy bỗng thừa thãi. Cử chỉ đã quen từ sau những buổi học đầu tiên ở quân trường.
Qua khoảng sân lát xi măng có cái giếng nhỏ, chúng tôi bước vào nhà.

Trong nhà tối om, phải vài giây sau tôi mới quen với ánh sáng lờ mờ trong nhà. Một bộ bàn ghế bằng sợi ni lông, bốn chiếc lỏng chỏng. Chiếc bàn bằng thùng đạn, trên còn một chai xá xị.
Đằng sau là một chiếc tủ chè đựng một bộ tách uống trà. Trên tường là mấy bức phụ trang nhật báo, dán lên vội vã, không đóng khung, lộng kiếng chi cả.
Có một bức ảnh bán thân tô màu treo ngay cạnh một chiếc bàn thờ nhỏ. Hình một người đàn bà, tuổi chừng chưa tới ba mươi.
Người trong bức ảnh tay cầm một cành hoa lay-ơn gác trên vai, miệng cười nhìn ngước lên trên trần nhà. Bức ảnh có lẽ cũng phải được chụp từ hàng chục năm trước, người ta mới chụp những bức hình kiểu kỳ cục như thế.

Thà mở nắp túi lấy bao thuốc quân tiếp vụ, đưa về phía tôi :
-Hút điếu chơi ông thầy.
Tôi không hút, đẩy bao thuốc trở lại. Một mùi tanh, ẩm mốc bỗng tràn vào căn phòng.
Tôi thấy cửa sau mở, có tiếng chân người đi vào. Chiếc mành trúc xao động, một người đàn bà thò đầu ngó chúng tôi. Thà kêu lớn:

-Chị Chín. Tôi dẫn ông thiếu úy tới chơi. Ổng mới ra trường vừa tới đây. Bữa nay có em nào ngộ không chị Chín. Kiếm cho ông thầy tui một em mới mới nghe chị.
Người đàn bà gật đầu chào. Tôi nhận ra đó là người trong bức hình treo trên tường. Có lẽ tôi đoán trúng, bức hình đã phải trên mười năm.
Người đàn bà tên Chín trông đã ngoài bốn mươi, những nét khắc khổ trên khuôn mặt chỉ làm tăng thêm những nét giang hồ sẵn có.

Người đàn bà mặc áo hoa có lấm chấm những nụ vàng xếp lại mấy chiếc ghế cho ngay ngắn, đoạn quay về phía chúng tôi :
-Mấy thầy uống gì? Một người hay hai người?
Thà nhanh nhẹn:
-Chị có gì uống? Có 33 thôi hay có bia Mỹ nữa?
Người đàn bà đáp:
-Có mấy lon Mi Lơ thằng chồng mụ Sáu vừa đem tới hồi hôm.
-Rồi, cho hai lon Mi Lơ. Có tui nữa chớ chị. Lâu quá rồi mà. Tội nghiệp thằng nhỏ.

Thà cười ngặt nghẽo, thích thú vì câu pha trò của hắn. Chị Chín quay vào nhà trong nói khẽ :
-Đồ quỷ. Xin lỗi ông thiếu úy nghe. Thằng cha ăn nói thấy ghê luôn.

Tôi ngồi dựa lưng vào ghế, Thà châm thuốc, lơ đãng nhìn theo khói thuốc. Tôi đá chân vào chiếc bàn gỗ :
-Này cậu, đừng có gọi tôi là thiếu úy nghe. Ông thiếu úy Út trong đồn mà biết là tôi phiền lắm đó. Cho tôi sống với chứ. Cậu cứ kêu tôi là thiếu úy thế nào cũng có ngày tôi được truy thăng cố thiếu úy đó nghe.
Người đàn bà tên Chín trở lại. Hai lon bia lạnh được đặt lên bàn. Những giọt nước chảy ngoằn ngoèo trên thành. Chị Chín lại bước vào trong. Chị nói lại :-Chút xíu tụi nó tới.

Chúng tôi ngồi uống bia được chừng một hai phút thì có tiếng động ngoài cửa. Có bóng người đi vào.
Thà ngó lên, hắn đứng dậy, bước về phía người mới vào. Tôi không thấy rõ mặt vì người con gái đứng xoay lưng về phía tôi. Cô ta đội một cái nón lá, đội nguyên vào trong nhà.
Thà giọng có vẻ mừng rỡ:
-Ủa Nga, còn ở đây sao? Tưởng em về quê ăn tết rồi chớ.
Người con gái nói lí nhí gì nghe không rõ. Thà quay lại phía tôi, quăng xâu chìa khóa lại phía trước chỗ tôi ngồi:
-Ông thầy ngồi chờ chút xíu nhe. Em quen cô này. Cần gì cứ lấy xe em chạy nghe thiếu úy.

Người con gái vẫn không quay về phía tôi. Cô ta đi thẳng vào nhà trong. Thà đi theo. Chiếc màn trúc lay động. Có tiếng cửa mở ra phía sau.
Rồi có tiếng Thà hát vọng ra “…nàng nay là nữ cứu thươn nơi chiến… chườn… tôi ở ngoại ô, một căn nhà nhỏ có hoa thơm trái hiền… có cô bạn quen…”
Rồi bỗng tiếng hát im bặt. Có tiếng cửa khép lại…

Tôi ngồi uống gần hết lon bia Miller mới thấy có tiếng người bước vào bằng cửa trước. Tôi quay lại nhìn. Người mới vào là một phụ nữ khoảng chừng non ngoài hai mươi. Mái tóc ngắn như vừa mới uốn xong. Chiếc áo bà ba bằng vải hoa và chiếc quần lãnh ống may chật. Cô ta hỏi :
-Chị Chín có đây không?
Tôi đáp không. Cô ta nói chị Chín kêu và vừa định quay đi ra thì tôi đứng dậy :
-Đợi chút, chị vô tới bây giờ.

Cô ta ngồi xuống một chiếc ghế đan. Tôi lúc đó mới có thì giờ quan sát kỹ hơn. Cô ta trông không có vẻ gì là từng trải hay đã làm nghề này lâu. Cô ta có một hàm răng đẹp, những chân răng trắng và đều.
Bàn tay có những ngón hơi thô, móng cắt ngắn, sơn màu đỏ gắt. Cô ta có bộ ngực thật đẹp, nhấp nhô theo mỗi nhịp thở.

Chiếc mành trúc xao động. Chị Chín ở trong nhà bước ra. Cô gái ngước lên. Chị Chín nói :
-Tới lâu chưa Thảo? Ông thiếu úy này đó…
Rồi chị quay về phía nhà sau. Thảo, cô gái mới vào, đứng dậy. Cô đi vào phía trong nhà.

Tôi đứng dậy bước theo. Phía trong nhà chia ra thành hai ba phòng nhỏ. Những tấm ván gỗ đóng tạm, chỉ quây vừa lấy một chiếc giường. Chiếc nệm xô lệch vẫn còn nguyên dấu vết của một thân thể vừa nằm trước đó.

Một mùi ngai ngái của mốc thoảng bay lên. Giây sau, Thảo trở lại, bưng theo một chậu nước, vắt chiếc khăn lên chiếc đinh trên tường gần ngọn nến.
-Anh mới tới đây hả?
Tôi ngạc nhiên :
-Sao biết?
-Chị Chín nói. Tới đây lần nào chưa?
-Chưa. Sao?
-Hổng sao hết.

Thảo bắt đầu cởi áo. Tôi tháo dây ba trạc vắt lên thành ghế. Ngày mai là Tết, tôi thuộc thành phần ứng chiến, không được đi phép vì mới được bổ sung.
Có lệnh cắm trại năm mươi phần trăm. May nhờ có trung sĩ Thà, tôi mới nhảy dù ra, đi chơi được hôm nay.
Đây là lần đầu tiên tôi tới đây kể từ khi đến trình diện. Buổi trưa ngồi buồn đọc sách thì trung sĩ Thà đi ngang rủ tôi xả xui.

Hắn thích nghe tôi kể chuyện Sài Gòn, chuyện đời dạy học của tôi. Hắn chưa có vợ con, ở trong quân đội đã bốn năm. Rất khôn ngoan và cũng nhờ đó, tôi mới đi theo được hắn ra ngoài.
Đời sống của hắn thật giản dị. Chờ tới kỳ lương, trả tiền ăn uống, thuốc lá, còn lại, hắn tiêu hết cho mấy ổ điếm ở chung quanh trại.

Thảo vắt chiếc áo bà ba lên cạnh dây ba trạc của tôi bên thành ghế.
Tôi kéo cô gái lại. Đã hơn hai tháng tôi không được ôm một người đàn bà trong tay. Lần từ giã Yến ra đơn vị, chúng tôi chỉ hôn nhau được một cái trước khi ông anh Yến bấm còi xe giục chúng tôi ra xe.

Lưng cô gái mát lạnh, mềm mại chảy xuống lưng chiếc quần lãnh mượt bóng. Thảo ôm lấy cổ tôi.
Mồ hôi tôi rịn ra trong lớp áo treillis, chiếc thẻ bài dính lấy ngực. Mùi dầu dừa ở tóc Thảo bốc ra.

Ở một lúc khác hay một nơi khác, chắc mùi dầu đã làm tôi buồn nôn. Nhưng trong một buổi trưa nắng, bên trong một căn phòng tối, chiếc lưng trắng, tiếng hơi thở dồn dập, chiếc quần lãnh mướt, một người lính xa nhà gần hai tháng, xa những mùi vị, những cảm giác, những xúc giác thân thuộc của cơ thể một người đàn bà son phấn đắt tiền ở Sài Gòn, thì mùi dầu dừa trong tóc của một người phụ nữ cũng có những cái hấp dẫn của nó.

Tôi cúi xuống nhìn. Đôi vai nhỏ mềm, hai sợi dây của chiếc soutien nằm vắt ngang qua vai. Tôi vòng tay ra đằng sau, cởi cái móc.
Thảo đỡ lấy chiếc soutien, nhoài người treo lên thành ghế. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn nến thắp trên đầu giường, tôi đọc thấy rõ những chữ Lou, Made in France, Paris.
Thật lạ lùng, tại sao ở một nơi như căn phòng này, trong một xóm nghèo xác xơ của Hậu Giang miền Nam, lại có một món đồ lót đắt tiền, kiểu cách như thế?

Tôi nhìn lại khuôn mặt của Thảo. Không, khuôn mặt này không thể là khuôn mặt của một người bước vào một tiệm Nouveautés ở P***age Eden Sài Gòn để hỏi mua một chiếc soutien Lou.
Mà nếu chuyện đó xảy ra thì phải bao nhiêu “dù” mới kiếm đủ tiền để mua một món xa xỉ như vậy? Thảo nằm xuống bên cạnh, tôi hỏi :
-Em mua cái này ở đâu vậy?
Tôi chỉ tay vào thành ghế. Thảo đáp :
-Người bạn gái cho.

Câu trả lời vẫn không làm tôi thỏa mãn. Người bạn gái nào của một cô gái làm nghề của Thảo lại có thể tặng bạn một món quà sang như thế?
Món quà đó đắt gấp hai lần lương tháng chuẩn úy mới ra trường như tôi… Tôi cầm tay Thảo. Tôi bỗng ngạc nhiên khi thấy ngón tay trỏ bên tay phải của nàng nhám và chai cứng…
Khi tôi bước ra nhà ngoài, thì trung sĩ Thà cũng đã ngồi ở ghế, trước mặt là hai lon bia Miller khác. Thà cười cười :
-Ngồi chơi ông thầy. “Đặng” không? Có bằng em út ở Sài Gòn không?
Tôi gật đầu :
-Tốt lắm. Thế nào cũng trở lại đây đều đều.

Khoảng quá nửa đêm, Việt cộng bắt đầu tấn công. Tôi đang ngủ thì một trái 62 ly rót vào giữa sân trại.
Tôi quơ lấy chiếc mũ sắt đội lên đầu. Đèn đóm tắt hết. Cối 62 ly tiếp tục rót. Binh sĩ trong đồn nhốn nháo. Không ai chờ đợi một chuyện như thế.
Mấy hôm trước Tết, tình báo không ghi nhận bất cứ một hoạt động đặc biệt nào của địch. Nửa số binh sĩ trong đồn được xả trại về ăn Tết ở nhà. Chỉ có những lính mới như tôi mới phải ở lại ứng chiến.

Tôi khoát khẩu M-16 lên vai, đeo băng đạn lên vai trái, thò tay vào dưới gầm ghế bố lấy chiếc áo giáp ra. Tôi bỗng ngửi thoáng thấy mùi dầu dừa ở vai áo mình. Tôi mỉm cười nghĩ một mình : nếu tối nay có hy sinh vì tổ quốc thì cũng vẫn còn hên hơn nhiều người khác, vì buổi trưa vừa xả xui xong.
Tôi nghe tiếng thiếu úy Út. Ông gọi tôi :
-Ông chuẩn úy mới đâu rồi? Ông lên ổ đại liên phía cửa nghe ông.
Tôi đáp nhanh:
-Tuân lệnh thiếu úy.
Bỗng tôi thấy có bàn tay đặt lên vai. Tôi nhận ra Thà. Hắn đưa tôi bốn quả lựu đạn :
-Cầm chơi ông thầy. Chúng nó biển người tới chân thì hãy chơi lựu đạn.

Chúng tôi chạy về phía cổng. Đạn rít trên đầu.
Những trái tracer vẽ những đường lửa đỏ rực trong đêm đen.
Tôi vấp phải một bao cát nằm giữa đường suýt ngã chúi xuống. Chạy khoảng ba bốn chục bước thì tới chân cầu thang dẫn lên vọng gác có bố trí khẩu đại liên.

Khẩu M-60 có hai người, xạ thủ là hạ sĩ Bi và binh nhất Thiệt. Thiệt ngồi đỡ dây đạn, hạ sĩ Bi tay đặt trên cò súng. Trông họ không có vẻ gì khẩn trương cả. Tôi ngồi bệt xuống bên cạnh hai người, thở hào hển. Đoạn đường từ căn nhà tôn ra tới ổ đại liên chỉ chừng hơn hai chục thước mà tôi tưởng như dài lắm.

Tôi nhớ tới bốn quả lựu đạn, khẩu M-16, bandolier với mười gắp đạn, chiếc mũ sắt và cái áo giáp, đó là chưa kể đôi giày saut.
Bằng ấy thứ cũng thừa sức làm tôi mệt lử. Tôi tháo bandolier, gác khẩu M-16 lên vách, lấy một băng đạn, tống vào và lên đạn. Hạ sĩ Bi quay lại, hỏi qua một hơi thuốc :
-Đụng lần đầu phải không chuẩn úy?
-Ừ.
-Tụi này thì đều đều. Lâu ngày không đụng về ngủ với vợ hết thấy ngon.
Chúng tôi cười. Nỗi lo sợ bỗng tiêu tan.

Vẫn chưa thấy có tiếng súng nhỏ, chỉ mới có pháo 62 ly và vài quả 82. Đất cát tung lên tứ phía. Ánh lửa lân tinh lóe lên soi sáng rực sân trại mỗi lần một trái đạn rơi xuống phát nổ. Mới là tiền pháo, bao giờ tới hậu xung đây?
Tôi vừa nghĩ tới bài học ở quân trường thì ở phía Tây, phía trước cổng trại, bên kia đường, qua khỏi chỗ nghĩa địa, gần chỗ buổi trưa trung sĩ Thà và tôi tới bắt đầu có tiếng súng nhỏ.

Trung liên nồi, đại liên mười hai ly bảy, AK bắn xối xả. Súng cối vẫn rót đều. Trong đồn có người bắn hỏa châu lên trời.
Những tiếng vút vút, rồi đóm lửa trên cao lờ lững rơi xuống chầm chậm. Cả một khu trước trại sáng lên, lập lòe vàng ệch ma quái.
Những bụi cây ở phía bên kia nghĩa địa chuyển động mỗi lần ánh châu tắt, và khi một quả châu mới sáng lên, thì những bụi cây lại nằm ở một vị trí mới.
Tôi nâng khẩu M-16 lên vai. Hạ sĩ Bi nói :
-Còn xa lắm chuẩn úy, bắn bây giờ tụi nó ngứa, gãi tội lắm…

Bỗng một tiếng nổ kinh hồn phát ra ở phía trái. Một quả bích kích pháo rơi ngay cạnh đống bao cát bên ngoài ụ đại liên.
Mấy tiếng chửi thề tục tĩu ở phía dưới. Rồi bỗng đạn súng nhỏ nổ ròn hơn, những bụi cây di chuyển hồi nãy cũng lóe sáng, đạn réo bên tai.
Khẩu đại liên bên cạnh nổ chát chúa. Tôi bắn nguyên một băng vào phía trước. Trung sĩ Thà đập tay tôi :
-Từ từ thôi thiếu úy. Hết đạn bây giờ… Thiếu úy thấy có gì không? Em Thảo hỏi thăm thiếu úy đó. Tôi thấy đạn từ phía đó bắn ra không à.

Quả đúng như trung sĩ Thà nói, phía xóm lóe lên những tia chớp, đường đạn chạy vút từ phía những căn nhà hồi chiều tới phía chúng tôi.
Tôi không nhớ đã thấy bất cứ một dấu vết gì khác thường ở khu nhà đó. Khu nhà chúng tôi tới cũng giống hệt như những khu gia binh, những xóm nghèo, những khu nhà lụp xụp gần những đồn bót nhỏ.
Dăm ba cửa tiệm, một hai quán nhậu, hai ba ổ điếm. Không lẽ những người ở đó đêm nay lại nổ súng vào chúng tôi dữ dội như vậy.

Khi địch bắt đầu xung phong thì cũng là lúc tôi nghe tiếng ì ì xa vắng vọng lại. Không phải trực thăng, mà cũng không phải khu trục. Rõ ràng là tiếng “gunship C-47 puff the magic dragon”.
Khẩu đại liên bên cạnh, các thứ súng nhỏ, M-79, cối trong đồn bắn ra điên cuồng. Những xác người đổ xuống bên ngoài, bên trong trại.
Chiếc C-47 đã hiện ra rõ. Hỏa châu được thả ra, rọi sáng hẳn một vùng. Khu nghĩa địa bị súng trong đồn bắn ra cày nát, xác người mới chết và xác người trong quan tài, dưới mộ bị bật lên nằm cạnh nhau.

Chiếc gunship đảo một vòng như định lại thế để bắn. Thế rồi từ một bên cánh phía tay phải, một bức tường lửa đổ xuống.
Những khẩu Gartling phun ra 6000 viên đạn một giây như vãi một dòng sông lửa xuống phía dưới.
 Chiếc C-47 vòng trở lại, nghiêng cánh trái xuống, và những họng minigun lại trút xuống một bức tường lửa của những viên tracer xuống nghĩa địa.
Dưới đất, những thây người nảy tung lên như những con búp bê nhỏ xíu.

Chiếc gunship vòng lại một lần thứ ba nữa, lầm lũi, thảnh thơi trút sự chết chóc xuống một lần nữa rồi mới đi, khác hẳn những phi vụ khu trục lúc nào cũng vội vã, nóng nảy, hay những trực thăng UH-1D xẹt xẹt ào xuống rồi lại bốc lên ngay.

Súng nhỏ tiếp tục nổ thêm chừng một tiếng đồng hồ nữa, thưa thớt rồi bặt hẳn.
Trời lúc đó cũng gần sáng. Ban quân y bận rộn lo băng bó cho những người bị thương.
 Tôi bị một mảnh đá vụn văng vào mí mắt bên phải. Vết thương không nặng lắm mặc dù có chảy nhiều máu.
Trong đồn có hai nghĩa quân chết, khoảng hơn chục người bị thương, vũ khí được bảo tồn…

Khoảng 6 giờ sáng, chúng tôi được lệnh lục soát khu nhà ở mé bên kia nghĩa địa.
Chúng tôi đi theo hàng một men theo đường lớn. Phía bên trái là nghĩa địa.
Những cành cây địch dùng để ngụy trang buổi tối hôm trước nằm vương vãi khắp nơi. Những chiếc lá đã bắt đầu héo trong ánh nắng buổi sáng mai.

Một số những ngôi mộ xây bị bắn nát. Vài chiếc quan tài bị cày lên, tung nắp. Xác địch la liệt, nằm chết đủ kiểu. Những mớ tóc còn phất phơ bay trong những cơn gió sớm.
Họ mặc đủ mọi loại quần áo. Một số mặc đồng phục chính quy, một số mặc bà ba đen, vài người chỉ mặc quần cụt.
 Máu đã đông lại, quyện lấy bùn đất. Những đôi mắt mở trợn trừng, những cánh tay giơ lên, những cái chân như còn muốn vùng lên để chạy.

 Cách lối quẹo vào xóm chừng gần một trăm thước thì bỗng ở phía trước mặt có súng bắn ra. Mới đầu là một quả B-40 bay xẹt qua đầu chúng tôi, rơi xuống phía sau chiếc xe jeep của đại úy trưởng đồn.
Kế đó là AK quét dọc trên mặt lộ. Chúng tôi lăn xuống vệ đường tìm chỗ núp.
Rồi hai ba quả B-40 khác bắn tới. Khẩu M-60 trên xe jeep bắt đầu nổ. Hai người lính được đại liên bắn che, đứng dậy bắn liên tiếp gần một chục quả M-79 vào chiếc quán nhỏ, nơi xuất phát của những quả B-40 trước đó.

Chúng tôi nhoài lên, nổ súng về phía xóm nhà. Đạn ở trong xóm bắn ra, ở ngoài bắn vào. Tôi bỗng nghĩ tới Thảo. Cô ta ở đâu trong những giờ phút như tối hôm qua, và trong lúc này?
Tôi nhớ tới Nga, đáng lẽ cô ta phải về quê ăn Tết. Tại sao lại kẹt ở đây giữa chốn binh lửa này?
Nếu buổi trưa hôm qua tôi không theo trung sĩ Thà xuống xóm này thì liệu giờ đây, ngón tay trên cò súng của tôi có nhẹ nhàng hơn bây giờ không?

Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Chỉ khoảng 15 phút sau, súng đã dứt.
Chúng tôi tiếp tục di chuyển từ từ về phía khu nhà. Chiếc xe jeep đi đầu, xạ thủ đại liên sẵn sàng nhả đạn.

Những người lính đi đằng trước tôi đã tới được cái quán nhỏ. Cái quán bây giờ chẳng còn gì. Mái đã sập xuống. Tấm bảng thiếc kẻ tên quán chỉ còn được ghim lại trên chiếc cột bằng một cái đinh, đồ đạc trong quán đổ vung vãi ra đằng trước.
Không có một chỗ nào trên mặt tiền không lỗ chỗ những vết đạn. Đằng sau, khói còn bốc lên, hình như do những quả M-79 hồi nãy bắn vào.

Khi tôi tới nơi, thì những người lính đến trước đã vào bên trong quán lôi ra hai cái xác. Hai cái xác mặc quần áo đen.
Một người lính cúi xuống, một tay cầm súng, một tay lục soát cái xác mặc quần cụt. Trong túi áo có một số giấy tờ rơi ra. Tôi tiến vào qua đám người trong xóm hiếu kỳ vây xem.

 Máu trong người của các xác mặc quần cụt vẫn tiếp tục chảy ra, ngoằn ngoèo loang ra phía bậc vào bằng xi măng.
Hai người lính khác thì lục soát cái xác kia. Bỗng một trong hai người kêu lên :
-Lính cái Việt cộng nè chuẩn úy.

Một người kéo chân cái xác ra phía ngoài. Người chết mặc áo bà ba đen, quần đen.
Trên người còn đeo hai quả đạn B-40. Chiếc mũ vải che một nửa khuôn mặt xám ngoét. Mái tóc ngắn. Một dòng máu đỏ tươi ứa ra từ màng tang bên trái. Máu tiếp tục chảy ra.

Chắc người này mới chết trong trận đánh hồi sáng. Tôi chống báng súng, quỳ một chân xuống.
Tôi thò tay gạt chiếc mũ vải sang một bên. Tôi sựng lại. Khuôn mặt không còn nguyên vẹn.

Hơn một nửa từ mũi trở lên bị phá mất, chỉ còn một đống óc máu me bầy nhầy.
Tôi nhìn đôi tay, một tay kẹp dưới lưng khi những người lính kéo cái xác ra.
Tay kia nằm hờ hững trên mặt đất. Nổi bật trên những viên gạch bông là những ngón tay trắng, móng tô đỏ, màu đỏ gắt.

Tôi thò tay cầm lấy ngón tay trỏ bàn tay phải. Làn da phía bụng của đốt thứ hai tấy lên, khô cứng. Đúng là bàn tay buổi trưa hôm trước tôi đã nắm.
Ngón tay trỏ có chai chỉ có thể có được trên những bàn tay cầm súng. Người lính lục soát tiếp tử thi.

Tôi thấy hình như xác còn ấm. Một khoảng bụng trắng hiện ra khi người lính thò tay lục chiếc túi áo bên kia.
Một chiếc cúc áo bị đứt. Tôi định tâm tìm thử dấu vết cuối cùng. Qua lần gấp của một bên áo, là chiếc soutien màu da người. Chiếc soutien LOU viền đăng ten trắng nhạt.
Bộ ngực người chết bất động. Không còn nhấp nhô theo nhịp thở như trong buổi trưa hôm trước. Tôi cảm thấy chóng mặt.

Tôi đứng dậy, rẽ đám đông đang vây quanh hai xác chết. Trời sáng, trong và xanh cao. Tôi thấy hai tai lùng bùng. Tôi bước ra phía cột đèn, ngồi xuống, mệt mỏi vô cùng.
Tôi thèm một điếu thuốc để dằn cơn buồn ói xuống. Như thế là đúng hai mươi tiếng đồng hồ.
Kể từ trưa hôm trước tới tám giờ sáng hôm nay. Hai cái xác giờ đây chỉ cách nhau có chừng sáu thước mà tưởng như vạn dặm.

Một cái xác là tôi, đờ đẫn ngồi dưới chân cột đèn, khẩu M-16 nằm ngang trên lòng. Đôi giày bê bết bụi đường. Và một cái xác nằm chết ở cửa quán.
Trong bộ áo treillis tôi đang mặc vẫn còn dấu vết của những ngón tay có móng sơn màu đỏ gắt.
Trên người của cái xác nằm kia có thể cũng còn dấu vết của bàn tay tôi.
Nếu không có cái soutien LOU, chắc tôi chẳng thể nào nhận ra tông tích, nếu gọi đó là tông tích của người chết.

Tôi cúi xuống cổ áo mình. Thoảng đâu đây còn mùi dầu dừa nhè nhẹ.


Bùi Bảo Trúc
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 17/Jul/2020 lúc 8:24am

Người Đàn Bà Ở Căn Chung Cư Số 13


Phong%2013
Có tiếng động mạnh trên tầng lầu 2. Tôi bước vội ra sân nhìn lên, nhưng chỉ kịp thấy cánh cửa căn chung cư đóng sầm lại rồi im bặt.

 

Ánh đèn từ khung cửa sổ cũng phụt tắt. Tôi đang bối rối không biết phải làm thế nào thì điện thoại trong nhà bật reo.

Tôi vội nhấc máy và sững sờ khi nghe tiếng bà Trang ở đầu dây bên kia:
– Anh Hải lên khóa cửa giùm em.
Tôi hỏi nhanh:
– Chị đang ở đâu vậy?
– Em đang ở Dallas, khi chiều ra đi em quên khóa cửa. Anh lên khóa giùm em nhé, cám ơn, bye.
Tôi chưng hửng, càu nhàu:
– Con khỉ! Chưa kịp hỏi gì đã cúp, đồ điên…

Hôm sau, khi gặp bà Trang, tôi chưa kịp mở lời phân trần… thì bà nhìn tôi tươi cười:
– Cảm ơn anh đã khóa cửa giùm em.
Nghe bà Trang nói, tôi chới với không biết phải ứng đáp thế nào vì tôi có khóa cửa giùm bà bao giờ đâu! Chìa ở đâu mà khóa!

Bất chợt, tôi nghĩ đến một điều: “Ở Mỹ chìa khóa nhà ai nấy giữ. Đâu có tùy tiện đưa cho người khác. À, mà sao bà ta lại nghĩ là mình có chìa khóa nhỉ? Nếu bà ta bị mất đồ thì sao?”
 Nghĩ đến đây tôi đâm hoảng nhưng cố lấy bình tĩnh hỏi:
– Chị có bị mất mát gì không?
Bà Trang cười tươi như hoa:
– Dạ không. Nhờ anh khóa cửa nên không xẩy ra chuyện gì.
– Này chị Trang, khóa cửa của chị có mấy chìa vậy?
Bà Trang trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên:
– Anh hỏi làm chi vậy? Anh Hải ơi, ở Mỹ đừng hỏi những việc như vậy, không tốt đâu.
Tôi kêu trời không thấu, cười dở, khóc dở, miệng méo xẹo:
– Đúng… đúng…, chị nói đúng! À này chị Trang, tôi làm gì có chìa khóa của chị mà chị nhờ tôi khóa cửa? Chị có chắc là khi trở về, cửa của chị đã được khóa không?
Bà Trang nhìn tôi với vẻ ngơ ngác, cặp mắt láo liên hình như bà đang nghĩ đến một điều gì đó, rất quan trọng. Bà thở dài sườn sượt nói:
– Xin lỗi… xin lỗi… em lẩm cẩm quá.
Bà Trang không nói gì thêm, vội vã quay lưng bước lên thang gác…

Gần một tháng nay căn chung cư số 13 của bà Trang cửa đóng im ỉm, cũng không thấy xe bà đậu ở parking lot.
Tôi không rõ bà đi xa hay đã đổi chỗ ở?
Tuy căn nhà bỏ trống, nhưng thỉnh thoảng tôi lại nghe có tiếng chân người đi tới, đi lui, nện gót giầy thình thịch trên sàn nhà. Đôi khi lại có ánh sáng lờ mờ của loại đèn ngủ phát ra từ khung cửa sổ.

Tôi vốn là người không tin ma quỷ, nhưng với những hiện tượng kỳ lạ trên tầng lầu 2, khiến tôi khó tìm được giấc ngủ thanh thản, nhất là về đêm.
Tôi đâm lo và không biết tại sao lại cảm thấy buồn buồn sau những ngày không gặp bà Trang!
Nhiều đêm tôi cứ trằn trọc, thao thức mãi cho đến gần sáng mới chợp mắt được. Tôi dọn đến ở đây gần được sáu tháng. Tôi không vợ con và cũng chẳng có bạn bè, thân thuộc gì.
Có thể nói bà Trang là người thân quen duy nhất của tôi. Nghe đâu bà ta ở đây đã trên bốn năm rồi. Bà cũng như tôi. Độc thân. Tính tình trầm lặng. Không giao du bạn bè. Bà làm thu ngân viên cho một trung tâm bán lẻ. Ngoài thời gian đi làm và đi chợ, hầu như lúc nào bà cũng có mặt ở nhà.

Trong suốt thời gian quen biết nhau, vì nhà đơn độc, nên tôi chỉ trò chuyện với bà ngoài hành lang, chứ không dám mời vào nhà.
 Tôi không phải là thần thánh gì, nên biết mình khó giữ được “bình tĩnh” khi đứng trước một người đàn bà xinh đẹp trong một căn phòng vắng vẻ, nhất là khi đối diện với đôi mắt mơ màng, đôi môi hé mở, như mời mọc, như sẵn sàng, chờ đợi…

Cho xe vào chỗ đậu xong. Tôi phát hiện chiếc xe bên cạnh là của bà Trang. Tôi xuống xe nhìn lên căn nhà số 13. Cửa đóng. Không có ánh đèn chiếu ra từ khung cửa sổ.
Nhìn đồng hồ mới 9 giờ 15. Tôi vào nhà nhấc điện thoại gọi mấy lần nhưng không có ai trả lời. Cell phone của bà cũng không liên lạc được từ lâu.
Tôi đi tới đi lui, nghĩ ngợi lung tung một hồi, rồi quyết định lên nhà bà gõ cửa. Không có ai trong nhà. “Bà Trang đi đâu nhỉ? Chắc chắn là bà đã về rồi. Xe bà đang đậu dưới parking lot kia mà! Hay là có ai đến chở bà đi…”

 Nghĩ đến đây, tự nhiên tôi thấy nóng bừng cả mặt, một nỗi hờn giận vô cớ xuất hiện trong đầu. Tôi lững thững bước xuống thang gác mà hồn thì thả tận đâu đâu…
Sau lần đó, căn nhà số 13 yên tịnh lạ thường và bà Trang cũng bặt vô âm tín. Tôi đánh liều đến văn phòng hỏi thăm về tin tức của bà.
Cô thư ký lật sổ xem rồi chtôi biết bà Trang vẫn đóng tiền thuê căn gác hàng tháng đều đặn, đúng kỳ, còn việc bà đi đâu thì cô cũng không rõ.

Tôi ra về với những nghi vấn đầy ắp trong lòng. Tôi biết bà Trang không giàu, tại sao lại bỏ tiền mướn nhà mà không ở?
Tôi lại tự trách “việc của người ta, mắc mớ gì đến mình mà sao cứ đèo bồng, nghĩ ngợi lung tung!”
 Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng hình ảnh của bà Trang cứ chập chờn ẩn hiện trong đầu tôi không thể nào xóa tan đi được.

Một hôm khi ở sở về, tôi thấy một miếng giấy nhỏ dán ở trên cánh cửa. Đọc xong tôi kêu trời không thấu. Miếng giấy ghi vỏn vẹn mấy chữ “ngày 13 tháng này, nhờ anh lên nhà thắp giùm em ba nén hương trên kệ thờ. Cảm ơn anh nhé. Trang”.
Mực dùng viết trên miếng giấy màu đỏ, hình như từ một cây bút bi gần hết mực, nên nét chữ chỗ đậm, chỗ lợt, chỗ nhòe ra từa tựa như viết bằng máu.
Tôi đứng thừ người lẩm bẩm: “Không biết con khỉ này chơi cái trò gì đây?!” Tôi tính nhẩm, từ đây đến ngày 13 còn khoảng hơn một tuần.

Tất nhiên là tôi không thể làm theo lời nhờ vả của bà được. Tôi nghĩ thầm trong bụng: “Đã ở căn nhà số 13 lại nhờ mình thắp nhang cũng vào ngày 13; Ôi chao, con số 13 ở Mỹ đâu có đem ra đùa cợt được!”.
Thế là tôi cứ nơm nớp chờ đến ngày 13 xem có việc gì xẩy ra hay không?

Đang ngồi đọc báo ở phòng khách thì điện thoại reo. Tôi nhấc lên nghe nhưng điện thoại cứ rít rít, è è không làm sao nghe được.
Giọng nói ở đầu dây bên kia cũng nhòe nhoẹt, đứt quãng, chỉ nghe được mấy tiếng “Trang đây… Trang đây…” rồi sau đó là những tạp âm nghe đến rợn người.

Đó là vào một chiều Chúa nhật trời nhá nhem tối. Bên ngoài mưa tầm tã. Những giọt nước từ trên hành lang căn gác nhỏ xuống khóm bạc hà trước hiên nghe lộp độp, lộp độp, thật buồn.
Tôi mở cửa bước ra ngoài. Một cảnh tượng làm tôi suýt đứng tim đang hiện ra trước mắt. Những giọt máu từ trên hành lang căn gác rơi xuống đọng trên mấy phiến lá bạc hà, rồi nhểu từng giọt xuống bộ xương người
làm bằng chất nhựa màu trắng mà tôi đã đặt ở dưới mái hiên trong ngày Halloween.

Tôi bước vội vào nhà định gọi 911. Nhưng kịp nghĩ lại “không lẽ có kẻ giết người vào giờ này?”
Tôi do dự một chút rồi quyết định lên gác xem việc gì đã xẩy ra. Tôi cẩn thận từng bước đến trước căn nhà số 13. Tôi ngẩng người khi phát hiện ra ngay ở mép hành lang, ai đó đã để một hộp sơn màu đỏ (loại pha nước).
Nước mưa tạt vào làm tràn hộp sơn rồi theo kẽ hở chảy xuống tầng dưới.

Tôi lững thững bước xuống cầu thang, vừa cười vừa mếu Vào nhà ngả lưng trên sofa, tôi ngẫm nghĩ “có lẽ gần đây mình cứ bị ám ảnh bởi căn nhà số 13, nên không kịp nhận định, quan sát kỹ càng, nên mới tưởng tượng ra cái chuyện buồn cười, lãng nhách này!
Nhưng rồi tôi lại nghĩ “tại sao hộp sơn để ngay trước căn nhà số 13 mà không để ở một căn chung cư nào khác? Tại sao hộp sơn lại mở nắp ra? Tại sao lại chọn đúng vào buổi tối nhá nhem, trời mưa tầm tã này?
 Hay là có kẻ dùng sơn đỏ để hăm dọa, cảnh cáo mình? Tại sao và tại sao?…

Hàng loạt câu hỏi khó trả lời lần lượt hiện ra trong đầu tôi… Cuối cùng ngày 13 cũng đến.
Khi làm về, tôi đứng ở parking lot rất lâu để quan sát kỹ càng căn nhà bà Trang. Cửa vẫn đóng. Không thấy có hiện tượng gì khác lạ.
Tôi vào nhà thay quần áo rồi vô bếp lục thức ăn. Bưng tô cơm có trộn xì dầu và cải mặn vào phòng khách, tôi vừa ăn vừa nghĩ đến những mẫu chuyện rùng rợn mà người ta đã kể cho tôi nghe về con số 13.

Câu chuyện đầu tiên xẩy ra vào thời Đệ nhị Thế chiến, một quả đại pháo của quân Đức rớt ngay giữa một nhóm lính Mỹ gồm 13 người, tất cả đều tử thương.
Từ đó về sau người ta rất úy kỵ con số 13 và cũng từ đó người ta thêu dệt ra không biết bao nhiêu chuyện ly kỳ quái đản có liên quan đến con số 13, với một kết luận chắc nịch: “13 là con số xui tận mạng!”
Mở cửa ra ngoài cho thư giãn một chút, nhưng bầu trời xám ngắt, cảnh vật âm âm, tôi vội trở vào nhà vì thấm lạnh. Ngồi một mình ở phòng khách, tôi cảm thấy buồn bã, cô đơn, trống vắng vô cùng.

Thật ra, cái cảm giác này chỉ đến với tôi trong những ngày không gặp bà Trang. Tôi đã yêu bà? Đúng, điều này tôi biết rõ. Nhưng lắm lúc tôi lại cảm thấy băn khoăn vì những hiện tượng quái lạ trên tầng lầu 2.
Ngày xưa, khi còn trẻ, tôi đã say mê đọc Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Vì vậy, không ít thì nhiều, cũng bị ảnh hưởng bởi những mối tình tuyệt đẹp giữa người và yêu tinh.


Tôi không phải là một anh học trò nghèo mải mê đèn sách. Bà Trang cũng không phải là một con chồn tinh. Ấy thế mà tôi cứ thấp tha thấp thỏm trong lòng. Tôi uể oải đứng lên, khoác cái áo lạnh lên người, định lái xe chạy một vòng cho khuây khỏa, nào ngờ mới mở cửa ra, thì bà Trang đang từ nơi đậu xe lù lù bước tới.

Tôi đứng sững như trời trồng, miệng cứ ú ớ mãi. Bà Trang hơi ngạc nhiên nhưng cũng kịp nhận ra ở tôi đang có một việc gì đó, không được bình thường. Bà đoán như vậy rồi vội vàng lên tiếng:
– Làm sao vậy anh Hải? Không hoan nghênh em trở về à?
Tôi vội lấp liếm cho qua chuyện:
– Đâu có! Chỉ hơi ngạc nhiên thôi.
Bà Trang tiếp:
– Lạnh quá! Em vào nhà được không?
Tôi miễn cưỡng mời bà vào nhà mà lòng thì băn khoăn không ít. Ngồi vào ghế xong xuôi, bà Trang cất giọng hỏi:
– Hôm nay anh có lên gác thắp mấy nén hương dùm em không?
Nghe bà Trang hỏi tôi đăm ra bực mình nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên:
– Chị Trang ơi! Chị biết tôi không có chìa khóa của chị mà sao cứ nhờ… hoài vậy?!
Bà Trang hơi ngơ ngác một chút rồi lên tiếng:
– Chết! Em lại lẩm cẩm nữa rồi. Xin lỗi anh nhé.
Tôi nói:
– Không có gì.
Im lặng một chút. Bà Trang nhìn quanh căn nhà với một vẻ chăm chú khác thường.

Tôi đánh tan sự im lặng:
– Này chị Trang, mấy tháng nay chị đi đâu vậy? Tôi có gọi cell phone mấy lần mà không được.
Bà Trang nhìn tôi với nét buồn vời vợi:
– Mấy tháng nay em không dùng cell phone anh à!

Tôi định hỏi bà thêm một câu, nhưng chưa kịp mở miệng thì bà Trang tiếp:
– Anh Hải à! Nếu em có một việc đáng buồn nào đó muốn tâm sự cùng anh thì anh có chịu nghe không?
Tôi trả lời không do dự:
– Nghe chứ! Nhưng tôi sợ không giữ được bí mật khi nghe những điều ấy!
Bà Trang thở dài nói:
– Thực ra cũng chả có gì bí mật cả.

Bà vừa nói dứt câu thì gục đầu xuống bàn khóc nức nở. Tôi đâm hoảng, bối rối không biết phải ứng xử thế nào trước sự việc xẩy ra đột ngột thế này.
Tôi còn đang ngồi chết trân thì bà Trang ngước mặt lên vừa đưa tay quẹt nước mắt vừa thì thầm qua hơi thở:
– Anh lên gác với em được không?
Tôi nghĩ thầm “Chết mẹ! không lẻ bà ta muốn… Nhưng nếu muốn thì ở đây cũng được, cần gì phải lên trên ấy”.
Tôi nhìn bà gật đầu nhưng trong thâm tâm có một chút băn khoăn, ngần ngại. Đây là lần đầu tiên bà mời tôi lên nhà.

Bà Trang mở cửa rồi vói tay vặn nút điện.
Ánh sáng từ chiếc đèn màu vàng nhạt trên trần nhà tỏa xuống một thứ ánh sáng yếu ớt, nhờn nhợn nhưng cũng đủ cho tôi quan sát tường tận mọi vật bày biện trong nhà.

Tôi để ý đến cái kệ thờ bằng gỗ, sơn màu đỏ gắn trên tường nhà. Trên kệ thờ là ảnh một người đàn ông còn khá trẻ, khoảng ba mươi, ba mươi lăm gì đó. Phía trước tấm ảnh là một lư hương bằng đồng, đầy ắp chân nhang.

Bà Trang loay hoay trong bếp một hồi rồi bưng ra ba ly cà phê. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra ngay. Bà Trang lấy một ly để lên kệ thờ rồi đốt nhang cắm vào lư hương.
Bà làm mấy việc này một cách tự nhiên và thành thạo. Bà nhìn tôi với một chút ngạc nhiên hỏi:
– Anh Hải làm gì mà ngồi thừ người ra vậy?
Tôi lúng túng chưa kịp trả lời thì bà chỉ ly cà phê nói tiếp:
– Mời anh. Em không biết uống cà phê, nhưng hôm nay trời lạnh, em uống với anh một ly.
Tôi tò mò:
– Không biết uống mà sao chị có sẵn cà phê trong nhà vậy?
Bà Trang trả lời một cách tự nhiên:
– Dạ hôm nay là ngày giỗ anh Lượng, hồi nãy, trên đường về, em ghé chợ mua một gói để cúng anh ấy.
Tôi tò mò hỏi:
– Anh Lượng nào vậy?
Bà Trang vừa đưa tay chỉ lên kệ thờ vừa trả lời hồn nhiên như một đứa bé:
– Ảnh đó, chồng em đó.
Tôi “ồ” lên một tiếng rồi lảng sang chuyện khác:
– Mấy tháng rồi chị Trang đi đâu vậy?
Bà Trang trả lời ngay, không một chút suy nghĩ:
– Em đi lấy chồng.
Tôi chưng hửng. Ngồi trân. Bà Trang nói tiếp:
– Mà không được đâu anh à, thà ở vậy còn sướng hơn.

Bà Trang nói như để phân bua, còn tôi thì như một quả bóng, bị bà ta “nhồi” tới “nhồi” lui đến tối tăm mày mặt!
Một phút im lặng. Mỗi người đang theo đuổi một ý nghĩ riêng.

 

Bỗng dưng bà Trang giương cặp mắt tròn xoe nhìn tôi nói nhanh:
– Mấy hôm trước em có về nhưng không gặp anh. Em về để thắp nhang cho anh Lượng và sơn lại cái kệ thờ. Hôm đó em lu bu quá nên để quên cái hộp sơn ở trước nhà bị trời mưa trôi đi hết lại còn bị office cằn nhằn đòi em phải kêu người đến “clean!”

Tôi ngớ người lẩm bẩm: “Thì ra là vậy!” Bà Trang nhìn tôi ngơ ngác:
– Anh lầm bầm cái gì đó?
Tôi nói nhanh:
– Ờ không, tôi định hỏi chị Trang chừng nào đi lại?
Bà Trang thở dài sườn sượt nói:
– Còn đi đâu nữa, em sợ quá rồi.

Những câu úp mở của bà Trang càng gợi thêm tính tò mò của tôi. Tôi quyết định, từ Trang, phải khám phá cho bằng được những việc kỳ quái mà mấy tháng nay nó luôn ẩn hiện trong đầu tôi:
– Chị Trang à! Có việc này tôi hơi tò mò một chút, chị đừng giận nhé.
Bà Trang nhìn tôi với vẻ thản nhiên:
– Anh cứ hỏi, có sao đâu!
Tôi mạnh dạn hỏi:
– Chị nói đi lấy chồng sao còn tính về đây ở luôn?
Bà Trang trả lời một cách tự nhiên, thật thà:
– Chuyện hơi dài dòng, anh chịu khó ngồi nán lại một chút nhé.
Cách đây khoảng năm sáu tháng gì đó, tình cờ em gặp một người đàn ông. Nhà ông ta ở cách đây chừng một giờ lái xe. Ông ta là chủ một công ty sản xuất đồ gỗ. Ông ta vung vãi tiền bạc để chinh phục em.
Nhắc đến thật xấu hổ. Lúc đó em bị tiền bạc làm mờ mắt nên đồng ý gả cho ông ta.

Tuy đã làm vợ người ta, nhưng hình ảnh của anh Lượng không làm cách nào xóa mờ trong tâm hồn em được. Vì vậy, em quyết định dùng số tiền moi được từ người chồng mới này để trả tiền hàng tháng cho căn chung cư hầu duy trì nơi thờ phụng anh ấy được tháng nào hay tháng đó.
Nào ngờ, người chồng mới này của em là một người ghen bậc nhất trên đời. Ông ta kềm kẹp, giám sát, theo dõi em còn hơn một người tù, thậm chí còn cấm không cho em nói chuyện điện thoại với bất cứ người nào.

Tuy vậy, thỉnh thoảng, em cũng tìm cách lén về nhà dọn dẹp đồ đạc, thắp nhang cho anh Lượng rồi trở về ngay. Những lần như vậy, em biết anh có ở nhà, nhưng không dám quấy rầy giấc ngủ của anh.
Với cái cảnh sống như ở tù này làm tinh thần em sa sút trầm trọng, cho đến sáng hôm nay, như tức nước vỡ bờ, em tranh cãi với ông ta một trận dữ dội rồi cuốn gói trở về đây.

Nghe bà Trang kể xong, tôi thở phào nhẹ nhõm. Đồng hồ trên tường gõ nhẹ 12 tiếng. Tôi thấy ngồi thêm bất tiện nên cáo biệt bà Trang ra về với một niềm vui thấp thoáng trong lòng…

Nguyễn Đức Nhơn
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 23/Jul/2020 lúc 8:24am

Tiểu Thu


Người%20ngày%20xưa%20–%20Làng%20Mai



Nhận được điện thư của bà chị dâu báo tin sức khỏe của mẹ không được tốt lắm, Mỵ Khanh bàn với chồng năm nay nàng về ăn Tết với mẹ một tháng.


Nam, chồng Mỵ Khanh thì nhất định không về Việt Nam, khi mà đất nước vẫn còn dưới ách thống trị của Bắc quân!

Với số tuổi tám mươi chín, bà Tân đã như ngọn đèn sắp hết dầu. Tuy chỉ hơi bị lẫn, nhưng bà vẫn ăn ngủ bình thường, nói cười sang sảng. Thỉnh thoảng lên cơn suyễn, nhờ có thuốc của người anh rể Mỵ Khanh từ Canada gửi về nên không có gì đáng ngại.
Hai năm nay cặp chân yếu hẳn nên bà ngồi một chỗ. Mỵ Khanh đã gọi về bao nhiêu lần, nói mẹ phải đi lại thường xuyên thì các bắp thịt mới không bị teo. Bà nhất định không nghe vì bị té nhiều lần khiến bà sợ hãi.

Trước khi đi một tuần nàng ăn ngủ không yên. Viết giấy dán trên tủ lạnh dặn dò con gái một tuần hai lần tưới cây cối và chừng ba mươi giò lan cho mẹ.
Con gái la trời vì mẹ cứ dặn đi dặn lại thứ nào một tuần hai lần, thứ nào một tuần một lần, thứ nào phải xịt nước lên lá. Còn một số cây kiểng để trong garage…vv…và vv…khiến con bé cứ lộn tùng phèo.

Sau cùng Mỵ Khanh đành thở dài, tự an ủi đến đâu hay đến đó. Cây nào may mắn thì sống. Không đủ may thì nghẻo!
Nam thì mỗi chiều chịu khó ghé nhà con gái ăn cơm. Nếu không anh ta dám nhịn ăn, vì tài nấu bếp chỉ hạn chế ở món trứng chiên ốp la (đôi khi khét!)!

Thấy vợ lo lắng Nam chép miệng:
– Em cứ lo con bò trắng răng. Cưng quên là hồi xưa anh đi hành quân liên miên, khi trong rừng, lúc trên núi. Lính tráng đánh giặc ăn toàn lương khô khó nuốt, vậy mà anh vẫn sống hùng, sống mạnh.
Em đi có một tháng mà cứ lo anh chết đói. Yên chí về thăm mẹ cho vui vẻ. Bảo đảm lúc em trở qua, anh vẫn còn sống nhăn.
(Nam đổi giọng tếu), mà không chừng vắng cô Bắc Kỳ nho nhỏ (của ngày xửa ngày xưa!), không phải hằng ngày nghe cái điệp khúc “anh phải ăn cái này, anh phải uống cái kia. Ý, không được làm cái nọ, nguy hiểm cho sức khỏe lắm….” anh sẽ… trẻ ra cả chục tuổi!

Mỵ Khanh háy chồng, mắt có đuôi:
– Xí, tại người ta lo cho mình chứ bộ! Được rồi. Cho mấy người tự lực cánh sinh. Ít bữa coi có cần bà già này không. Chỉ sợ có lúc sẽ năn nỉ tui mau mau trở qua… Chừng đó biết tay tui nha!
Nam cười cầu tài:
– Đùa thôi. Anh lúc nào chẳng cần đến bàn tay ngà ngọc của em săn sóc.
Mỵ Khanh cười:
– Vậy mới là người thức thời! Các ông sổng vợ ra là… hỏng ngay!
– Thôi, thôi, biết rồi. Khổ lắm nói mãi! Anh chịu thua!
Vợ chồng Mỵ Khanh là thế. Hơi khắc khẩu nhưng yêu nhau thắm thiết. Ngày xưa Nam đã theo đuổi nàng khổ sở mới lấy được. Ở ngoại quốc trai thừa gái thiếu mà lị!

Hai ngày trước khi lên đường, xem TV thấy bên New York và Boston chìm ngập dưới tuyết.
Bao nhiêu chuyến bay bị dời lại, Mỵ Khanh lo quá.
Lần này phi cơ sẽ ngừng ở phi trường Chicago trước khi tiếp tục đi Hồng Kông và trạm cuối là Phi trường Tân Sơn Nhất.

May mắn đến ngày cuối, Chicago nắng đẹp. Nhưng phải ra phi trường lúc ba giờ sáng khiến Mỵ Khanh lo lắng thức luôn không dám ngủ.
Mỗi lần qua đoan Mỹ là bực mình hết sức. Mặt mày mấy anh chàng nhân viên lạnh tanh, không thua khí hậu ngoài trời là mấy. Hình như nhìn ai họ cũng thấy toàn là dân… khủng bố.

Tháng vừa qua, vợ chồng Mỵ Khanh sang Mỹ thăm người bạn bị bệnh nặng, Nam bị bắt đi qua máy scanner.
Chàng bất mãn, vì mỗi lần qua cái máy này, trong người bị nhiễm không nhiều thì ít chất phóng xạ!
Trước khi chia tay, Mỵ Khanh căn dặn chồng đủ thứ. Nam gật đầu lia lịa cho vợ an lòng. Ôi, đàn bà Việt Nam! Lúc nào cũng chỉ biết lo cho chồng con. Họ vui vẻ, hạnh phúc là các bà vui vẻ hạnh phúc!

Phi trường Chicago rộng mênh mông, nhưng được chỉ dẫn chu đáo.
Tìm đến phòng đợi, nàng gặp vài người quen cũng về Việt Nam ăn Tết. Người đến từ Florida, kẻ đến từ Minnesota. Trẻ con chạy rần rần, người lớn thì người nằm kẻ ngồi la liệt.

Nói chuyện cười hỉ hả thoải mái. Mỵ Khanh nhớ lần chuyển máy bay từ phi trường Charles De Gaulle bên Pháp, nàng đã gặp những gia đình Việt nam đi lao động từ Bắc Âu về Việt Nam ăn Tết.
 Trẻ con độ ba đến sáu bảy tuổi rượt đuổi nhau, la hét ầm ĩ. Chúng giựt những chiếc điện thoại công cộng từ trên giá xuống chơi. Sau đó bỏ treo tòng teng. Thế mà bố mẹ chúng vẫn bình thản nhìn đàn con chơi đùa như đang ở nhà mình.

Những người ngoại quốc ngồi đó thì cau mày khó chịu! Mỵ Khanh không còn ngạc nhiên khi thấy nhiều người Việt Nam không còn dám nhận mình là người Việt khi người ngoại quốc có hỏi!

Đẩy xe hành lý ra ngoài trong cái nóng hầm hập, tuy đã là cuối tháng mười hai.
Mỵ Khanh nhìn dáo dác. Những tiếng gọi mừng rỡ “Cô. Cô. Tụi con đây nè!” khiến nàng quên hết mệt nhọc, sau hai mươi tiếng đồng hồ ngồi trên ba chuyến bay.
Các cháu, con người anh quá cố của Mỵ Khanh, chạy đến vây quanh cô. Nàng nhìn các cháu lòng rưng rưng. Khi nàng rời khỏi đất nước thì có đứa còn chưa ra đời. Thế mà giờ đây đứa nào cũng con cái đề huề.

Mỵ Khanh lên chiếc taxi bảy chỗ ngồi cùng các cháu về nhà. Bà chị dâu ngoài sáu mươi, năm nay tóc đã bạc nhiều hơn bốn năm trước.
Mỵ Khanh thương chị vô cùng. Không hiểu sao ông anh duy nhất của nàng lại ham con đến thế. Hai anh chị hợp đồng sản xuất cả thảy một chục mười hai!

Nàng nhớ ngày xưa, chị lúc nào cũng đầu tắt mặt tối, không khi nào ngơi với đàn con mười hai đứa. Có món ngon vật lạ gì đều nhường cho chồng, cho con. Thế mà vẫn bị mẹ chồng bắt ne bắt nét.
Bà Tân mong con gái về, nên dù đã hơn mười một giờ bà vẫn còn thức để chờ. Mỵ Khanh xót xa khi thấy mẹ gầy hơn trước. Nàng ôm mẹ giọng nghẹn ngào:
– Lần này con thấy mẹ gầy hơn trước. Mẹ ăn ngủ không được sao?
Bà Tân cười móm mém:
– Mẹ già rồi ăn ngủ ngày càng ít đi con ạ. Không sao đâu, mẹ khỏe lắm. Con về chơi được bao lâu?
– Con về thăm mẹ một tháng. Đáng lẽ ở lâu hơn, nhưng cháu Mỵ Hoa sắp sinh, con phải về sớm.
Bà Tân nhìn sang chị Tiến, chị dâu Mỵ Khanh, cười sung sướng:
–Thế là tôi lại có thêm cháu cố. Phúc đức quá!

Chị Tiến hối con dọn phở gà cho cô ăn trước khi đi ngủ. Lần này đi hãng United Airline cho ăn tệ quá nên Mỵ Khanh ăn tô phở gà (nhất là gà đi bộ, da vàng ươm, thịt dai chứ không bở rệp như gà công nghiệp) một cách ngon lành.
Cả nhà nói chuyện đến hơn một giờ đêm mới chịu đi ngủ. Mỵ Khanh ngủ một giấc ngon lành đến 7 giờ mới dậy.
Lúc bước ra khỏi phòng, mùi thức ăn thơm phức khiến nàng thấy đói bụng cồn cào. Cả nhà đã thức từ lâu và đang dọn ăn sáng. Chị Tiến hỏi:
– Cô ngủ ngon không? Chắc trái giờ còn khó chịu lắm.
Mỵ Khanh suýt soa:
– Chà thơm quá! Mấy hôm trước khi về tới đây mất ngủ, nên đêm qua em ngủ ngon lắm. Chị làm món gì mà thơm thế hở chị?
Chị Tiến cười:
– Mẹ nói cô vẫn thích xôi lúa nên sáng nay chị thổi xôi lúa và bánh cuốn cho cô dùng.
Cô ngồi xuống đi. Để chị pha cà phê rồi mời mẹ ra ăn sáng luôn. Năm giờ mẹ đã thức rồi.
Mỵ Khanh vội vàng nói:
– Chị để đó em tự pha được rồi. Em uống cà phê không đường. Sợ bị mắc bệnh tiểu đường thì khổ, nên giờ hạn chế chất ngọt tối đa.

Chị Tiến cười khanh khách:
– Buồn cười thật cô ạ. Người nào ở nước ngoài về cũng ăn lạt như nước ốc. Kiêng đường, kiêng muối tối đa. Chị thì chịu thôi. Kiêng quá cũng không tốt đâu. Có khi trong người thiếu chất mặn, ngọt thì bỏ xừ!
Mỵ Khanh cũng cười:
– Ông bà ta nói “có kiêng có lành” mà chị. Thôi để em vào mời mẹ ra ăn sáng.
Chưa kịp vào thì bà Tân đã lọ mọ đi ra:
– Gớm, mới sáng mà các cô nói gì rôm rả thế? Mỵ (trong nhà gọi Mỵ Khanh là Mỵ cho gọn) ăn chưa con?

Mỵ Khanh dìu mẹ ngồi vào bàn:
– Con chờ mẹ ra mới ăn. Đêm qua mẹ ngủ ngon không? Con thì ngủ một giấc thẳng cẳng đến sáng. À, chị Tiến ơi, chút nữa em cần liên lạc với một người quen. Cô ấy ở ngoại ô xa xa. Em chỉ mới liên lạc vài ngày trước khi về đây. Cô ấy tên Kim Ngân.
– Bạn của cô hở?
– Không. Em chưa từng gặp qua. Có vài người bạn bên Canada và Mỹ nhờ em mang tiền về giúp cho các anh em thương phế binh đang sống trong hoàn cảnh khó khăn. Gọi là chút quà mọn giúp cho gia đình các anh ăn Tết ấy mà.
Cô Kim Ngân biết những người này. Em liên lạc để cô ấy dẫn em đi thăm và tặng quà.

Chị Tiến gật đầu, mặt thoáng ngậm ngùi:
– Thế thì tốt quá. Thỉnh thoảng chị đi phố gặp những người cụt tay cụt chân lê lết ăn xin ngoài đường. Trông họ nhếch nhác, rách rưới, bệnh hoạn mà muốn rớt nước mắt. Những lần đó chị đều giúp đỡ chút ít. Cô nghĩ, nhà mình lúc trước cũng đâu khá giả gì.
Bà Tân xen vào:
– Tội nghiệp họ. Con giúp họ là tích phước cho con cháu.
Mỵ Khanh cười:
– Con chỉ làm hộ cho các bạn con thôi mẹ à. Với lại “ thi ân bất cầu báo” mà mẹ!
Ba người vừa ăn vừa nhắc chuyện xưa. Anh Tiến của Mỵ Khanh mất trên mười năm rồi. Hồi xưa anh cũng ở trong quân đội một thời gian, bị thương nên được giải ngũ. Về sau anh mất vì viêm gan. Chị Tiến ở vậy nuôi đàn con và mẹ chồng. Vì thế Mỵ Khanh rất quý chị.

Ăn xong nàng gọi điện thoại cho Kim Ngân. Một giọng Huế nhẹ nhàng từ đầu giây bên kia:
– Dạ, em nghe đây!
– Kim Ngân hả? Biết ai đây không? Nghe giọng Huế nhẹ như thơ hay quá là hay! Thôi nói ngay khỏi thắc mắc nhé. Chị Mỵ Khanh đây.
Có tiếng reo vui ở đầu giây bên kia:
– Ô, chị Mỵ Khanh! Chị về hồi nào?
– Chị về tới tối hôm qua. Ngày mai em rảnh không? Chị em mình sẽ gặp nhau.
Giọng Kim Ngân ngập ngừng:
– Chị Khanh ơi, hôm trước em có báo cho các chị trường hợp anh Quân đang nằm nhà thương, hôm nay anh về nhà rồi vì bác sĩ chê. Anh bị lở loét hết cả người, máu mủ tùm lum chị ạ.
Em vào thăm mà anh cứ chảy nước mắt! Nhưng hôm qua có người bên Mỹ gửi cho anh ấy ba trăm. Vì thế chị em mình không cần phải giúp cho anh ấy nữa. Em hỏi thật chị nhe. Các anh chị định giúp bao nhiêu tiền để em tính.

Sau khi nghe con số, Kim Ngân nói:
– Vậy chúng ta sẽ giúp cho 6 anh. Mà họ ở xa lắm, tận Biên Hòa lận. Chị có thể đi đến đó được không?
Mỵ Khanh sốt sắng:
– Được chứ em. Em cứ cho địa chỉ đi. Chị sẽ đi taxi đến đó.
Kim Ngân ngập ngừng:
– Chị ơi, nếu chị em mình đi làm từ thiện, mà chi ra 600 ngàn tiền taxi thì em thấy phí quá. Số tiền này một người có thể sống cả tháng đó chị ạ.
Em nghĩ vậy nhưng còn tùy chị. À chị có thể đi xe gắn máy không chị? Từ đây lên đó độ ba mươi cây số. Đi về vị chi là sáu mươi cây.

Mỵ Khanh giật mình, tự thấy ngượng nên vội nói:
– Nếu vậy cách tốt nhất là Kim Ngân đến nhà, rồi chị sẽ đưa tiền. Tùy em muốn cho ai cũng được nhé.
 – Thế thì độ hai tiếng nữa em đến chị nhé. Em phải nhờ người trông hai đứa cháu nội rồi mới đi được.
Hôm nay con dâu em đi làm chị ạ. Mà chị ơi, chị đưa tiền cho em như vậy chị không sợ sao?
– Sợ gì cơ? Sợ em giật hả? Chị sẽ níu áo anh Hưng bên Mỹ.
Hai chị em cười dòn dã. Kim Ngân có người anh lớn bên Mỹ. Anh Hưng sang theo diện HO.

Trong gia đình có hai người anh tử trận. Một người trận Bình Giả, một người trận Bình Long nên Kim Ngân rất thương các anh thương phế binh. Lúc nào rảnh là cô đi tìm các anh để cho tiền.

Khi thấy trường hợp nào thê thảm quá thì cô liên lạc với anh trai bên Mỹ, nhờ anh vận động bạn bè xin giúp. Vợ chồng Mỹ Khanh quen Hưng qua một người bạn thân của Mỵ Khanh.
Nghe nàng về, cô bạn mừng quá, gửi điện thư nhờ Mỵ Khanh cầm tiền về. Nàng liên lạc vài lần với Kim Ngân. Thế là quen.

Lúc cô cháu gái mở cửa mời khách vào, Mỵ Khanh không khỏi ngạc nhiên vì Kim Ngân đứng trước mặt nàng trẻ và xinh đẹp hơn nàng tưởng tượng.
Hai chị em tay bắt mặt mừng. Mỵ Khanh không khỏi ái ngại vì Kim Ngân phải đổi vài chuyến bus mới tới đây.
Nghe Mỵ Khanh nói, Ngân cười hiền lành:
– Nếu được làm hơn thế nữa em cũng làm chị ạ. Nhìn các anh thương lắm cơ. Những người ở thành phố nhận được giúp đỡ thường, nhưng các anh ở xa, có người từ mấy chục năm qua vẫn không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào từ nước ngoài.
Hôm qua em phải lên chùa Từ Quang tìm anh Thân. Anh cụt hai chân, một tay không xử dụng được.
Hằng ngày anh xin ăn trong thành phố. Chỉ cuối tuần mới lên xin trên chùa. Chùa ở xa, anh lại cụt hai chân nên không đi bus được. Lần nào cũng đi xe ôm. Có ngày xin không đủ trả tiền xe ôm nữa đó chị. Thế là đói!
Mỵ Khanh kêu lên:
– Sao ông xe ôm không chở dùm mà lấy tiền?
Kim Ngân cười khổ:
– Chị ơi, ông xe ôm cũng phải sống chứ. Chở dùm lấy tiền đâu nuôi vợ con hở chị?
Mỵ Khanh thấy yêu tiếng “Chị ơi” của Kim Ngân quá. Nàng tò mò: – Thế em có tìm ra anh Thân không?

– Có chị ạ. Em đã tìm ra và chụp hình để làm hồ sơ.
Hy vọng anh được bên đó giúp đỡ. Chỉ có điều địa chỉ hơi rắc rối. Anh hiện được tá túc trong một góc sân của một gia đình. Không biết nếu xin được, tiền gửi về địa chỉ này, người ta có đưa cho anh không.
– Chắc có chứ em. Tình cảnh anh ai mà đành lòng!
– Chị ơi, mãnh lực đồng tiền lớn lắm. Ở đây giết người vì chút tiền không hiếm đâu ạ.

Mỵ Khanh nói:
– Bần cùng sinh đạo tặc phải không em. Bây giờ thế này. Chị đưa số tiền chị nói hôm qua cho em. Em cứ tự nhiên giúp ai thì giúp. Khi nào rảnh em đưa chị đi thăm vài anh ở gần đây. Chị sẽ giúp thêm em nhé.

Kim Ngân vui vẻ:
– Được chị ạ. Ngày mai nếu chị rảnh, em đưa chị đi thăm anh Vũ Tuân. Anh ở gần nhà thương Thống Nhất. Là nhà thương Vì Dân cũ đó chị.
Anh này bị thương nằm một chỗ từ tháng hai năm 75. Nửa người anh, từ thắt lưng trở xuống không còn cảm giác. Anh nằm một chỗ với chiếc ống nhựa nối bàng quang với một túi ny lông chứa nước tiểu. Đã hơn ba mươi năm như thế.
Tuy nhiên tinh thần anh rất vững. Anh sáng tác thơ, làm PPS… gửi lên mạng khắp thế giới. Ngày mai chị đến thăm chắc anh mừng lắm. Mấy khi có người từ ngoại quốc về thăm.

Mỵ Khanh vui vẻ:
– Vậy ngày mai chị em mình hẹn gặp nhau trước cửa bệnh viện Thống Nhất nhé. À, Kim Ngân thấy anh ấy cần gì để chị mua mang đến?
– Anh Tuân nằm một chỗ nên cần hai loại thuốc viên làm từ nguyên liệu thiên nhiên. Viên gấc và viên tảo. Theo em biết, viên tảo là một dạng rong biển giúp anh đi cầu thông.
Anh Tuân nằm một chỗ nên ruột làm việc yếu lắm. Anh cần uống loại này hằng ngày. – Chị sẽ biếu thêm cho vợ anh ấy một chai dầu gió xanh. Chị thấy bên này rất chuộng dầu gió xanh.

Giọng Kim Ngân bỗng ngậm ngùi:
– Tội nghiệp chị Cúc. Tiếng là lấy chồng chứ thật ra vì thương hoàn cảnh của anh Tuân mà chị ấy về ở chung để săn sóc cho anh ấy, chứ bại liệt như anh Tuân, chị Cúc còn trông mong gì nữa?
Em nghe nói mấy hôm nay chị ấy về quê thăm mẹ bệnh. Nhà chỉ có đứa cháu trông nom anh Tuân. Ngày mai mười giờ chị nhé.

Kim Ngân đi rồi, Mỵ Khanh bỗng thấy bâng khuâng. Vũ Tuân! Cái tên này gợi cho nàng một trời kỷ niệm. Của thời con gái. Vũ Tuân là mối tình đầu của Mỵ Khanh.
 Hai người gặp nhau trong một buổi chiều mưa.
Sài Gòn mưa tháng sáu. Năm bảy tư, Mỵ Khanh đang học Văn Khoa năm thứ nhất.
Hôm đó nàng cần mua cuốn sách nên ghé nhà sách Khai Trí. Hai bàn tay cùng đưa tới một lượt, cầm cùng cuốn sách. Một cách bất ngờ. Một bàn tay với những ngón thuôn dài trắng nuột nà và một bàn tay gân guốc phong sương.

 

Mỵ Khanh giật mình rụt tay lại, nhìn qua bên cạnh và bắt gặp một cặp mắt sáng rực đang nhìn nàng. Nụ cười lộ hàm răng trắng đều trên khuôn mặt rám nắng của chàng trai:
– Xin lỗi cô. Tôi thật vô ý!
Mỵ Khanh ngượng ngùng:
– Dạ không có chi. Hôm khác tôi mua cũng được.
– Hình như cô cần cuốn sách để học phải không?
Cô lấy đi. Tôi mua chỉ để đọc thôi. Không có cuốn này thì cuốn khác.
Mỵ Khanh ngạc nhiên: – Sao ông biết tôi mua để học?
Chàng cười ranh mảnh:
– Chiếc cặp của cô nói cho tôi biết đấy.
Mỵ Khanh đỏ hồng đôi má:
– Tôi… tôi…

Chàng nhìn sâu vào mắt người con gái xinh thật xinh. Trong tà áo dài lụa đơn sơ màu thiên thanh, mái tóc dài óng ả, nổi bật đôi mắt to mơ màng trên khuôn mặt bầu bĩnh chưa mất hết vẻ trẻ thơ.
Chàng bỗng mỉm cười, đôi mắt nhìn nàng trở nên nồng ấm:
– Đợi tôi một tí nhé. Nhớ đừng đi trước khi tôi trở lại đấy.
Không đợi Mỵ Khanh trả lời, chàng cầm cuốn sách đi nhanh lại quầy trả tiền. Ít phút sau trở lại, đưa túi xách cho Mỵ Khanh:
– Cầm đi cô bé. Cố học cho thật giỏi nhé. Hy vọng một ngày nào đó chúng ta sẽ gặp lại. Xin chào.
Chàng quay gót và Mỵ Khanh đứng đó như trời trồng, ngẩn ngơ với cuốn sách trên tay. Không thốt được nửa lời.

Trời ơi, cô bé kêu thầm, có chuyện này thật sao? Mình sẽ gặp lại chàng một ngày nào đó?
Mỵ Khanh lắc đầu, chớp chớp cặp mắt để trấn tỉnh. Người đâu mà lạ quá, không giống bất cứ người con trai nào nàng quen trước đây.
Rồi cô bé cũng mỉm cười, cặp mắt trở nên mơ màng và trái tim non bỗng đập những nhịp bất thường.

Mỵ Khanh còn đứng đó thì chàng bỗng lại hiện ra, bằng xương bằng thịt trước mắt, cười cười:
– Ông Trời không muốn tôi xa cô bé rồi.. Ngoài kia đang mưa to. Tôi lại không đem theo áo mưa. Chúng ta tiếp tục trò chuyện trong khi chờ cơn mưa dứt hạt nhé. Tôi tên Tuân. Còn cô bé?
Mỵ Khanh cắn môi, ngập ngừng vài giây rồi quyết định:
– Tôi tên Mỵ Khanh!
Tuân kêu lên, giọng vừa ngạc nhiên vừa thú vị và đầy ngưỡng mộ:
– Mỵ Khanh. Tên đẹp quá và thật hợp với cô bé.

Mỵ Khanh mím môi bất mãn. Dám gọi người ta là cô bé. Có lẽ đoán được tâm trạng người con gái trước mặt, Tuân mỉm cười:
– Xin lỗi… Mỵ Khanh. (Ừ nhỉ, tên đẹp như thế không gọi thì… phí quá. Chàng nghĩ thầm).
Tôi là lính trong binh chủng Biệt Động Quân. Tôi được nghỉ phép ít hôm nên mới có mặt nơi này.
Có lẽ hôm nay là ngày may mắn của tôi, vì được làm quen với một người con gái… xinh nhất thủ đô.

Mỵ Khanh cau mày, trách móc:
– Ông nói xạo! Tôi rất tầm thường…
Tuân cười xòa:
– Không nhất thì nhì vậy nhé. Nhưng thật tình đối với tôi, cô bé là người xinh nhất.
Tuy ngoài miệng phản đối, nhưng trong thâm tâm Mỵ Khanh thấy vui vui. Cô gái nào không vui khi được khen đẹp?

Thế là nhờ cơn mưa mùa hạ mà họ quen nhau, rồi yêu nhau. Những buồn vui, giận hờn, nhớ nhung nối tiếp. Tuân miệt mài với chiến trận và Mỵ Khanh vẫn cắp sách đến trường.
Họ dự định khi nàng ra trường thì cưới nhau. Cả một tương lai ngọt ngào trước mặt.
Nhưng Tháng Tư Bảy Lăm đã khiến họ chia lìa vĩnh viễn. Mỵ Khanh theo gia đình xuống tàu Đại Hàn ra khơi, trong khi đó Tuân đang kẹt ở miền Tây….

Hôm sau với tâm trạng bồn chồn, Mỵ Khanh đến nơi hẹn với Kim Ngân. Hai chị em đi vào con hẻm khá rộng. Kim Ngân bảo cô đến thăm Vũ Tuân hầu như hàng tuần, để mang hồ sơ của các thương phế binh đến nhờ Tuân chuyển bằng e-mail ra ngoại quốc.
Vũ Tuân dù nằm một chỗ nhưng với tinh thần quyết đấu, anh đã mày mò học xử dụng máy vi tính thật thành thạo và giúp các đồng đội cũ với tất cả tấm lòng và nhiệt tâm của anh.

Nhìn thấy con hẻm rộng với nhà cửa khang trang. Những ngôi nhà nhiều tầng khiến Mỵ Khanh không khỏi thắc mắc. Nếu Tuân nghèo sao lại có thể ở trong khu nhà cao cửa rộng này. Nhưng chưa kịp hỏi thì Kim Ngân nói: – Mình đến rồi chị. Nhà anh Tuân bên kia.

Thì ra, chen vào giữa những căn nhà lầu đẹp đẻ còn có một căn nhà nho nhỏ, mái tôn.
Kim Ngân tự động mở cửa mời Mỵ Khanh vào.
Gian trước trống trơn, có một chiếc xe máy, nghe nói của cháu vợ Tuân. Vì cô ấy đi vắng nên nhờ cháu đến trông dùm. Nhưng hình như anh ta đã đi đâu đó.

Kim Ngân và Mỵ Khanh đi vào căn phòng phía sau. Kim Ngân nói to: – Anh Tuân ơi có khách phương xa đến thăm.
Trong ánh sáng lờ mờ hắt vào từ khuôn cửa sổ, Mỵ Khanh thấy hình dáng một người đàn ông rất gầy nằm trên chiếc giường nhỏ, nửa thân dưới đắp chiếc chăn mỏng.
Thấy khách vào, ông với tay lên sợi giây phía đầu giường kéo chiếc mành cho căn buồng sáng hơn.

 Mỵ Khanh tiến đến bên giường, nghiêng đầu nhìn.
Tim nàng nhói đau. Cũng cặp mắt ấy, tuy kém tinh anh, nhưng vẫn ánh lên nét thông minh. Vầng trán rộng, mái tóc bây giờ muối nhiều hơn tiêu.
Đúng là Tuân của nàng ngày xưa. Chỉ khác là tấm hình hài quá tiều tụy. Mỵ Khanh không nhịn được, nghẹn ngào:
– Anh Tuân!
Người đàn ông giật mình, chăm chú nhìn, bỗng kêu lên thảng thốt:
– Mỵ Khanh! Phải Mỵ Khanh không?

Sự bất ngờ khiến chàng đưa cánh tay về phía Mỵ Khanh một cách vô thức.
Như một người sắp chết đuối định với một chiếc phao. Mỵ Khanh ngồi thụp xuống, cầm bàn tay gầy gò của chàng, thổn thức:
– Sao anh ra tới nông nỗi này? Sau khi sang Canada, em đã hỏi biết bao nhiêu người quen, nhưng không ai biết tin tức gì của anh cả. Em nghĩ là anh đã…
– Đã chết phải không?

Tuân cười buồn, tiếp lời Mỵ Khanh. Anh cũng tưởng mình chết biết bao nhiêu lần. Nhưng trời Phật vẫn còn thương nên anh mới sống tới ngày hôm nay.
Coi kìa, đừng khóc. Sưng cặp mắt đẹp bây giờ. Anh không ngờ mình còn được may mắn gặp lại em.
Mỵ Khanh lau những giọt lệ đang lăn dài trên má:
– Em cũng vậy. Khi nghe Kim Ngân nói tên anh, em đã hy vọng là anh thật.

Kim Ngân từ trong bếp bước ra với khay nước mời khách. Thấy Mỵ Khanh đang cầm tay Tuân, cặp mắt đỏ hoe, vội hỏi:
– Ủa, hai anh chị quen nhau à?
Tuân cười:
– Mỵ Khanh và anh quen nhau trước bảy lăm.
Kim Ngân cười ranh mãnh:
– Thì ra là cố nhân!
Mỵ Khanh phân trần:
– Năm bảy lăm chị theo gia đình rời Việt Nam bằng tàu Đại Hàn. Sau đó sang định cư Canada và mất tin tức anh Tuân từ đó đến nay.
 Thật bất ngờ cho chị khi gặp lại anh trong tình cảnh này! Thú thật chị vừa mừng cũng vừa đau lòng quá em ạ!

Nói xong Mỵ Khanh lại rơm rớm nước mắt. Tay nàng vẫn nắm chặt bàn tay gầy gò của Tuân.
Chàng để yên và nhìn Mỵ Khanh với cặp mắt thật thiết tha:
 – Anh cám ơn trời Phật đã dun rủi cho em đến với anh hôm nay. Biết bao lần anh từng mơ thấy em.
Được nắm tay em một lần như hôm nay là anh mãn nguyện. Anh nghĩ là em đã có một gia đình rất hạnh phúc phải không? Anh ấy thế nào?

Mỵ Khanh gật đầu:
– Nam là một người chồng tốt. Anh ấy rất yêu em. Chúng em có hai con. Một trai một gái.
Khi em sang Canada, lúc đầu vừa đi học vừa đi làm. Cày cục mãi cũng lấy được mãnh bằng kế toán.
Em đi làm cho một công ty kế toán lớn và nơi đây em đã gặp Nam. Em lập gia đình suýt soát ba mươi năm rồi.
 – Thế mà vẫn trẻ trung và xinh đẹp như ngày xưa. Chỉ hơi đẫy người ra một tí. Nhưng càng đẹp!
– Anh không thay đổi tí nào. Vẫn miệng lưỡi ngọt như mật!
Tuân cười, nheo mắt:
– Vì thế ngày xưa mới có một cô bé tên Mỵ Khanh chịu yêu anh lính quèn phải không? (Và Tuân đổi giọng nghiêm nghị) Anh chỉ đùa cho vui thôi, em đừng hiểu lầm nhé. Thân phận anh ngày hôm nay chỉ là một kẻ tật nguyền, một người vô dụng.

Mỵ Khanh vội cướp lời:
– Không, anh đừng nói thế. Tuy không còn nguyên vẹn như xưa, nhưng dù nằm một chỗ, anh vẫn giúp được những bạn bè hoàn cảnh bi đát hơn anh kia mà. Em nghe Kim Ngân kể, có những anh vừa mất cả hai chân, vừa mù cả hai mắt, còn đeo thêm bệnh tâm thần. Anh như thế này phải kể là còn may mắn anh ạ.

Tuân kể, giọng uất nghẹn:
– Em chưa biết anh đã sống như thế nào sau ngày mất nước đâu. Những tù cải tạo như anh, có bị thương nặng cỡ nào cũng bị họ xem như đống giẻ rách.
Anh đã từng chết đi sống lại hàng trăm lần. Bị thương bầm dập từ thắt lưng trở xuống, nằm một chỗ đến nỗi lở loét cả người, máu mủ bê bết.

Mà thôi, nhắc lại làm gì cho mất vui phải không em. Có ai ngờ chúng mình còn có cuộc hội ngộ ngày hôm nay.
Mỵ Khanh đau xót, nước mắt rưng rưng:
– Kể cho em nghe hoàn cảnh của anh sau ngày em ra đi…
Tuân mỉm cười, giọng đầy yêu thương:
– Vẫn mau nước mắt như xưa! Ừ, để anh kể lại em nghe khúc phim dĩ vãng đầy thương đau của anh…

… Sau ngày Quân đội miền Nam tan đàn rã nghé, Tuân đã luồn lách từ miền Tây về Sài Gòn và tìm đến nhà người yêu thì cửa đã đóng im ỉm.
Hàng xóm cho biết cả gia đình đã ra đi hôm hăm tám tháng Tư.
Với cõi lòng tan nát, chàng về nhà trên khu Lăng Cha Cả tá túc với mẹ.
Khi ra trình diện chàng bị bắt đi học tập cải tạo như tất cả quân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
Trong một lần đi gỡ mìn, trái mìn nổ tung khiến thân thể chàng bị thương trầm trọng. Hai người khác bị tử vong.
Trong những ngày chiến đấu với tử thần, sự đau đớn khốc liệt khiến Tuân có ý nghĩ chẳng thà chết quách như hai người kia mà khỏe thân hơn.

Nhưng rồi tất cả cũng qua đi. Giòng sông đời vẫn lạnh lùng trôi. Cuốn theo những mảnh đời bèo bọt. Không thể làm gì để thay đổi, chàng đành chấp nhận sống những tháng ngày khổ ải, chán chường.
Cho qua ngày đoạn tháng. Cho hết một kiếp điêu linh.
Mỗi khi hồi tưởng lại chàng không khỏi rùng mình. Dưới chế độ này, thân phận người Thương phế binh của chế độ cũ như chàng không hơn một con vật.

Họ sống lây lất khắp hang cùng ngõ hẻm, nhờ vào lòng từ tâm của ông đi qua bà đi lại. Chàng không hề có ý định hỏi thăm bất cứ ai để tìm lại Mỵ Khanh, khi nhìn lại cơ thể tật nguyền của mình.
Tìm làm gì? Yêu là hy sinh. Là mong cho người yêu được hạnh phúc. Vì thế chàng phải vĩnh viễn biến ra khỏi cuộc đời Mỵ Khanh.

Những giọt nước mắt nóng hổi rớt xuống bàn tay gầy guộc khiến Tuân choàng tỉnh.
Chàng nhìn người thiếu phụ đang nắm bàn tay xương xẩu của mình, những giọt nước mắt vẫn tiếp tục rơi khiến chàng xót xa.

Tuân cố cười thật tươi:
 – Nhưng hôm nay anh vui lắm. Được gặp lại em, dù một lần là anh mãn nguyện. Càng vui hơn khi biết em hạnh phúc với chồng con.
Mỵ Khanh, chuyện chúng mình đã là dĩ vãng. Em yên tâm, anh không hề đòi hỏi em bất cứ chuyện gì. Cứ xem nhau như bạn bè thân thiết và quên đi những ngày hoa mộng xưa.

Giọng Mỵ Khanh nghẹn ngào:
– Em cám ơn anh. Em cũng hiểu, những gì đã qua không thể quay lại. Vậy trong thời gian em còn ở đây, anh cho phép thỉnh thoảng em đến thăm anh.
Về bên kia, em sẽ thường xuyên gửi E-mail. Nhưng không biết có phiền lòng chị ấy hay không?

Tuân cười, giọng bỗng reo vui:
– Mỵ Khanh đừng lo. Cúc vì cám cảnh mà chịu lấy anh. Em xem, anh đem lại gì cho cô ấy? Cúc rất dễ thương, có tấm lòng Bồ Tát.
Suốt đời anh chỉ biết cắn cỏ ngậm vành, tri ân cô ấy. Nếu không chê, Tết này em đến ăn một cái Tết nghèo với gia đình anh.
Mỵ Khanh nhìn Tuân, ánh mắt đầy trách móc:
– Phải nói là em được hân hạnh đến ăn Tết với anh chị. Anh yên tâm, em sẽ đến. Đây sẽ là cái Tết hết sức ý nghĩa đối với em.

Giọng Kim Ngân từ bếp vọng lên:
– Anh chị tâm sự xong chưa? Em đã hâm xong bánh cuốn rồi nè. Chúng ta ăn trưa nhé.
Để mừng cuộc hội ngộ của anh Tuân và chị Mỵ Khanh. Không ngờ hai anh chị đã có một cuộc tình thơ mộng. Em rất ngưỡng mộ.
Tuân mắng yêu:
– Cô đáng đánh đòn lắm nhé. Không chịu báo cho anh biết trước. Chỉ nói là có người từ phương xa về thăm.
Kim Ngân cười khanh khách:
– Em muốn dành cho anh một bất ngờ. Mà bất ngờ thật phải không anh? Không cám ơn mà còn mắng em. Thiệt tình!
Tuân và Mỵ Khanh nhìn nhau mỉm cười. Họ thấy không cần nói gì nữa. Mùa Xuân đang bước đến. Thật rộn ràng và ngọt ngào …

Tiểu Thu


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 23/Jul/2020 lúc 8:49am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 30/Jul/2020 lúc 8:29am
NỖI LÒNG CỦA LAN

Ao%20Dai%20Vietnam%20.model:%20Xuan%20Van,%20Photo%20Duong%20Quoc%20Dinh%20...

Khi Lan quẹo vào khu cư xá, cơn mưa cũng vừa dứt. Nàng cho xe chạy chậm lại để tránh những cái bumpers trên đường. Đây là khách hàng cuối cùng trong ngày nàng đưa cơm tháng đến, và là một khách hàng đặc biệt.
Không rõ bắt đầu từ lúc nào, kỹ nghệ nấu cơm tháng trong cộng đồng Mít San Jose phát triển rất mạnh mẽ. Trong bất cứ tờ báo quảng cáo nào, độc giả cũng dễ dàng thấy dòng chữ "Nhận nấu cơm tháng, giao tận nhà, ba món ăn thay đổi hàng ngày, giá: X/ mỗi tuần, xin gọi số: Y". Chỉ cần nhấc phone cho biết địa chỉ là khách có thể thơ thới có người giao cơm ngay ngày hôm sau, khỏi mất công đi chợ, nấu bếp. Dĩ nhiên, chiếu cố dịch vụ này nhiều nhất là giới độc thân nhan nhản ở đây.
Hắn cũng độc thân như đa số khách hàng của Lan. Hay ít nhất cũng đang sống một mình. Lý do dễ hiểu là hắn chỉ lấy một phần cơm. Tháng trước, khi hắn điện thoại đến đặt cơm, Lan đã định từ chối vì không thuận đường, tận Mountain View, khá xa. Nhưng Hùng bàn lại thấy cần nhận lời để ...khuếch trương thị trường, nên cuối cùng đã thay đổi ý kiến. Hai vợ chồng mới ra nghề không lâu, khách hàng còn ít ỏi, cần thêm mối càng nhiều càng tốt để phụ thêm vào món tiền trợ cấp nhất định hàng tháng khi Hùng vẫn còn trong thời gian huấn luyện Anh Văn và nghề nghiệp.
Hắn ở trong một dãy condo mới xây dựng khá sang trọng. Không biết hắn mua hay mướn, nhưng dù mướn hay mua, Lan biết số tiền trả hàng tháng chắc cũng đã hơn số tiền chính phủ đang trợ cấp cho cả hai vợ chồng và đứa con. Chiếc xe BMW mui trần nàng vẫn thấy đậu ngay garage phía trước là một bằng chứng hùng hồn của lối sống thoải mái, dư dả.
Tuy vậy, nếu hắn chỉ giàu, chưa chắc Lan đã liệt vào hàng đặc biệt. Ngày đầu tiên khi Lan bắt đầu giao cơm, hắn chờ sẵn ở cửa và trao nàng phong bì đựng tiền cho một tháng. Theo thói quen, Lan cẩn thận đếm và thấy dư 10 đô. Tưởng hắn lộn, nàng đưa trả lại. hắn xua tay cười "ồ, đây là tiền xăng để cô đưa cơm đến", "Không, tiền xăng tôi đã tính đây rồi". Nàng trả lời. Hắn vẫn cười dễ dãi "Vậy thì cô giữ...làm gì cũng được", rồi quay vào để Lan ngơ ngác với món tiền tip đầu tiên từ khi nàng hành nghề từ ông khách hào hoa của mình.
Ngay từ hôm đầu tiên đó, Lan đã thấy hắn khác người, và suy nghĩ vẩn vơ. Hắn làm gì, Lan không rõ. Chỉ biết hắn còn trẻ lắm, độ bằng Lan, hay hơn một hai tuổi là cùng. Nhưng qua lối sống đủ chứng tỏ hắn thành công vượt bực so với những người trẻ tuổi khác mà Lan biết. Suốt một tháng qua, thỉnh thoảng nàng đưa cơm tới gặp lúc hắn đi làm về, đôi bên trao đổi vài câu mưa nắng. Chỉ những câu nói thông thường giữa hai người đồng hương trên xứ người cũng làm Lan lúng túng. Tướng hắn dong dỏng cao, cân đối trong bộ vest với chiếc cravate đỏ chói. Giọng hắn trầm ấm, đầy vẻ tự tin, nhất là khi cất giọng, hàng ria mép có vẻ nghệ sĩ nhưng được chăm sóc kỹ lưỡng di động nhịp nhàng khiến Lan bỗng nhớ tới một ông tướng không quân nổi danh ngày trước. Tất cả tạo cho hắn một sức hấp dẫn lạ lùng đầy nam tính. Nàng cảm thấy mình nhỏ bé lại như thời con gái, lần đầu đối diện cùng bạn trai...
Lan cho xe ngừng lại trước cửa, mở cốp lấy giỏ thức ăn ra và chú ý thấy chiếc xe mui trần của hắn. "Về sớm nhỉ!" Lan tự nghĩ, và cảm thấy tim đập. Bỏ chiếc giỏ xuống chỗ thường lệ, Lan đưa mắt nhìn sang chiếc cửa kính bên cạnh. Hình ảnh đầy màu sắc rực rỡ của một scene TV phản chiếu lên cửa. Không dằn được, nàng tò mò liếc vào và giật nẩy mình. Lan thấy nửa cái đầu tóc đen của hắn nhô lên từ ghế sofa đặt trước Tivi, hai chân trần gác lên cái bàn nhỏ trước mặt mà nàng chỉ thấy từ đầu gối. Một cái đầu khác tóc bạch kim vàng óng xỏa trên ghế bên cạnh mái tóc đen của hắn. Một người đàn bà Mỹ. Lan không nhìn được mặt, chỉ thấy cặp chân trần tròn trịa, phơn phớt những sợi lông măng gác lên chân hắn. Trời, hai người cùng ngồi trong cái ghế sofa chật chội? "Chắc họ chẳng mặc gì cả", Lan cảm thấy nóng ran cả người. Đang định quay đi, Lan bỗng nghe tiếng đàn bà cười rú lên rúc rích bên trong. Cái đầu tóc vàng co cả hai chân lên ghế, dùng tay nắm mái tóc đen kéo dí xuống phía dưới. Chiếc sofa bật ngửa ... "Đồ mắc dịch!", Lan rủa thầm và cương quyết quay lưng.
Không khí trong lành sau cơn mưa làm Lan thoải mái trở lại. Nàng vuốt nhẹ mái tóc và hít một hơi dài xua đuổi hình ảnh cụp lạc trong nhà ra khỏi đầu óc. Bây giờ Lan mới nhớ tay mình vẫn cầm tấm thiệp Lan định để lại cho hắn, vì hôm qua nàng nhận được card của hắn chúc mừng Giáng Sinh. Tự nhiên Lan cảm thấy khó chịu. Cái chân trần và giọng cười đĩ thõa của người đàn bà trong nhà lại chập chờn trước mặt. Nàng giận dữ xé tấm card, tiện tay quăng vào giỏ rác bên cạnh, bước vội ra xe.
Vào freeway, Lan nhìn đồng hồ tay: gần ba giờ chiều rồi. Nàng phải chạy nhanh về nhà trước giờ tan sở, đường xá sẽ nghẹt ứ. Giờ này chắc Hùng cũng sắp về.
Hùng, người đàn ông được gọi là chồng vì hắn là cha của đứa con nàng, Lan bỗng buồn bâng quơ. Nàng chưa bao giờ yêu chàng cả. Lan theo Hùng vượt biên và sống chung đến ngày nay cũng vì chàng là tài công cho chuyến đi chui sắp khởi hành. Đi theo Hùng là phương tiện duy nhất để Lan thực hiện giấc mơ tìm miền đất hứa, thoát khỏi một xã hội mà nàng đã chán chường đến tận cùng xương tủy.
Vùng đất hứa trong giấc mơ của Lan hồi còn ở quê nhà là bãi cỏ xanh ngát trước căn nhà tường gỗ vàng, có những cây cột nhỏ màu nâu sậm, cái ống khói nho nhỏ màu đỏ chói để ông già Noel chui vào mỗi mùa Giáng Sinh.
Lan cũng mơ ước những thành phố ban đêm rực ánh đèn màu, lấp lánh. Những cao ốc chọc trời cùng những vũ trường sang trọng. Những người đàn bà trang phục dạ hội thật lộng lẫy, nhởn nhơ trong tiếng nhạc…
Lan đã đánh đổi hết, kể cả những gì quý báu nhất của người con gái để thực hiện giấc mơ của mình. Sự chung đụng có tính cách trả ơn hơn là kết cấu của tình yêu với Hùng lại có hậu quả. Đứa bé ra đời là sợi dây vô hình không định trước, trói buộc cuộc sống của hai người với nhau. Lan biết nàng không thể một mình thực hiện giấc mơ. Dù không có đứa con, Lan cũng phải bám lấy Hùng, dựa vào ưu tiên quân nhân của chàng để được đi định cư.
Thực tế phũ phàng hơn Lan nghĩ. Nơi đến không phải đường lót đầy tiền để nàng tự nhiên lượm lên tiêu. Căn nhà với bãi cỏ xanh ngát, cái ống khói đỏ cho ông già Noel giờ đây chỉ là một căn apartment cũ kỹ, chung quanh đầy những đồng hương mà mỗi tối Lan có thể nghe tiếng cải lương từ một căn nhà nào đó ê a vọng lại. Người đàn bà lộng lẫy trong chiếc xe bóng lộn lao vút giữa ánh đèn đêm, tới những nơi xa hoa đầy tiếng nhạc ... vẫn là một điều xa vời. Lan biết Hùng không bao giờ thực hiện niềm mơ ước đó cho nàng. Chàng chăm chỉ một cách vụng về, thủ phận trong nếp sống hiện tại, và không đủ tài thực hiện tương lai tươi đẹp đó. Lan phải tự tạo lấy, phải đốt giai đoạn. Nàng không hề nghĩ mình đang phản bội! Từ đầu, chính Hùng cũng hiểu Lan chưa bao giờ yêu chàng. Sự sống chung của hai người là một sự hợp tác, có qua có lại, mà đứa con chỉ là bản giao kèo của định mệnh. Lan dành quyền quyết định đời mình khi hoàn cảnh cho phép.
Hoàn cảnh đã hé mở cánh cửa để hắn xuất hiện. Mẫu người lý tưởng có đủ khả năng cho nàng những gì mong muốn. Nhiều đêm, bên cạnh người đàn ông có chung với mình đứa con mà Lan thấy như người xa lạ. Giữa không gian vắng lặng còn hăng hắc mùi dầu mỡ từ căn bếp đưa sang, tự nhiên Lan nghĩ đến mùi hương ngào ngạt của loại nước hoa đắt tiền ít khi nào Lan có dịp dùng đến, mùi champagne nồng nàn của những buổi dạ tiệc. Nhìn Hùng say sưa ôm gối, nàng lại thấy hắn, hào hoa, sang trọng, trong một condo đắt tiền, với chiếc xe mui trần bóng loáng.
Lan miên man suy nghĩ.
Tiếc nuối!
Tủi hờn!
Gió lồng lộng tạt vào xe khiến nàng cứ đạp mạnh chân ga. Khi Lan giật mình thấy trong kiếng chiếu hậu chiếc xe màu đen có cái đèn tròn trên mui quay tít và rực sáng. Nàng hoảng hồn cho xe vào lane trong cùng, và dừng lại.
Người cảnh sát cao lớn với tập giấy trên tay tiến đến bên cửa hỏi:
- What's problem, Mam? You're driving very fast!

ThaiNC


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 30/Jul/2020 lúc 8:39am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 15480
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 01/Aug/2020 lúc 1:05pm
KHUẤY ĐỘNG CÔ MÀ CHI …

Hòa%20thượng,%20Ni%20cô,%20Cư%20sĩ%20là%20gì?

Ngày rằm, vợ chồng tôi theo gia đình một người bạn đi chùa tại vùng ngoại ô thành phố. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến đây. Vợ chồng người bạn là tín hữu làm công quả thường xuyên từ lâu, và muốn giới thiệu với chúng tôi “chùa nhà” của họ. Vợ tôi là Phật tử thuần thành nên nghe nói đến chùa là hăm hở muốn biết. Riêng tôi thì chị T phải nói thêm “Chùa có bà vải Giác Mai nấu đồ chay ngon nhứt vùng này đó. Không đi mất lộc ráng chịu.” Nghe vậy tôi hết chần chừ và cũng hăm hở đi theo mấy bà ngay.
Sau khi nghe kinh, thắp hưong lễ Phật đầy đủ bổn phận xong, tôi ra sắp hàng lãnh cơm chay. Chị T chỉ người đứng xúc đồ ăn cho tín hữu ở cuối dãy tức là bà vãi Giác Mai, người nấu đồ ăn chay ngon nhứt San Jose như chị đã quảng cáo. Tôi càng nhìn càng thấy ngờ ngợ, hình như là một người quen biết nhưng đã lâu rồi không gặp nên không thể nhất thời nhớ ra. Mặc dù người đàn bà này đã cạo tóc và đang mặc bộ đồ mầu lam như một tu sĩ, nhưng nét mặt và tướng người bệ phệ của bà đang gợi cho tôi một hình dáng quen thuộc nào đó xa xưa.
Khi tới phiên tôi đối diện với bà, đĩa đồ xào trước mặt cũng vừa hết, bà cười phúc hậu “ Cậu chờ một chút”, rồi cầm cái đĩa đi lại đằng sau múc thêm đồ ăn. Bà Giác Mai bước đi chân trái khỏe mạnh đi trước, chân mặt lại phải kéo lê tới thành ra tướng đi cà nhắc.
Nhìn bà vài bước khập khểnh là ký ức tôi đã trở lại hoàn toàn. Tôi đã biết bà là ai. Muốn kêu lên “Cô Mỹ” nhưng ngưng lại kịp.
***
Bốn mươi mấy năm rồi đó !
Nhà tôi và cô Mỹ ở chung một xóm. Lúc ấy tôi khoảng 12,13 tuổi, còn cô Mỹ chắc cũng hăm chín ba mươi gì đó, lớn hơn tôi nhiều nên tôi gọi là cô chứ không phải là chị nữa. Cô thuê căn nhà cuối xóm và chỉ ở một mình.
Không biết dịp nào tôi bỗng trở thành thân thiết với cô Mỹ, nhưng chắc một phần lớn là cái xe đạp của tôi. Vì chân cô đi đứng khó khăn mà tôi và chiếc xe đạp lại trở thành cái chân của cô.
Mỗi buổi sáng cô Mỹ có ông xe ôm cô thuê bao tới chở cô đi làm, và tối lại đưa về. Đi bộ lòng vòng trong xóm, hoặc những nơi gần gần thì cô đi đứng cũng bình thường, không trở ngại gì lắm. Nhưng khi cần phải đi xa ra khỏi xóm, thí dụ như đi mướn tiểu thuyết, mua tờ báo, hay mua thuốc tây, thuốc ta phải ra ngoài đường cái xa xôi, cô bị tật không tự đi xe được, mà đi bộ thì mất thì giờ, bất tiện … Cô chỉ cần tới nhà gọi tôi nhờ một tiếng là xong hết. Hồi đó tôi có chiếc xe đạp nên đi đâu cũng tới. Cô nhờ gì cũng xong. Cho nên tôi trở thành cái chân của cô.
Dĩ nhiên mỗi lần nhờ cậy như vậy tôi đều được trả công hậu hỉ. Nhờ cô mà tôi khi nào cũng rủng rỉnh mớ tiền cắc tha hồ cà rem, kẹo kéo mệt nghỉ.
Nhưng tình thân giữa cô Mỹ và tôi không phải chỉ có như vậy. Cô Mỹ tuy không đẹp gái, lại thêm tật ở chân, nên đã lớn tuổi mà không chồng con gì cả. Tạo hóa thương tình bù trừ nên người có tật có tài. Cô có biệt tài nấu đồ ăn ngon lắm và là một trong vài đầu bếp chính cho một nhà hàng nổi tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Vì vậy cô sống rất sung túc. Đặc biệt là trong nhà cô khi nào cũng có đồ ăn từ nhà hàng mang về. Đồ ăn mang về một mình cô đâu ăn hết, thế là tôi lại được cô gọi tới nhà cho ăn thoải mái luôn.
Rồi bỗng nhiên một hôm trong nhà cô Mỹ có thêm một người tới ở. Chị Thoa. Tôi gọi là chị Thoa vì chị ấy lớn hơn tôi khoảng 7, hay 8 tuổi thôi. Chị Thoa theo lời cô Mỹ là em họ của cô từ quê lên trọ học ở Sài Gòn. Ngược với cô Mỹ, chị Thoa rất đẹp. Cô Mỹ cưng chị Thoa lắm. Cô cho chị ăn ở trong nhà, lại còn sắm cho chị Thoa một cái xe Honda PC để đi học nữa.
Chị Thoa đẹp như vậy, nhưng tôi không thích chị ấy chút nào hết, lý do bởi vì từ ngày có chị, tôi cảm thấy tôi không còn là người thân duy nhất, độc quyền cô Mỹ nữa. Tôi thấy cô Mỹ cưng quá nên chị ấy hư. Được nuôi ăn ở trong nhà mà chị như là công chúa, không đụng tay làm chuyện gì. Một mình cô Mỹ phải lo hết. Chị Thoa hư đến nỗi đi chơi đâu làm mất cái xe PC về than khóc, Cô Mỹ lại mua cho cái xe khác.
Một hôm tôi mới đi mướn cuốn tiểu thuyết cho cô Mỹ về thì thấy chiếc xe của chị Thoa trong nhà nên phải nhẹ nhàng im lặng vào vì mấy lần chị la tôi làm ồn ào không học hành gì được. Tôi chưa kịp lên tiếng kêu cô Mỹ thì nghe như có tiếng ai khóc trong phòng. Ngạc nhiên, tôi tò mò nhìn vào và chưng hửng. Cả cô Mỹ lẫn chị Thoa đang trần truồng ôm nhau trên giường. Chị Thoa tưởng khóc mà không phải khóc. Chị ấy đang tiết ra những âm thanh quái đản, nghe như những con mèo hoang sau vườn nhà tôi trong những đêm thâu.
Tôi đã lớn đủ để hiểu sự quan hệ tình dục, dù sự hiểu biết đó chỉ là qua sách báo, hay lời kể phóng đại của bạn bè mà thôi... và luôn luôn nghĩ rằng đó là quan hệ vợ chồng của hai người khác phái. Đây là lần đầu tiên trong đời chứng kiến tận mắt hai người quan hệ tình dục, nhưng lại giữa hai người cùng phụ nữ!
Thoạt tiên tôi thấy mắc cở và muốn quay lui, sợ lỡ bị bắt gặp thì xấu hổ lắm. Nhưng những âm thanh réo rắt như mèo đêm của chị Thoa lại có một ma lực thật quyến rủ tiếp tục ghì đôi chân tôi ở lại. Tôi nghe nóng bừng cả người, và cảm thấy những tế bào cơ thể căng dần, căng dần.. theo từng nhịp điệu, âm thanh của hai người trong phòng...
Sau hôm đó tôi càng e ngại chị Thoa hơn, và đối với cô Mỹ cũng không còn được như xưa. Tôi biết cô Mỹ và chị Thoa là hai người đồng tính. Cả xóm không ai hay, vẫn tưởng là hai chị em ở chung với nhau. Chỉ một mình tôi biết. Mấy tuần sau đó tôi bứt rứt khó chịu vô cùng vì một bí mật hấp dẫn mê ly như vậy thằng bé nào không muốn chia sẻ với bạn bè? Ngày xưa người thợ hớt tóc thành Phrygie đã phải đào một cái lỗ để được nói “Vua Midas có đôi tai lừa – Vua Midas có đôi tai lừa…”. Tôi cũng muốn đào một cái lỗ.
Nhưng tôi đã làm được là giữ kín miệng không hề thổ lộ cho bất cứ ai. Ngay cả cô Mỹ và chị Thoa cũng không biết là tôi đã biết hết.
Chuyện của hai người cuối cùng cũng đổ bể. Không phải từ nơi tôi. Ngày kia tôi đi học về thấy cuối xóm ở nhà cô Mỹ rất ồn ào người ta bu lại thật đông. Có cả cảnh sát nữa. Tôi tò mò chạy lại và thấy chị Thoa đầu tóc rủ rượi, mặt dính chút máu ôm mặt khóc thút thít. Còn cô Mỹ thì cũng bờm xờm không kém. Tôi mặc kệ chị Thoa, chạy lại bên cô Mỹ mếu máo hỏi cô chuyện gì. Cô ôm vai tôi nói cô đi vắng mấy ngày nhờ tôi coi nhà giùm. Khi nào về cô sẽ kể cho nghe.
***
Cô Mỹ không bao giờ trở lại. Cả chị Thoa cũng bặt vô âm tín. Căn nhà cô thuê tháng sau có người khác dọn vào. Không biết cô Mỹ về nhà dọn đi lúc nào vì tôi phải đi học cả ngày.
Cả xóm tôi sau đó cứ bàn nhau vụ này. Họ nói cô là Ô-Môi. Lần đầu tiên tôi biết người ta gọi người đồng tính nữ là Ô Môi. Tôi nghe họ bàn ra tán vào chị Thoa dĩ nhiên không phải em họ của cô Mỹ. Họ nói chị ấy cũng chỉ ô môi nửa vời. Chị có cả bạn trai và giấu cô Mỹ. Hôm đó không hiểu đã nghi ngờ từ trước hay chỉ tình cờ, cô Mỹ về nhà bất ngờ và bắt tại trận chị Thoa có bạn trai trong phòng. Cô nổi cơn tam bành. Anh bạn chị Thoa nhanh chân chạy mất, để chị ở lại lãnh đủ.
Tôi đứng suy nghĩ nửa muốn nhận cô, nửa lại không. Cô Mỹ ngày xưa của tôi bây giờ là một bà vãi già phúc hậu. Tướng cô vẫn phốp pháp, đầy đặn như năm nào. Cô không phải ni cô, nhưng đã cạo đầu làm một cư sĩ tu tại gia. Nghe nói hằng tuần cô mang tài nấu ăn thiên phú làm công quả cho những chùa chiền quanh đây. Gương mặt của cô toả sáng một niềm hoan hỉ với cuộc sống hiện tại.
Và tôi bỗng cảm thấy không cần phải nhận cô làm chi.
Tôi có thể gợi lại cô những kỷ niệm mà nhiều khi cô đã quên rồi. Chuyện gì đã qua thôi cứ để cho nó qua luôn. Cô Mỹ trước mặt tôi rõ ràng là một người thân tâm an lạc, bình yên trong đạo pháp.
Khuấy động cô mà chi !
Thấy tôi cứ đứng tần ngần, cô Mỹ nhắc “Này cậu, qua lấy thêm đồ ăn bên này nè. Có người chờ”.
Tôi nói “Dạ, dạ...” và bước qua luôn không nhìn lại nữa.

ThaiNC
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 138
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.836 seconds.