![]() |
Bài mới Thành viên Lịch Tìm kiếm |
| |
| Chuyện Linh Tinh | |
|
| |
|
| << phần trước Trang of 116 |
| Người gởi | Nội dung |
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24496 |
![]() Gởi ngày: 11/Feb/2026 lúc 12:08pm |
Tết Trong Ký Ức Xa XứThân tặng người bạn tri kỷ một thời: Ngô Đình Thiệp Ngô Đình Thiệp - bạn tôi- thứ nhất bên trái hàng thứ hai Gia đình chúng tôi sang Úc từ tháng 9/1992 và định cư tại thủ đô Canberra. Dù đã xa quê hương khá lâu nhưng mỗi lần nhìn hoa đào nở hay vô tình nghe lại một bản nhạc xuân cũ, lòng tôi lại xao động như có ai chạm nhẹ vào ký ức. Nhớ quá những cái Tết năm xưa. Nhớ những ngày bận rộn mà vui, khi cả nhà tất bật chuẩn bị Tết, còn đám con nít thì chỉ chờ đến khoảnh khắc được mặc đồ mới, được lì xì, được chạy khắp ngõ làng trong tiếng cười giòn tan. Tết ngày xưa quan trọng lắm. Không phải vì mâm cao cỗ đầy, mà vì nhà nào cũng rộn ràng, bận rộn. Người nào cũng có chỗ để quay về. Tết này, đã hơn ba muơi năm tôi đón xuân ở thành phố này và Tết Bính Ngọ sắp tới, tôi lại đón xuân ở thủ đô Canberra - thủ đô hành chánh của Úc, một thành phố yên tĩnh, ít nguời Việt, chỉ có khoảng vài nghìn nguời Việt sống rải rác trên chiều dài khoảng mấy chục cây số (1). Không có chợ Tết, không có mùi nhang trầm, bánh mứt. Chỉ có tôi và bụi hoa đào lặng lẽ ngoài sân vắng. Tôi cùng quen rồi và không cảm thấy buồn nữa, tuy lòng vẫn thiết tha nhớ về những cái Tết của một thời quê hương cũ, của một thời tuổi trẻ rồi bị biến cố 30/4/1975 cuốn trôi theo những đổi thay nghiệt ngã của đất nước. —— Gia đình tôi gốc miền Bắc, sinh sống ở Trung Chánh, Sàigon, sau xuống Rạch Giá. Những nơi này có nhiều người miền Bắc định cư nên Tết thời thơ ấu mang đậm hương vị Bắc. Mâm cỗ tết miền Bắc, mang đậm nét truyền thống với những món ăn đặc trưng như xôi gấc, bánh chưng, dưa hành muối, nem (chả giò), giò thủ, thịt đông. Đây là những món ăn được lựa chọn để thích hợp với thời tiết se lạnh của mùa xuân miền Bắc. Ngoài những món cơ bản kể trên, mỗi gia đình có thể bổ sung thêm món bóng xào, gà luộc, canh măng, miến xào mề gà … Tết miền Bắc hơi cầu kỳ nhưng ấm cúng với hoa đào, cây quất … Mâm cỗ Tết miền Bắc ——- Sau này gia đình tôi di chuyển về tỉnh Kiến Tường, rồi sau đó lên học ở Sài Gòn, tôi biết thêm Tết miền Nam: phóng khoáng, rộn ràng. Tết đến sớm hơn với nhịp sống sôi động, chuộng màu vàng tươi của hoa mai, hoa vạn thọ … Về món ăn thì có bánh tét (nhân mặn, ngọt), canh khổ qua nhồi thịt (với mong muốn nỗi khổ sẽ qua đi), thịt kho hột vịt, gỏi ngó sen … Mâm ngũ quả thường có mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài). Đặc biệt người miền Nam rất coi trọng việc lì xì và chúc tết. Mâm cỗ Tết miền Nam ——- Khi đi dạy, tôi có dịp thăm các bạn đồng nghiệp ở miền Trung vào những ngày giáp Tết. Tôi nhận xét thấy Tết miền Trung có vẻ tinh tế và trang trọng do chịu ảnh hưởng văn hóa cố đô. Món ăn cũng có bánh chưng, bánh tét, các món ngâm mắm (đu đủ, củ kiệu), thịt heo ngâm nước mắm và đặc biệt có món tôm chua. Mâm ngũ quả giản dị mà hài hoà thường có chuối, mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài … Mâm cỗ Tết miền Trung —— Dù Bắc – Trung – Nam mỗi nơi một vẻ, Tết vẫn có những điều chung:
—— Bên nước Mỹ - bạn tôi - Ngô Đình Thiệp. Chúng tôi có thời gian cùng ở Rạch Giá và bạn rất thân thời học trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn trứơc 1975. Gia đình bạn qua Mỹ năm 2011 và cư ngụ tại thành phố Garden Grove ở miền Nam California. Cũng đã hơn hai mươi năm gia đình bạn tôi đón xuân nơi xứ Mỹ. Cũng may, ở Garden Grove có rất nhiều người Việt sinh sống nên có chợ Tết ở khu Phuớc Lộc Thọ, có múa lân, có diễn hành … Bạn tôi kể, còn gần ba tuần nữa mới tới Tết Bính Ngọ mà không khí Tết ở đây đã rộn rã, bàng bạc khắp nơi … Các cửa hàng bán lẻ, các siêu thị Việt Nam … đều đã trưng bày những hình con ngựa nhiều màu, những phong bao lì xì, những hộp bánh mứt, bánh chưng , bánh tét, những hũ dưa hành, củ kiệu … bên cạnh những chậu hoa đào, hoa mai, hoa cúc đủ sắc màu … Phố hoa Garden Grove rực rỡ áo dài ngày Tết Bạn tôi cho biết, gia đình bạn đã chuẩn bị tết cả tuần nay: Đã gói xong một số bánh chưng, bánh tét … và làm hơn hai trăm hũ dưa hành muối. Sao nhiều thế? Bạn tôi nói: bà xã và con gái khéo tay nên tết năm nào cũng làm nhiều, trước để gia đình ăn, sau để biếu bà con, bạn bè … còn lại gởi siêu thị, cửa hàng Việt Nam … để bán. Wow!!! Dĩ nhiên bạn tôi cũng là thợ phụ nữa. Những hũ dưa hành mà gia đình bạn tôi vừa mới làm được bày bán trên các kệ ở các siêu thị Việt Nam ở thương xá Phước Lộc Thọ. Thán phục quá!!! vì vợ chồng bạn tôi năm nay cũng quá “thất thập cổ lai hy” rồi ! Tôi vẫn còn nhớ, năm vừa qua Thiệp phone chúc tết gia đình tôi. Sau khi chúc xong bạn hỏi tôi Tết ở xứ Kanguaoo có gì vui, có gì lạ không? Tôi trả lời vui vui “Cũng vui, cũng vui … nhưng “chả có gì!””. Ít giây sau bạn tôi hiểu và phì cười. Thiệp còn nhớ không? Xin chúc bạn tôi và gia đình măm mới Bính Ngọ luôn vui khỏe và vạn sự tốt đẹp và đặc biệt : “Tiền vô như
nước sông Đà, Tiền
ra nhỏ giọt như cà phê phin.”
Canberra những ngày cận xuân Bính Ngọ. Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24496 |
![]() Gởi ngày: 12/Feb/2026 lúc 1:48pm |
|
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24496 |
![]() Gởi ngày: 12/Mar/2026 lúc 1:23pm |
|
Chuyến Xe Chiều ![]() Để tưởng nhớ em tôi – Nguyễn Phiêu Linh – và mến tặng tất cả SVSQ/TBTĐ Khóa 6/68
Cho phi cơ lượn vài vòng trên không trung, Dinh cảm thấy vui hẳn
lên với cảm giác được hoàn toàn tự do. Nhìn xuống, thấy đồng ruộng xanh
ngát, tự dưng một giòng nhạc khởi lên trong lòng, Dinh hát theo điệu Valse
Lente: “Làng tôi yêu mến có lũy tre đầm ấm, khoát bóng lên lều tranh…
Tình quê hương ấy mỗi lúc sương chiều rơi, quyến luyến dâng đầy vơi tâm
hồn tôi”(1). Lời ca khiến Dinh nhớ những chiều theo đoàn tù trở
về trại, nhìn về phương Nam, Dinh cũng ngân nga những câu hát này cho
vơi bớt nỗi niềm. Tiếp tục hát được vài câu nữa, Dinh thoáng giật mình,
vì chàng là sĩ quan Dù chứ không phải sĩ quan Không Quân! Vừa khi đó,
nhận ra kim chỉ nhiên liệu xuống đến chữ E, Dinh vội vàng cho phi cơ đáp
khẩn cấp.
Trời tối dần.
Dinh đi nhanh về hướng có ánh đèn. Gặp vài người Dinh mới nhận ra những
người này không nói cùng ngôn ngữ với Dinh. Dinh dùng tay ra dấu cho họ
biết phi cơ hết xăng, Dinh cần mua xăng. Những người này cũng ra dấu là
ở đây xăng chỉ dùng cho công xa chuyển vũ khí đi “B”. Thấy quân phục
của Dinh nhiều người kéo đến, nhìn Dinh bằng đôi mắt sôi sục căm thù.
Thấy ánh mắt căm thù, Dinh hãi sợ, bỏ chạy. Những người lạ đuổi theo. Một âm thanh hãi hùng vang lên trong đêm: “Ngụy trốn trại! Ngụy trốn trại! Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!” Nhóm người vừa đuổi theo vừa lượm đá quăng về phía Dinh. Dinh trúng thương, ngã xuống.
Khi tỉnh dậy, trong nhiều tiếng lao xao, mơ hồ, Dinh nhận ra tiếng Duy, con lớn của chàng, quát đứa em:
- Dục! Coi ổng còn thở không?
Dinh muốn đáp: “Ba không sao đâu”, nhưng nói không được. Trong khi Duy và Dục bồng Dinh để lên giường, Dinh cố nhớ lại giấc mơ.
Dinh tự hỏi, tại sao những lần trốn trại và những trận đòn thù xưa cứ
ám ảnh chàng hoài? Dinh muốn lấy điện thoại, gọi cho Huyền - chị của
Dinh, đang ở Mỹ - nhưng Dinh không thấy được gì cả.
Trên taxi,
Dinh được để ngồi thẳng như pho tượng, Duy và Dục ngồi kè hai bên cho
Dinh khỏi ngã. Sau khi bảo tài xế lái đến bệnh viện Đồng Nai, Duy than:
- Mẹ bà nó! Đây rồi ổng nằm một đống, đái ỉa một chỗ, ai lo được, Trời!
Dục đáp:
- Ông là anh cả, trưởng nam, ông phải lo chớ ông tính “bán cái” hả?
-
Mẹ! Con c. tao chứ trưởng nam. Cũng vì 2 chữ trưởng nam mà năm 75 ổng
không chịu di tản vì ông bà già của ổng không chịu đi. Mẹ bà nó! Ngoại
trừ sĩ quan cấp nhỏ như ông Bảng, ở tù ngắn hạn, Mỹ không nhận; còn ai
ra tù cũng nạp hồ sơ xin đi Mỹ mà ổng không nộp vì bà già của ổng chỉ
muốn ở với trưởng nam chứ không chịu ở với ông Bảng.
- Bởi vậy tui với ông mới bốc cứt mà ăn.
Dinh muốn gào lên:
“Ba không xin đi diện H.O. vì bà Nội chỉ một phần; lý do chính là vì
hai con đều trên 21 tuổi, không được chấp thuận. Lúc đó, chỉ vì thương
bà Nội và thương hai con – và cũng vì Ba không biết được rằng Ba cứ qua
Mỹ, từ từ Ba sẽ bảo lãnh bà Nội và hai con sang sau – mà Ba không đành
đi Mỹ một mình. Ba đã quyết định sai; nhưng sự sai lầm đó, cũng như sự
sai lầm của Ba năm 75 là do tình thương mà ra.” nhưng Dinh không nói
được! Dinh vừa đau xót, vừa tủi thân, vừa giận hai thằng con thiếu giáo
dục!
Đây không phải là lần đầu tiên Dinh nhận ra sự thiếu giáo dục ở thế hệ trẻ.
Ngay từ khi được ra tù, trên chuyến xe lửa về Nam, Dinh rất buồn lòng
vì nhận thấy ngôn từ và hành động của những người trẻ trên xe lửa cũng
như tại những ga xe lửa, đều khó chấp nhận. Về đến nhà, thấy Duy và Dục
cũng ứng xử như những người trẻ vô học, Dinh rầy. Duy đáp: “Thời buổi
này kiếm hột cơm đổ vô họng còn chưa có, ở đó mà lễ nghĩa, đạo đức!”
Dinh bảo: “Con nên nhớ, ông bà mình dạy rằng: Đói cho sạch, rách cho
thơm.” Duy gằn giọng: “Lời ông bà, lời thánh hiền, xưa rồi! Lời cách
mạng là tiền. Tiền! Tiền!” Dinh nghiêm giọng: “Con nói chuyện với Ba mà
tại sao con dùng những lời thiếu giáo dục vậy?” Duy đáp tỉnh bơ: “Có ai
giáo dục tui đâu mà thiếu với đủ?” Dinh nghẹn lời! Từ đó, Dinh cố tình
tránh mọi va chạm với hai con.
Lòng buồn vô hạn,
nhưng khi nhận biết Duy và Dục, mỗi đứa một đầu, cố sức khiêng Dinh vào
nhà thương, Dinh lại cảm thấy thương con vô vàn. Dinh muốn khóc nhưng
khóc cũng không được, rồi Dinh từ từ lịm vào hôn mê.
Khi tỉnh lại,
Dinh cảm biết thân người bên phải có thể cử động và có vật gì chụp vào
miệng và mũi chàng. Dinh nghe giọng Bảng lay gọi chàng rồi Dinh nghe
tiếng Duy:
- Dục! Mày ở đây với ông Bảng, tính gì cho ổng thì tính; tao về lục hình của ổng, đem đi phóng lớn để lo hậu sự cho ổng.
Dinh muốn gào lên“Con ơi! Ba chưa chết, con ơi!” nhưng nói không được. Bảng nạt Duy:
- Hậu sự cái gì? Để tao điện qua cho cô mày.
Duy đáp:
- Bệnh của ổng như vậy tiền núi cũng không chữa lành nói gì xin bà Huyền. Mỗi lần xin bả cho có vài trăm đô chớ mấy!
Bảng im lặng, bấm số. Sau khi Bảng cho hay Dinh bị stroke Huyền khóc nức nở. Chờ cho cơn xúc động của Huyền dịu xuống, Bảng nói:
-
Chị à! Chị cố bình tĩnh nghe em nói. Ba Má không còn, chỉ còn chị, nếu
không cho chị biết, nhỡ anh Dinh có gì thì em làm sao đây?
Nghe Bảng nói đúng, Huyền tự nhủ nàng phải bình tĩnh và sáng suốt để cứu Dinh. Nàng hỏi:
- Hiện tại bác sĩ đang làm gì cho anh Dinh?
- Bác sĩ nói trễ quá, không làm gì được. Họ cho ảnh ra phòng ngoài, nằm chung với mọi người rồi.
- Trời! Tình trạng của Dinh phải nằm ở phòng hồi sinh chứ tại sao lại nằm phòng ngoài
- Em đâu biết.
- Tìm bác sĩ, yêu cầu bác sĩ trực tiếp nói chuyện với chị, nhanh đi.
Bảng “dạ”.
Huyền không nghe được gì nữa. Một lúc sau, Huyền nghe giọng Bảng nói
với ai, văng vẳng: “Chị tôi mới là người có khả năng thanh toán phí tổn
bệnh viện. Bác sĩ không nói chuyện với chị tôi thì tôi với hai thằng này
là 3 mạng cùi chứ làm sao tụi tôi trả được.” Huyền nghe giọng lạ
“Allo”. Huyền hỏi:
- Thưa, có phải bác sĩ là người đã khám nghiệm cho em tôi, Trần Dinh, không ạ?
- Vâng.
- Thưa, theo bác sĩ thì em tôi có khoảng bao nhiêu phần trăm hy vọng sống sót?
- Một phần trăm. Nhưng bệnh viện này không đủ phương tiện để giúp ông Dinh.
- Nếu vậy thì xin bác sĩ làm ơn chỉ cho tôi bệnh viện nào có thể cứu em tôi?
- Nếu có phương tiện tài chánh, bà nên đưa ông Dinh đến bệnh viện Chợ Rẫy.
- Thưa, nhờ bác sĩ giúp bằng cách cho một xe hồng thập tự đưa em tôi đến Chợ Rẫy, được không ạ?
Một thoáng chần chừ. Huyền tiếp:
-
Thưa bác sĩ, người em kế của Dinh là Bảng, người mà lúc nãy đã yêu cầu
bác sĩ nói chuyện với tôi đó. Bảng sẽ làm giấy cam kết với bệnh viện
rằng Bảng và tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả mọi phí tổn mà
bệnh viện đã cung cấp cho Dinh.
- Vâng, nếu thế thì không gì trở ngại.
- Xin cảm ơn bác sĩ.
Vừa trao điện thoại lại cho Bảng bác sĩ vừa nói:
- Xong, anh vào gặp tôi ngay.
Sau khi “đăng ký” cho Dinh vào bệnh viện Chợ Rẫy,
Bảng bảo Duy và Dục ở lại trông chừng Dinh, Bảng đi có việc. Bảng đến
ngân hàng nhận tiền Huyền gửi về bằng Moneygramme nhưng Bảng không cho
Duy và Dục biết.
Khi trở lại bệnh viện,
Bảng thấy Dinh đã được đưa ra phòng ngoài, cũng nằm chung với những
bệnh nhân khác. Thấy Dinh nằm cùng giường, ngược đầu với một bệnh nhân
khác, Bảng trách:
- Duy, Dục! Sao hai đứa mày không xin cho Ba tụi bây nằm riêng một giường mà để ổng nằm hửi cẳng người ta, tội quá vậy?
Duy đáp như Dinh là người xa lạ:
- Ổng nằm đây không lâu đâu mà lo.
- Mày nói cái gì, mày nói lại tao nghe?
-
Thì bác sĩ ở đây cũng nói giống bác sĩ ở Đồng Nai chứ khác gì đâu. Ông
không cho tui về rửa ảnh lo hậu sự cho ổng thì tui điện cho vợ tui, biểu
vợ tui lục hình, đem đi rửa lớn, mua nhang đèn sẵn, thì cũng vậy thôi.
Những lời đối đáp của Duy và Bảng
khiến Dinh chỉ muốn chết ngay tức thì! Riêng Bảng, khi nghe Duy nói rồi
nhìn Dinh, Bảng cảm thấy đau lòng. Chỉ vì tình gia đình mà Dinh phải
chịu hết khổ lụy này đến oan khiên nọ. Bảng cảm thấy cay cay ở mắt khi
thầm nghĩ: Thôi, nếu số phần của anh chỉ đến đây thì biết đâu đó cũng là
một giải pháp tốt; bởi vì, bên kia cuộc sống, có thể con người không
quá thủ đoạn và đê tiện như trong đời sống này!
Sau giây phút mủi lòng,
Bảng bảo Duy và Dục ở lại trông chừng Dinh, Bảng phải về, hôm sau Bảng
sẽ trở lại. Bảng trở về Đồng Nai thanh toán tiền bệnh viện nhưng Bảng
không muốn tiết lộ cho Duy và Dục biết.
Bảng vừa rời bệnh viện, Duy bảo Dục ra phía trước bệnh viện mua thức ăn. Dục vừa đi thì y tá vào phòng, hỏi:
- Có ai tên Trần Duy ở đây không?
- Có. Tui.
Người đàn ông phía sau người y tá bước đến gần Duy:
- Ba em tên gì?
- Trần Dinh.
- Em có người bà con nào bên Mỹ không?
- Có. Chị của Ba tui.
- Bà ấy tên gì?
- Trần thị Huyền.
Vừa nói người này vừa ra dấu cho Duy bước ra sân:
-
Bà Huyền emailed thông báo bệnh trạng của ông Dinh cho những người cùng
khóa Sĩ Quan Thủ Đức với ông Dinh. Những người này góp được một số
tiền và anh tôi điện về, bảo tôi ứng trước số tiền đó để giúp ông Dinh.
Sau khi nhận tiền,
Duy tìm Dục, bảo Dục trông chừng Dinh, Duy phải đi gấp. Duy đến những
nơi ăn chơi mà lúc nào Duy cũng mơ ước mỗi khi Duy lái xe ôm đưa khách
đến.
Hôm sau Bảng trở lại gặp lúc Duy đang xin bác sĩ cho Dinh xuất viện. Bảng cản:
- Không được. Bệnh của Ba mày như vậy mà mày đem ổng về nhà để ổng chết hả?
Duy muốn đem Dinh về
vì Duy nghĩ tình trạng của Dinh, nếu sống được thì cũng chỉ báo đời
thôi; càng để Dinh nằm bệnh viện lâu bao nhiêu thì lệ phí càng tăng bấy
nhiêu. 650 đô-la mà những cựu Sĩ Quan Thủ Đức gửi về biếu Dinh, tối hôm
qua Duy “đi thoải mái” “chỉ tốn có 100 đô chớ mấy”! Duy lại vừa điện
thoại cho vợ của Duy đến, lấy 100 về dẫn các con đi ăn nhà hàng và mua
áo quần; 50 đô-la Duy trả lại cho vợ Duy vì vợ Duy đã tốn tiền sang hình
và mua nhang đèn để lo hậu sự cho Dinh. 400 đô-la còn lại, Duy dự tính
trả tiền nhà thương khoảng 2, 3 trăm, số tiền còn lại Duy sẽ mua một
“quần bò” thật “xịn” để tặng con nhỏ làm ở quán bia ôm mà Duy thích. Lý
do là như vậy, nhưng Duy lại đáp khác
- Đem ổng về có gì vợ tui lo giúp để tui còn đi làm ăn chứ bộ tui ở trong này để vợ con tui chết đói sao?
- Thì mày với thằng Dục thay phiên nhau ở đây
- Ông đâu có bưng cứt đổ đái cho ổng. Ông đâu có ở đây để hửi mùi hôi mùi thúi và nghe người bệnh rên la cả đêm.
Bảng xoay sang bác sĩ:
- Xin lỗi bác sĩ, chị tôi bên Mỹ điện về, bảo tôi nhờ bác sĩ giúp cho anh tôi được nằm một phòng riêng.
- Ở đây không bệnh viện nào có tiêu chuẫn như vậy.
- Cùng lắm thì xin bác sĩ cho anh tôi nằm một mình một giường. Bác sĩ giúp giùm, chị tôi không quên ơn bác sĩ.
Câu cuối Bảng nói rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho bác sĩ nghe; và cũng chính câu cuối cùng của Bảng khiến bác sĩ gật đầu:
- Vâng. Tôi có thể giúp anh điều đó.
Bác sĩ rời phòng. Bảng hỏi Duy:
- Thằng Dục đâu?
- Nó cũng lo đi làm ăn chớ bộ nó ở đây lo ôm xác ổng sao!
-
Mày ăn nói mất dạy. Ngày nào Ba mày có quyền có chức thì Mẹ con mày dựa
hơi; khi Ba mày đi tù, Mẹ mày lấy cán bộ, giao hai đứa mày cho Bà Nội
mày nuôi. Bây giờ Ba mày trong tình cảnh này thì hai đứa mày chỉ mong
cho ổng chết nhanh, phải không? Chờ đó, tao gọi cho cô mày.
- Gọi cho bả làm đ. gì! Mẹ bà nó, cho nhỏ giọt, đ. thèm nhắc tên bả nữa!
Không muốn đối đáp với đứa mất dạy, Bảng bấm số điện thoại. Sau khi nghe Bảng trình bày, Huyền bảo:
- Bảng mở speakerphone, để gần tai bên phải của anh Dinh. Bảng cầm tay phải của anh Dinh và cố để ý phản ứng của anh Dinh.
Khi Bảng báo cho Huyền biết mọi điều đã xong, Huyền vừa khóc vừa nói rất chậm:
- Dinh ơi! Chị đây. Nếu chị nói gì mà Dinh nghe và hiểu được thì Dinh bóp tay Bảng, nha.
Tiếng Bảng reo lên:
- Đó, đó, ảnh bóp tay em.
Những người thăm nuôi và những bệnh nhân nhẹ cùng phòng đều tò mò vây quanh giường của Dinh. Huyền tiếp:
- Dinh biết ai nắm tay Dinh không?
Nhiều tiếng reo lên: “Ối Giời! Ông ấy biết đấy.”
Huyền tiếp:
- Mấy anh Thủ Đức bên này và bên Úc chung lời cầu nguyện cho Dinh. Dinh gắng vượt qua, nha.
Bảng không kềm được xúc động:
- Anh Dinh nghe và biết hết, chị à.
Huyền tiếp:
- Dinh nên ở lại bệnh viện để bác sĩ lo cho Dinh, nha.
Lại nhiều tiếng reo: “Đấy, đấy, ông ấy nắm chặt tay người em. Thế có tội không!”
Huyền lại tiếp:
- Dinh! Như vậy là dấu hiệu tốt. Bảng sẽ yêu cầu bác sĩ, bằng mọi cách, chữa cho Dinh…
Cuộc điện đàm vừa đến đây thì phải ngưng, vì người nằm cùng giường với Dinh được chuyển sang nằm chung với bệnh nhân khác. Và một bệnh nhân trẻ, tên Diên, bị băng nơi chân, được đưa vào.
Duy và Dục ra ngoài ăn tối.
Bảng tìm vị bác sĩ – mà lúc nãy Bảng yêu cầu ông ấy giúp cho Dinh được
nằm riêng một giường – để “trả ơn”, như Bảng đã hứa. Sau đó, Bảng cũng
tìm nhân viên trực, tặng họ tiền; vì kinh nghiệm cho Bảng biết rằng nếu
không có thủ tục “đầu tiên” thì đêm hôm Dinh có bề gì nhân viên trực sẽ
không báo cho bác sĩ.
Khi trở lại phòng bệnh,
Bảng thấy một nhân dáng rất quen đang hối hả đi về phòng bệnh. Nhìn kỹ,
Bảng nhận ra đó là Trang, vợ cũ của Dinh. Chưa biết Trang đến phòng
bệnh để làm gì, nhưng Bảng không muốn Dinh bị xúc động khi gặp lại
Trang. Bảng gọi:
- Chị Trang!
Trang quay lại:
- Ủa, chú làm gì ở đây?
- Em cũng muốn hỏi chị câu đó.
- Thằng con của tôi bị tai nạn xe gắn máy, đưa vào đây. Tôi từ Long An, nghe tin vội về thăm cháu. Còn chú?
Sau khi nghe Bảng kể qua bệnh trạng của Dinh, Trang khóc. Bảng nói:
-
Chị với anh Dinh hết duyên hết nợ thì thôi; chỉ tội nghiệp cho anh Dinh
là nếu anh Dinh bị xúc động mạnh trong tình trạng này thì anh ấy sẽ khó
qua. Em yêu cầu chị là chị cố gắng đừng cho anh Dinh biết có sự hiện
diện của chị trong phòng bệnh.
- Chú cho tôi thăm cháu xem tình trạng của cháu như thế nào rồi tôi sẽ liên lạc với chú.
- Chị ghi số điện thoại của em đi. À, chị cũng phải lánh mặt thằng Duy với thằng Dục nữa, nha. Hai thằng đó mất dạy lắm.
Trang vừa ghi số điện thoại vừa hỏi:
- Anh Dinh và Duy, Dục hiện sống ở đâu, chú?
- Vẫn ở kinh tế mới đó…
Bảng chưa dứt câu, Trang chợt nghe giọng Tâm, chồng của nàng:
-
Ôi Giời, Trang! Em đến sao không vào thăm con ngay mà lại ở đấy? Nó hỏi
em hoài. Còn mấy đứa kia đâu, sao em không đưa các con đến thăm anh nó?
*****
Vừa đẩy chiếc xe lăn có Dinh ngồi bên trong, Bảng vừa nói:
-
Anh em mình ra nghĩa trang thăm mộ, cúng tạ Ba Má và mấy đứa em xong,
mình trở về để người ta làm “vật lý trị liệu” cho anh, nhen.
- Bảng cúng chứ anh đâu lạy được.
- Thì anh ra với em cho “dzui”.
Đến bên nghĩa trang nho nhỏ của gia đình,
Dinh chợt nhớ câu Huyền emailed cho các bạn Thủ Đức của Dinh - lúc Dinh
vừa được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy - rồi những người bạn này chuyển
email của Huyền về cho Dinh, sau khi Dinh rời bệnh viện: “Mấy mươi năm
qua, bao nhiêu mồ hôi và nước mắt của tôi trên vùng đất Tự Do này chỉ đủ
xây một nghĩa trang rất ‘hoành tráng’ nơi vùng kinh tế mới để chôn Cha
Mẹ và các em tôi! Bây giờ tôi lại sắp chôn thêm một đứa em nữa! ‘Tạ ơn’
Bác và Đảng!!” Dinh thở dài, cảm thấy xót thương cho người chị, cuối
tháng 4 năm 1975, vẫn còn dám “vượt sóng” trở về tìm gia đình mà không
thành. Mỗi lần nghĩ đến Huyền không thể nào Dinh không hồi tưởng lại
những ngày tháng êm đềm, hạnh phúc xa xưa khi cả hai chị em cùng học
Luật, trước khi Dinh bị động viên. Dinh đang nhớ lại hình ảnh hốt hoảng,
xáo trộn trong sân trường Luật vào hôm sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị
ám sát thì tiếng Bảng đưa Dinh trở về hiện tại:
- Anh Dinh! Anh xem bà nào mà trông quen quá vậy?
Dinh nhìn ra đường mòn, hơi ngờ ngợ, không tin vào mắt chàng. Người phụ nữ đến gần, lấy nón xuống, nhìn Dinh. Dinh gằn giọng:
- Cô còn gặp tôi để làm gì?
-
Em biết em có lỗi với anh nhiều lắm. Nhưng anh nên cho em nói với anh
những điều cần nói; nhỡ mai này chúng ta không thể gặp lại nhau.
- Gặp lại để làm gì?
- Anh cho em thố lộ với anh một lần, chỉ một lần thôi.
- Vâng. Cô muốn nói gì, nói đi.
Bảng lẻn đi về. Trang ngồi lên phiến đá nhỏ:
- Những lời của em không phải là những lời chạy tội mà chính là nỗi thống khổ của người vợ tù cải tạo.
- Chuyện cải tạo, cải tiết xưa rồi, đừng nhắc nữa.
- Vâng. Em sẽ tôn trọng yêu cầu của anh. Ngược lại em cũng yêu cầu anh cho em được nhắc lại chỉ một chi tiết thôi.
- Chi tiết nào?
- Anh nhớ lần em đến trại Yên Bái thăm anh không?
Dinh gật đầu. Trang tiếp:
- Anh còn nhớ là hôm đó anh quyết liệt từ chối, không muốn nghỉ qua đêm với em trong “lán” cạnh cổng trại hay không?
Làm thế nào Dinh có thể quên được.
Trước khi Trang được phép thăm nuôi, Dinh đã cố gắng thuyết phục bạn tù
thực hiện những buổi văn nghệ đặc sắc. Dinh giả vờ hăng say, vui thích
vừa đàn vừa hát những nhạc phẩm sặc mùi “cách mạng”. Dinh thực hiện mọi
phương thức để tạo niềm tin nơi ban quảng giáo – chỉ với mục đích sẽ tìm
cơ hội vượt ngục. Sự thay đổi thái độ của Dinh làm bạn tù bất mãn,
nhưng ban quảng giáo lại hài lòng. Nhờ sự hài lòng này, khi Trang ra
thăm, ban quảng giáo cho Dinh một đặc ân là Dinh được ở lại “lán” với vợ
một đêm. Dinh cương quyết từ chối. Nhưng... Trang tiếp:
- Chính em là người đã khóc và năn nỉ anh; vì em thương anh, em nhớ anh, em chỉ muốn được ôm anh trong vòng tay.
- Nhắc lại để làm gì?
- Em chỉ muốn anh biết sự thật.
- Sự thật gì? Cô lấy chồng cán bộ, tôi mừng cho cô.
- Anh đừng tàn nhẫn với em.
- Ai tàn nhẫn với ai?
- Anh Dinh! Anh phải biết rõ nguyên do trước khi anh phán xét.
- Rồi, Mẹ con cô nghèo khổ, vì trước 75 tôi là 1 sĩ quan sạch. Cô lấy cán bộ vì cô chịu cực không được. Còn gì nữa?
Trang gục xuống:
- Còn một đứa con mà anh không biết, anh ơi!
- Tôi vừa về nhà sau thời gian quá dài nằm nhà thương, cô đừng đày đọa tâm hồn tôi nữa!
Trang đứng lên, đổi giọng:
- Tôi sẽ trở lại trong vài phút.
Trang trở lại với Diên.
Thấy Diên, Dinh ngạc nhiên đến sửng sờ. Diên có đôi mắt buồn buồn của
Dục và đôi chân mày rậm, sóng mũi cao, cái cằm nhòn nhọn của Duy. Trang
bảo Diên chào “Bác”. Diên chào. Dinh đưa tay phải ra, Diên lễ phép bắt
tay Diên với cả hai tay và miệng hơi mỉm cười. Ôi! Nụ cười sao lại y như
nụ cười mà ngày xưa Dinh thường thấy mỗi khi Dinh soi gương! Trang bảo:
- Con ra tiệm bi-da chơi, chờ Mẹ một tý nữa thôi.
Diên lại chào Dinh một lần nữa rồi đi. Trang hỏi:
- Anh nghĩ gì?
- Thú thật với cô tôi không hiểu tôi nghĩ gì!
- Sau lần đi thăm nuôi anh ở Yên Bái, em không “to be”.
Em vừa phải chống chọi với những cơn nôn mửa mỗi ngày, vừa chịu đựng
những lời đay nghiến, chửi rủa thậm tệ của Má anh và vừa suy nghĩ xem có
nên cho mọi người biết sự thật hay là phá thai? Em không thể phá thai,
vì em đạo Thiên Chúa. Cuối cùng em cho Má anh biết sự thật. Má anh lý luận:
Ba anh cũng tù cải tạo, khi Ba anh chết Má anh còn không được tin chứ
đừng nói đến chuyện Ba anh được phép nghỉ qua đêm với Má anh. Chú Bảng là sĩ quan cấp nhỏ,
cũng đi tù mà thiếm Bảng không được ở lại qua đêm; còn anh là một sĩ
quan cao cấp, em là cái thớ gì mà được ở qua đêm với anh? Má anh than
với mọi người rằng em đã lấy Tâm, một cán bộ thường theo tán tỉnh em mà
quanh xóm ai cũng biết. Anh Dinh! Em có thể chịu cực nhưng em không thể
chịu nhục.
- Má tôi mất lâu rồi, nên để Má tôi yên.
- Em không đổ lỗi cho Má anh. Em chỉ trình bày sự việc.
- Rồi, cô bất mãn Má tôi, cô đi. Nhưng tại sao cô lại bỏ Duy và Dục cho Má tôi nuôi?
-
Sau 75, gia đình bên anh sa sút như thế nào thì gia đình bên em cũng
không thể khác được. Nhưng ít ra, bên anh còn có chị Huyền giúp đỡ.
Em nghĩ, Duy và Dục ở lại, trước nhất là hai con có được miếng ăn; hai
nữa là Duy và Dục có thể đỡ đần Má anh những lúc Má anh cần. Thứ ba là
em không biết Tâm đã hay tin em có thai hay chưa? Nếu Tâm biết em có
thai, chưa chắc Tâm chịu lấy em.Nếu Tâm không lấy em thì làm thế nào em
nuôi được cả 3 đứa con? Anh tưởng em không đứt ruột khi phải xa hai con
hay sao? Sau đó, ba lần em lén Tâm gửi tiền về giúp Má anh thì cả ba lần
Má anh đều từ chối.
- Chuyện cô gửi tiền cho mà Má tôi từ chối, Má tôi có cho tôi hay và tôi nghĩ Má tôi hành động đúng.
Trang mũi lòng, khóc. Một lúc lâu lắm, Dinh hỏi:
- Chồng cô có biết chuyện của Diên không?
- Dạ, không. Sau khi em lấy Tâm, em năn nỉ Tâm xin thuyên chuyển thật xa để chôn vùi quá khứ. Khi sinh Diên em cho tiền bác sĩ và y tá, yêu cầu họ xác nhận Diên bị sinh thiếu tháng.
- Hiện tại Diên làm gì?
- Dạ, Diên vừa tốt nghiệp đại học, ngành tin học.
- Tại sao mãi đến nay cô mới cho tôi biết sự thật về Diên?
- Nếu anh vẫn khỏe mạnh và nếu em không thấy anh trong trạng thái hôn mê lúc ở nhà thương thì có lẽ em sẽ không tiết lộ.
- Sự tiết lộ này có mục đích gì?
-
Dạ, mục đích thứ nhất, em muốn minh oan với anh; nhưng em không xin anh
tha thứ. Mục đích thứ nhì, em muốn hỏi ý kiến anh xem em có nên cho
Diên biết sự thật hay không?
Sau một lúc nhíu mày suy nghĩ, Dinh đáp:
- Thôi, hãy để cuộc sống của Diên phẳng lặng và tươi đẹp như vậy.
- Em cảm ơn anh. Chiều rồi, em phải về.
- Vâng.
Tần ngần một lúc, Trang để tay lên vai Dinh:
- Anh cho em đẩy xe anh vào nhà, nha.
- Thôi, tôi tự lo được.
-
Lúc trẻ, em cùng anh đi không trọn đoạn đường. Bây giờ già, anh cho em
đi cùng anh một khoảng ngắn của đoạn đường còn lại, nha, anh.
Khi Trang đẩy chiếc xe lăn của Dinh đến lề quốc lộ, cạnh tiệm bi-da, Dinh ra dấu cho Trang dừng xe, rồi bảo:
- Cô vào bảo Diên ra đón xe về kẻo trễ.
Biết Dinh muốn thấy Diên một lần nữa, Trang quay đi.
Khi Diên chào, bắt tay từ giã Dinh, Dinh nhìn vào mắt Diên – chính
lúc đó Dinh cảm nhận được niềm thương yêu vô bờ dâng ngập trái tim chai
sạn của chàng. Dinh bịn rịn, không muốn rời tay Diên.
Nhưng, chiếc xe đò dừng lại.
Xe đò từ từ lăn bánh.
Dinh nhìn theo chiếc xe với tất cả xót xa và thương cảm như những lần
Dinh nhìn theo Trang sau mỗi lần nàng đến trại tù thăm nuôi chàng. Vừa
khi đó, từ tâm thức buồn thảm của Dinh, giòng âm thanh xưa vọng
về: “Giọt nước mắt thương con, con ngủ Me mừng... Ôi! giòng nước mắt
trong tim chảy lai láng vào hồn nửa đêm gọi đến mình... Giọt nước mắt
thương em, trên vận nước điêu linh. Giọt nước mắt không tên, xin để lại
Quê Hương...” (2)
Khi xe đò khuất ở khúc quanh, Dinh kín đáo đưa tay thấm nước mắt rồi tự lăn chiếc xe dọc theo lề đường… ĐIỆP-MỸ-LINH 1.- Nguồn Mến Yêu của Hoàng Trọng
2.- Nước Mắt Cho Quê Hương của Trịnh Công Sơn
|
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24496 |
![]() Gởi ngày: Ngày hôm qua lúc 10:58am |
Buổi Điểm Danh Cuối CùngNgày mới bước chân đến Mỹ, với tuổi mới trên 50, lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia niềm vui của con cháu mình và con cháu bạn bè, tháng nào chúng tôi cũng phải tham dự một hai tiệc cưới. Bây giờ suýt soát tuổi 80, sắp lên chức “cố,” cả năm không còn khăn áo chỉnh tề, lên xe “phó hội” ký tên vào sổ vàng, tươi cười đóng hụi chết, mà áo trắng, cà vạt đen, mặt mày buồn thảm đi viếng tang cũng khá nhiều. Bạn bè, đơn vị cũ, một thời chinh chiến hay là long nhong thời thơ ấu, ông thì nằm trong nhà hưu dưỡng đã hơn năm, ông thì đi gậy chống, walker hay ngồi xe lăn, ông thì đã thành tro bụi chứa trong cái hũ có khắc tên để trên chùa, hay ra nằm ngoài nghĩa địa với bia mộ đề tên! Bây giờ không còn vào nhà hộ sinh để thăm cháu ra đời, hay chúc mừng hôn lễ của ai nữa, mà toàn đi nhà dưỡng lão, bệnh viện hay tang nghi quán! Có người bạn mới gặp ở quán cà phê, tươi vui, yêu đời, vài hôm sau vừa nghe tin đột quỵ. Sau một vài tuần ở bệnh viện và trung tâm phục hồi trở về, bây giờ không còn nói được, tay chân lẩy bẩy, gặp nhau, ứa nước mắt, mà không khóc, sợ bạn buồn nản chí. Trong nhà hưu dưỡng, đi thăm một người bạn khác, gặp một người bạn biến chứng tiểu đường, mắt đã mù, nằm ở đây đã bốn năm, còn nhớ tiếng nói của bạn mà mừng, nhưng không còn trông thấy nhau nữa. Rồi có người mang ống dẫn tiểu, có người mang tã, có người sống nhờ thức ăn chuyền thẳng vào bao tử, mà phải sống không chối từ, không thể dễ dàng chọn cái chết dù muốn chết. Tôi cũng biết có trường hợp, anh nằm đây đã trên 10 năm, sau lần “tai biến.” Anh mở lớn đôi mắt nhìn tôi, anh nhớ tôi hay không, tôi không rõ, đôi mắt đờ đẫn, mệt mỏi, đầy những chịu đựng. Lần nào vào thăm anh, tôi cũng thấy chị ngồi đó, theo anh suốt một cuộc hành trình dài lâu, mà vẫn như đi một mình. Nhan sắc chị đã tàn phai, thân gầy như xác ve, sức tàn, lực kiệt. Chỉ sợ một ngày nào đó, chị ra đi, bỏ anh lại cho ai? Rồi một ngày, nghe tin anh mất, buồn, nhưng mừng cho chị, từ nay được giải thoát. Nhưng chỉ ít lâu sau thôi, nghe tin chị cũng theo anh. Chút dầu còn lại trong cây đèn nhỏ đã cạn! Tuần rồi vào bệnh viện thăm một thằng bạn thời niên thiếu, cái thuở bạn bè mùa Hè nào cũng rong chơi, tinh nghịch mà vô tư, có đêm ngủ lại nhà nhau, mà bây giờ nó nằm đó, hôn mê. Cũng một thời hạnh phúc, cũng một thời đau khổ, cũng vật vã trong chiến tranh, cũng tủi nhục trong tù đày, giờ này đâu còn gì vui buồn mang theo nữa. Thôi ra đi bình yên! Những người lính cũ dự định tổ chức họp khóa, thời còn sung mãn, một năm một lần, bây giờ ba năm chưa muốn gọi nhau. Ngày trước tập họp vài ba trăm có dư, nay là vài ba chục cũng khó kiếm. Trong điện thoại, ở xa, có bạn nói thều thào không ra hơi, có anh điếc ù phải đeo máy, có người kêu than đau chân đi không nổi, thì làm sao mà họp khóa, điểm danh với anh em được. Ở gần thì đau mắt, không lái xe được, cũng có nhớ bạn thương bè, nhưng sức đã tàn, lực đã kiệt, cũng chẳng còn vui thú gì những lúc gặp gỡ anh em. Thôi đành một tiếng “xin lỗi” là xong! Trước đó, thăm một anh bạn cùng khóa nhà binh, tuy già yếu, đau ốm trên giường bệnh, nhưng thấy còn lạc quan vui tươi: “Thế nào tháng sau, họp khóa, tôi cũng đến! Lâu quá không gặp anh em!” Lời hứa vui vẻ ấy không ngờ không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi “họp khóa” năm ba thằng với anh tại nhà quàn trong ngày tiễn đưa. Rõ ràng là anh có hẹn với chúng tôi là anh sẽ đến, nhưng ở một nơi khác. Hôm nay họp khóa, chị đã trở thành bà quả phụ, nhận bó hoa từ anh em, nhắc lại như một lời chia buồn. Lần “điểm danh” này, vắng mặt quá nhiều anh em, trong đó có anh. Vắng mặt có lý do - Miễn tố! Quân số hôm nay đã hao hụt nhiều, phần lớn bất khiển dụng, hoặc được xếp loại 2, nhưng không bao giờ được bổ sung! Chắc các bạn còn nhớ giờ điểm danh cuối cùng, hay là buổi chào cờ cuối cùng trong đơn vị vào cái Tháng Tư nghiệt ngã của đất nước, rồi anh em, mỗi người một nơi. Có anh em may mắn trôi giạt, sống sót đến xứ người, có người thất thân lâm cảnh tù đày. Đã có bao người chết trong trại tù hung hãn, bao nhiêu người chìm sâu xuống đáy biển oan khiên. Bây giờ quê người lận đận, mà vẫn có đồng đội, rỗi công đi tìm người thất tán, tái cấu trúc, hay tái bố trí, gọi là đồng môn cùng quân trường, là khóa học, là binh chủng, là đơn vị! Họ gặp nhau, già yếu hơn xưa, tóc đã bạc phơ, câu chuyện ngày cũ, nhớ nhớ, quên quên. Họ gặp nhau mà nước mắt lưng tròng. Nhưng những lần tập họp thưa thớt dần, xa dần, mệt mỏi dần trong ngày tháng phai tàn. Không phải là một lời nói bi quan, đây có thể là lần điểm danh cuối cùng. Ở tuổi ngoài bảy mươi, cuộc đời còn lại chỉ có thể tính bằng giờ. Nhiều đồng đội đã bỏ anh em đi xa, nhiều người đã không đến. Con số người mất cũng lớn bằng người còn. Răng, tóc, trí nhớ cùng với bạn bè đã bỏ chúng ta ra đi biền biệt. Tướng MacArthur đã để lại một câu nói để đời: “Old soldiers never die; they just fade away” (Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi). Tôi thích và yêu kính những người lính chết trận. Tôi không thích những người lính sống cũng như chết, sống như cái bóng ma. Phải có sự khác biệt của một người lính hy sinh trên chiến địa ngày xưa và một người lính cũ chết trong nhà dưỡng lão. Không thể coi họ như nhau. Sống mà phai nhạt dần, cho đến một ngày nào đó, không ai còn nhớ đến mình nữa, thì cuộc đời này buồn biết mấy! Mà thôi, chuyện gì rồi cũng qua, cái gì rồi cũng đến! Huy Phương |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24496 |
![]() Gởi ngày: Hôm nay lúc 8:17am |
Tháng Ba Định MệnhĐỊA NGỤC MAN RỢ NHỨT MANG
TÊN "TÙ CẢI TẠO" Những ngày cuối tháng 3, trời mưa như trút nước, cả ngày lẫn đêm, như xót thương cho số phận non sông Bình Định đã rơi vào tay của lũ vô thần. Qua hơn 2 ngày đêm, chúng tôi không có gì để ăn, ruột đói cồn cào, quần áo ướt sũng, thiệt đói và lạnh. Chúng tôi đi ngang qua những đám gò trồng đậu phộng, nhổ lên hy vọng kiếm củ ăn cho đỡ đói lòng, nhưng vào mùa đó cuối tháng 2 Âm Lịch, củ còn rất non. Chúng tôi rửa bằng nước mưa, nhai lấy nước mà thôi. Chúng tôi qua những cánh đồng bắp cũng thế, chỉ ngậm lấy nước. Qua ngày thứ ba, cả 3 chúng tôi đều bị tiêu chảy, kiệt sức không còn đi nổi. Tôi thấy tình hình như vậy, chắc là số phận tôi không xong rồi, nên nói với 2 anh bạn đồng hành: - Tôi không đi nổi nữa rồi, hai anh còn sức cứ đi theo hướng Đông ra biển may ra còn tàu của hải quân của quốc gia bốc các anh về Sài Gòn. Thiệt là cảm động, tuy không cùng đơn vị nhưng 2 anh lính nói: - Đại úy đi thì chúng tôi đi, ông ở lại chúng tôi ở lại. Chúng tôi không nỡ bỏ ông ở đây! Không còn cách nào khác, chúng tôi đành vào làng, may ra xin được thức ăn và dưỡng bịnh sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Sau đêm thứ ba, chúng tôi đến 1 ngôi làng, trước vài thửa ruộng của ngôi làng có 1 cái chòi, chúng tôi vào chòi khoảng 2, 3 giờ sáng. Chúng tôi vắt cho khô quần áo, nằm ngủ đợi trời sáng. Sau những ngày đói lạnh, bịnh tật, chúng tôi nằm thiếp đi cho đến khi mặt trời mọc. Sáng hôm đó chúng tôi vào một nhà dân gần đó, để nhờ họ cho cơm ăn và dưỡng bịnh, để có sức mà đi. Chủ nhà là 1 người đàn bà nhà quê trông cũng bình thường như những bà nông dân khác, không có gì phải nghi kỵ. Sau khi nấu cơm cho chúng tôi ăn xong, chủ nhà chỉ cho chúng tôi bộ ván để lên nằm nghỉ lưng. Ôi thiệt là một bữa cơm ngon nhứt trong đời, dầu chỉ có cơm trắng với bầu luộc và mắm ruốc. Nửa giờ sau, du kích đã vào nhà, súng AK chĩa vào đầu, bắt chúng tôi trói ké dẫn đi. Tâm trạng tôi lúc này chỉ còn biết tới đâu hay tới đó mà thôi. Sự sống còn phó mặc cho số mệnh. Chúng tôi bị dẫn đi nhiều nơi, đôi khi là trụ sở của làng, đôi khi là trường học, có khi là ngôi đình làng. Dần dần số người bị bắt cứ tăng lên. Nhiều khi một ngôi trường Tiểu học nhỏ, mà nhốt số người lên đến hàng trăm. Đêm đến không có chỗ nằm, chỉ ngồi mà thôi. Ôi thiệt là những ngày ghê gớm nhứt của cuộc đời, không biết còn có cảnh khổ nào hơn không? Chúng tôi không được cho ăn uống chi cả. Tự ai có gì nấy ăn mà thôi. Ngày hôm sau, chúng tôi bị dẫn về hướng Tây, không gian vô định, ai biết mình sẽ bị đưa về đâu, và sống còn đến ngày nào. Khoảng thời gian này, không có một quy ước hay chính sách gì cả, hễ ai bất tuân bọn chúng, thì coi như bị bắn bỏ. Trong đoàn chúng tôi đi, có một binh sĩ còn trẻ, không dè dặt với chúng, đôi khi anh ta đi ngoài hàng một chút thì bị bọn chúng lôi ra bắn ngay. Thiệt là dã man! Chúng muốn bắn để khủng bố tinh thần của mọi người. Ôi sinh mạng con người nhỏ hơn là con ong, con kiến. Dọc đường quốc lộ 19, từ Bình Khê lên đến chưn đèo An Khê, trước kia có lực lượng của SĐ 22 Bộ Binh trấn đóng. Tôi không nhớ rõ là Tiểu Đoàn nào, nhưng thuộc Trung Đoàn 41. Trước đây có 1 trận đánh thiệt là ác liệt, 2 bên vệ đường tử thi của các chiến sĩ VNCH nằm la liệt, có lẽ đã xảy ra gần nửa tháng rồi, cơ thể bắt đầu sình thúi, chỉ thấy quân phục và sọ người trắng hếu. Một số tử thi khác thì còn loang lổ một ít tóc trên phần sọ đã rữa. Mùi tử khí xông lên nồng nặc khắp trời. Ôi chiến tranh và thân phận con người, tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của bà Đoàn Thị Điểm: Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi, Chinh phu tử sĩ mấy người, Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn….. Vào thời gian này, tôi không còn nhớ rõ là mình đã nghĩ gì, chỉ có một con đường, chúng muốn đưa mình đi đâu thì mình theo đó thôi, mặc cho số phận đẩy đưa, cuối cùng là giải thoát kiếp người. Chúng tôi đi đến ngày thứ ba thì đến một trại trước kia là mật khu của chúng. Trại này nằm trong rừng sâu, cách đèo An Khê khoảng 50 km từ hướng Bắc. Cả mấy ngày đi chỉ ăn được một lần, chúng tôi đi ngang một địa phương thì được đồng bào nấu cơm gói sẵn bằng lá chuối phát cho chúng tôi mỗi người một gói không biết là lịnh của họ hay lòng tự nguyện của đồng bào. Đến gần phạm vi của trại, chúng dừng lại để nghỉ và chuẩn bị cho chúng tôi nhập trại, trong lúc này tôi gặp lại một số anh em binh sĩ trong Pháo Đội, thiệt mừng và thiệt tủi cho thân phận những kẻ chiến bại. Thời điểm này chúng bắt giao nộp hết tư trang như đồng hồ, bút máy, nhẫn..Tôi thấy chúng dùng nón để thu, không ghi sở hữu của ai cả. Tôi biết bọn này muốn lấy không rồi, tôi làm dấu cho anh thường vụ Pháo Đội giấu chiếc đồng hồ Boulevard Sport của anh, khi đi đến bờ sông có một số người Thượng đứng bán chuối hoặc cơm. Chúng tôi đổi chiếc đồng hồ lấy 1 nắm cơm muối mè gói lá chuối, 2 thầy trò chia nhau ăn cho qua cơn đói lòng. Thiệt là: “Đoạn đường ai có qua cầu mới hay”, vật chất chỉ có giá trị khi thời gian thích hợp. Còn với thời gian này, vật chất dù cao quý thế nào cũng không qua nổi một gói muối mè. Thế là chúng tôi lần lượt vào trại. Sĩ Quan đều bị đem đi cùm, từ Thiếu Úy trở lên là bị cùm. Số lượng SQ bị bắt mỗi ngày một đông, chúng thả cấp nhỏ, cùm cấp lớn. Bắt được Đại Úy cùm Đại Úy thả Thiếu Úy. Cứ như là cấp số cộng. Phải nói bạn nào có thời gian ở trại Vĩnh Thạnh khi đọc dòng hồi ký này, không thể nào quên được một nơi gọi là ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN đúng nghĩa của nó, không nơi nào ghê sợ hơn. Vì trại nằm trong rừng sâu lam sơn chướng khí. Tổng số binh sĩ bị bắt vào thời điểm cao nhất ở đây có thể lên đến cả ngàn người, nhưng sau hơn 4 tháng, số tử vong lên đến cả trăm. Sốt rét chết, đói mà chết, bị đánh mà chết... Các đơn vị bộ đội cộng sản ở đây đa số đều là những cán binh CS trở về từ Côn Đảo, lòng nung nấu thù hận. Họ muốn trả những trận đòn thù trên các người lính Cộng Hòa còn chút sĩ khí đã ở lại chiến đấu để bảo vệ quê hương. Có một anh Trung Úy người miền Nam trước kia nguyên là giáo sư bị bắt vào trại cùng thời gian với chúng tôi, vì quá căm phẫn trước sự hành hạ của bọn chúng, nên chạy ra vọng gác giựt súng AK của tên bộ đội đang gác cổng nhưng không thành công vì cơ thể suy nhược, ăn uống thiếu thốn làm sao khoẻ bằng chúng. Sau khi giựt súng không được, anh ta bị rượt chạy vòng vòng trong trại. Vì trại quá đông người nên chúng không bắn được. Vì không còn đường thoát, anh ta chạy đến bên những chảo nước đang nấu để cho tù uống và nhảy vào chảo! Thiệt là rùng rợn và thương tâm! Chúng dập tắt lửa, mang anh ta ra ngoài, nhưng anh ta vẫn còn sống. Anh ta chửi rủa bọn Cộng Sản luôn mồm: - Đả đảo Cộng sản. Quân dã man khát máu. Chúng cho khiêng anh vào trạm xá. Thiệt ra chỉ là một cái nhà nhỏ, vài lọ thuốc, vài lọ cồn mà thôi. Anh ta vẫn chửi liên hồi. Chúng lấy đất sét cho vào miệng, lấy cây dọng cho đến khi hết thở. Ôi! các bạn có hình dung được con người hay là ác quỷ nhỉ. Tôi có người bạn ở cùng quê tên Phan Duy Liêm,cấp Tr/Úy ĐĐT/ĐPQ cũng bị bắt vào trại này, tôi không nhớ anh đã làm gì phật ý chúng mà buổi chiều hôm đó, tôi chứng kiến tận mắt, 3 tên bộ đội đứng 3 góc đánh anh từ góc này văng sang góc kia, như là người ta chuyền bóng. Là thân phận tù sao dám chống trả chúng. Sau khi anh được thả ra, lục phủ đã bị dập nát, đã bị tổn thương. Mặc dù thời gian sau được gia đình tiếp tế thuốc men chữa chạy, sau hai năm hao tổn, anh đã lìa đời, bỏ lại một vợ và một con thơ, là bà con họ hàng với gia đình tôi. Ở đây khí hậu chưa có một nơi nào dễ sợ hơn. Danh từ sơn lam chướng khí thiệt là đúng nghĩa của nó. Các nhà giam (lán) được cất dưới những tàng cây cổ thụ, suốt ngày ít khi thấy ánh sáng mặt trời, sương buổi sáng rất nặng và dày đặc, 9 hay 10 giờ mới thấy mặt trời, máy bay thám thính cũng chỉ thấy toàn màu xanh của rừng. Khoảng hơn tháng đầu chúng chưa cho đi làm, mỗi ngày chỉ phát 2 nắm cơm bằng một bát trung bình, vơi chứ không đầy, mì khô hết 80%, vài hột gạo có thể đếm được, tất cả chúng tôi đều đói và sốt rét. Ở đây trung bình 1 tuần sốt rét 3 lần. Sốt thì nằm, dậy được thì đi lao động, xuống trạm xá khai bệnh, cặp nhiệt độ 40 độ C, cho vài viên Nivaquine, 39 độ trở lui, thì chúng cho uống một thứ rễ cây tên là “mật nhân”. Trên đời này chưa có thứ nào đắng như thứ này, uống xong quay đi là nôn thốc, nôn tháo, nôn đến mật xanh, mật vàng, lần sau sốt hoặc nằm liệt không dám khai bịnh nữa, hết sốt thì dậy đi làm. Con người thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, sốt rét triền miên, nên chúng tôi trông như những thây ma còn sống. Da mặt thì vàng bệt, xám ngoét, mắt trũng sâu, chân đi xiêu vẹo, quần áo tả tơi. Ôi! chúng tôi thật là tới tận cùng của địa ngục.Chúng tôi nào có tội tình gì, chỉ biết cầm súng bảo vệ quê hương không có một ý đồ bất chính, không có một tham vọng nào làm tổn thương đến giá trị vật chất hay tinh thần của con người, tại sao chúng tôi lại phải bị trừng phạt một cách khủng khiếp như thế? Có những lúc tuyệt vọng, anh em nói đùa: - Chúa hay Phật gì cũng bỏ chạy hết rồi còn đâu mà cầu nguyện. Sau hơn 3 tháng tôi bị bắt, gia đình tôi mới được tin tức. Vợ tôi từ Phan Thiết ra Bình Định đến trại 3 Vĩnh Thạnh để thăm, thiệt là một chặng đường vất vả. Vì xe cộ không có, vợ tôi phải đi bộ khoảng 50 km đường rừng, phải ngủ lại ở trại 2 rồi mới lên trại 3 được. Biết bao nhiêu gian nan và sợ hãi, khi được gặp mặt, vợ chồng tôi nhìn nhau nước mắt lưng tròng, hỏi thăm vài câu sức khỏe, đâu còn lời nào để nói.Và biết nói gì hơn khi mỗi bàn có 2 bộ đội ngồi bên cạnh, súng AK lăm lăm, nói được gì đây. Về nhà, vợ tôi bị sốt rét chữa trị gần 2 năm mới bình phục. Thời gian ấy, vợ tôi phải truyền sérum liên tục, thế mới biết rừng thiêng nước độc đến cỡ nào. Sau đó thân phụ tôi đi thăm một lần, về cũng bị sốt rét liên tục. Từ đó về sau, chỉ có em trai tôi còn khỏe mạnh đi thăm mà thôi. Có những lúc đói quá, mắt đổ đom đóm vàng khi nhìn thấy các anh em khác có người tiếp tế, có đồ ăn. Muốn quên đi, tôi chỉ còn biết ra gốc cây ngồi luyện Yoga cho quên đi nỗi đói khát, bịnh tật. Ai có biết sách lược triệt hạ kẻ thù, không sợ chúng phản kháng là làm cho chúng đói triền miên, không bao giờ cho chúng ăn đủ no. Suốt ngày tư tưởng lẩn quẩn, mong có cái gì bỏ vào miệng, vào bụng mà thôi, không còn nghĩ được thứ gì khác trên đời. Ôi con người có những lúc phải như thế này ư? Tôi có đọc cuốn Tiểu Đoàn Trừng Giới của Erich Maria Remark, nhà văn Đức, tù binh Đức, cũng bỏ vào các trại tập trung cũng đói như chúng tôi, nhưng thời gian ngắn hạn và không bịnh tật. Còn chúng tôi đói dài hạn và bịnh tật triền miên.Tôi còn nhớ vào thời gian còn ở quân ngũ, tướng độc nhãn Mó Dayan của Do Thái có qua thăm trường Võ Bị Đà Lạt, đã nói: - Muốn chiến thắng Cộng Sản, phải sống với Cộng Sản. Xin những ai, có làm chính khách, chưa bao giờ biết ngục tù Cộng Sản, thì xin nghĩ đến bao nhiêu anh hùng đã hy sinh, bao nhiêu triệu đồng bào còn đang sống vất vưởng nơi quê nhà, vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày vì phương châm “làm cho tập thể, hưởng theo nhu cầu” của chúng. Và cả một thế hệ chúng tôi tù đày oan khiên, khổ nhọc, thì chớ nên phụ quá khứ một thời tự do, dân chủ, thanh bình của miền NamViệt Nam. Ở trại này có những cách giết người rất dã man. Các bạn có biết, một cái nhà cùm kín mít, bên trong là một dãy khóa lại, tất cả việc ăn uống vệ sinh đều tại chỗ, đó là cùm thông thường. Nếu chúng muốn tra tấn ai, cho hai chưn vào hai lỗ chéo nhau, chân phải lỗ bên trái, chân trái lỗ bên phải,dưới mông ngồi có 1 cây đà vuông thông ra ngoài, xuyên qua 1 cây trụ thẳng đứng khoét một lỗ hình chữ nhựt, để cây đà vuông có thể di chuyển được từ thấp lên cao, chúng gọi là cùm yên ngựa. Mỗi lần nâng cây đà lên là ống quyển bị ép vào lỗ cùm. Bên ngoài chúng dùng 1 miếng nêm hình tam giác để đóng, mới đầu đóng là tù nhơn la thất thanh sau đó im dần... im dần, tù nhơn đã hết thở. Ôi địa ngục ở đâu, có lẽ còn ít sợ hãi hơn nơi này. Chúng tôi bị nhốt trong một cái lán gần bên nhà cùm. Đêm đêm nghe tiếng la thất thanh xé tâm can, rồi im dần, im dần và tắt hẳn... Thế là một người đã ra đi không biết là tốt hay xấu với chúng tôi, biết đâu vài hôm đến lượt mình. Ở đây có những cái chết rất kỳ lạ, buổi sáng còn ngồi chơi nói chuyện, vì là ngày Chúa Nhựt, anh bạn ở cùng quê, Đ/Úy Dậu TĐT/CB, ngồi ngã ra, quay quay như gà mắc toi, đem xuống bịnh xá, chừng 1 giờ đồng hồ sau thì chết. Khí hậu thật là rùng rợn, sinh mạng con người còn thua những loài côn trùng. So với tù binh của Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến đâu có khác gì nhau. Sau 1 tháng nhốt 1 chỗ,chúng tôi được chia ra để đi lao động. Những công việc chính là nhổ mì, trồng mì và làm cỏ mì.Buổi sáng tù tập trung do 1 hoặc 2 tên bộ đội dẫn đi tới những bãi mì trong núi hoặc trên đồi cao. Chúng tôi dàn hàng ngang, mỗi người 1 cái cuốc dùng để cuốc cỏ xung quanh cây mì. Cây mì mới mọc cao chừng 5cm hay 1 tấc, rất dễ lẫn lộn với cỏ. Chúng tôi đâu phải nhà nông chuyên nghiệp, từ nhỏ cha mẹ đã hy sinh gian khổ, nuôi con ăn học, mong con sau này thành đạt, đâu nghĩ đến việc phải dùng cái cuốc, cái cày. Ôi công lao của cha mẹ lo lắng nuôi con trong thời điểm này hình như đã sai đường. Nếu chẳng may chúng tôi cuốc gãy cây mì chúng thấy được, thì báng súng AK vào đầu, vào cổ, mũi súng thọc vào sườn, vào bụng. Anh bạn tôi là Đ/Úy Dậu có lẽ bị đòn thù trong trường hợp này, nên đã mất đi vài tuần sau đó, trong bữa sáng Chủ Nhật mà tôi vừa nói ở trên.Thiệt là thê thảm, những tù nhân chẳng may mà mất đi, chúng quấn bằng miếng vải ni lông, dùng để làm áo mưa, xung quanh kẹp 7 nẹp tre quấn lại như 1 khúc dồi lớn.2 người khiêng, 2 người đào lỗ ngoài rừng rồi lấp đi. Xong chúng cắm 1 cái bảng nhỏ viết tên tù nhân bằng sơn.Với 2,3 tháng nắng mưa, thì không còn biết ai là ai nằm đó nữa. Vì thế gia đình anh Dậu đã cố gắng nhiều lần, nhưng vẫn không tìm thấy xác anh ở đâu để đem hài cốt của anh về mai táng nơi quê nhà. Rất may là khoảng tháng thứ 5 chúng tôi chuyển trại, lúc này đại đa số là Quân, Cán, Chính VNCH đã bị bắt hoàn toàn, không còn 1 lực lượng nào trong nước có thể đối kháng và phá hoại chúng được. Chúng thành lập những Tổng Trại Tù Binh để quản lý. Một Tổng trại như thế do cấp Trung Đoàn chính quy quản lý do Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng ký, mục đích là để trấn an dân chúng và để trình làng với Quốc Tế. Giai đoạn cuối ở địa ngục này, tôi bị sốt rét hành hạ liên tục, có lẽ đã xâm nhập vào gan, lá lách hay thận. Người tôi vàng vọt, xám ngoét, mắt trũng sâu, bụng ỏng, chân thì dần dần to ra như chân voi bước đi không nổi nữa. Chúng tôi được đưa xuống Tổng trại 4 An Trường. Ôi, thiệt là một cuộc di chuyển có khác nào như chở heo chở gà ra chợ để bán! 1 chiếc xeMotolova như vậy chở xấp xỉ cả trăm người, người sau phải bám người trước cho chặt, nếu không khi xe quẹo, quán tính của trọng lượng sẽ làm văng những người sau ra ngoài mà chết. Súc vật đem bán cần sống, cần khoẻ chứ chúng tôi thì không…. Tôi được đưa xuống trại 1 của Tổng Trại 4,nhờ gia đình tiếp tế, thuốc men đầy đủ, và ở trại này, chế độ ăn uống có phần dễ thở hơn, nên tôi đã dần dần hồi phục và giữ được cái mạng còm cho đến hôm nay. Phải nói rằng 6 năm tù đày thời gian ở trại này là tươngđối dễ chịu nhứt so với các trại khác. Vào thời điểm này, đa số anh em đều tin rằng sau 3 năm rồi thì thế nào cũngđược thả về, nhưng thiệt là 1 sự lầm lẫn to lớn. Lời nói của chúng như những bó cỏ treo trước đầu con ngựa đang kéo xe, cỏ thì nhìn thấy đó nhưng con ngựa có bao giờ ăn được đâu? Những ngày kêu thẩm vấn, tự khai, ui thực.. là khổ sở. Nói thế nào chúng cũng không tin. Hỏi: - Từ ngày anh tham gia ngụy quân, ngụy quyền đến giờ giết bao nhiêu cách mạng? Tôi trả lời: - Tôi là đơn vị Pháo Binh yểm trợ, họ yêu cầu tác xạ ở đâu, chúng tôi bắn ở đó. Kết quả do các đơn vị Bộ Binh tham gia họ ghi nhận và báo cáo, chúng tôi đâu có trực tiếp tham dự. Hỏi: - Anh nói anh không giết cách mạng sao họ cho anh mang lon Đ/Úy sớm như vậy? Tôi trả lời: - Theo chế độ đào tạo SQ tại miền Nam, có bằng cấp mới được chọn, 1 năm Chuẩn Úy được thăng Thiếu Úy, 2 năm Thiếu Úy được thăng Trung Úy. Sau đó khoảng 3 năm đủ điểm thì lên Đ/Úy. Nhưng dù có nói thế nào chúng cũng chẳng tin. Và cứ như thế hết ngày này đến ngày khác, tôi cứ bị kêu liên tục, hỏi hơn cả tháng, chúng cứ xoáy vào một điểm là giết hại bao nhiêu cách mạng. Cuối cùng tôi phải moi một trận yểm trợ nhớ mang máng theo kết quả của Bộ binh báo cáo, là địch quân tổn thất vài chục chúng mới hết hỏi. Ai có ngờ đâu đó là cái giá treo cổ mà mình tự gánh vào, sau này chúng cho là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân…. Thời gian ở Tổng trại này hơn 1 năm, sau đó có lẽ tình hình thanh lọc tù nhơn giảm dần, chúng tôi chuyển từ tổng trại này sang tổng trại 5 thuộc các đơn vị tỉnh Phú Yên quản lý. Trại này cũng là 1 trại sắt máu, chúng tôi làm việc như lao động khổ sai, và cơm thì không bao giờ được ăn no. Có một vài anh em bỏ mạng vì đốn cây rừng cho chúng, cây đè mà chết hoặc thương tật suốt đời. Các bạn từng xem những phim La Mã thời Cesar, các nô lệ kéo gỗ hay kéo đá, chúng tôi cũng vậy. Một khúc gỗ súc dài 4 hoặc 5 mét,đường kính khoảng 7 tấc, xỏ 4 dây thừng, mỗi bên 4 người khiêng. Đường từ trên núi, leo dốc, xuống ghềnh hiểm trở, nếu rủi ro mà té ngã thì coi như cái mạng đi đoong.Súng AK thì lăm lăm, sẳn sàng nhả đạn nếu chúng tôi tìm đường chạy trốn. Ôi, nếu so sánh, chúng tôi và nô lệ thời Trung Cổ của La Mã có khác gì nhau đâu. Tôi còn nhớ nằm cạnh tôi có ông bạn già là Tr/Tá ĐN Thanh trước 75 là CHT Quân Cảnh Quân Khu 2, và có thời gian Tr/Tá Thanh đã từng làm Trưởng trại giam tù phiến cộng ở Phú Quốc. Có một ngày họ phân công tôi và bác Thanh là 1 cặp trong toán chặt gỗ làm nhà, chỉ tiêu dài 6 mét, đường kính từ 1.5 đến 2 tấc, phải là gỗ tốt, lá nhỏ, vỏ mỏng. Tôi và bác Thanh phải lên núi cao tìm gỗ vì dưới thấp không còn nữa. Sau khi chặt xong, tôi và bác Thanh khiêng về trại. Vì lúc đó tôi còn trẻ nên nghĩ rằng mình khiêng phần gốc để bác Thanh phần ngọn nhẹ hơn. Từ trên triền núi cao, tôi lao xuống dốc vì nặng quá, không kềm được, nên đã té ngã nhiều lần. Rốt cuộc để khỏi tai nạn, bác Thanh dành khiêng phần gốc vì thật sự mà nói, bác rất khỏe và rất đô con. Tối về sinh hoạt kiểm điểm xong, bác nằm và than sao đau lưng và khổ quá. Bên cạnh tôi có anh bạn Luật sư Lê Đình Khang nói nhỏ: - Bác khổ là vì hồi đó bác hà tiện quá mà. Bác càu nhàu hỏi: - Hà tiện gì? Anh bạn Khang nói: - Nếu hồi đó bác sắm bao tải cho nhiều, cứ mỗi chuyến C130 chở tù phiến cộng từ Sài Gòn ra Côn Đảo, bác bỏ hết vào bao ném xuống biển, thì đâu có ngày hôm nay. Bác và chúng tôi cùng cười, quên đi nỗi đau đớn nhọc nhằn. Trong thời gian ở trại này, chúng tôi chứng kiến một cảnh thương tâm. Có 1 số anh em trốn trại nhưng không thoát được, tôi chỉ nhớ tên 2 người là T/Tá Giang và T/Tá Phước, 2 người còn lại tôi không nhớ được. Chúng cho làm mỗi người một cái lều, như lều cắm trại, sát mặt đất, có khung bằng ván để nằm, làm hệ thống cùm dưới chân bằng gỗ, khóa lại suốt ngày đêm, trông giống như những chiếc nhà mồ nằm ngay tại vọng gác trước mặt trại. Chúng tôi ngày nào lao động cũng phải đi ngang qua, trông thật đau xót và thương tâm, nhưng đâu biết làm sao khác hơn…. Vào một đêm, bỗng dưng lửa cháy các chòi, chòi của T/Tá Giang là nặng nhất. Họ được đưa đi bệnh viện Tuy Hòa để cấp cứu. T/Tá Giang phải cưa hai chân đến đầu gối. Các bạn khác đều bị phỏng nhưng cũng được lành. Chúng tôi đều nhận định rằng chúng muốn đốt cho chết rồi cho là tai nạn, vì các chòi nằm giữa miếng đất trống thì sao lại có hỏa hoạn?!!! Khoảng 5 tháng sau, họ thả anh Giang về. Gia đình từ miền Nam phải lo phương tiện di chuyển anh, sau 1975 gạo còn không đủ ăn, làm sao mà sắm xe lăn. Tôi nghe sau này hình như anh đã quyên sinh vì nghịch cảnh gia đình. Ôi thân phận con người, thân phận của những kẻ chiến bại, dưới nanh vuốt của một lũ bạo tàn nhứt và dã thú nhứt trong lịch sử của nhơn loại. Và cuộc đời chúng tôi cứ kéo dài như thế thôi, niềm tin được thả về còn xa lắm, chỉ khi nào sức cùng lực kiệt, chúng bảo gì nghe đó, sự đối kháng không còn nữa, may ra mới được về, lúc đó liệu còn sống sót bao nhiêu người đây. Phần cá nhân tôi, có một hôm, tôi bị sưng chân phải đi cà nhắc, xuống trạm xá được cho làm việc nhẹ. Buổi sáng 1 tên bộ đội vào kêu chúng tôi đi làm, thấy tôi không chuẩn bị, hắn hỏi tại sao, tôi trả lời đau chân, trạm xá cho làm việc nhẹ. Hắn trừng mắt, giơ súng lên và bắt tôi đi làm với đội. Tôi phải cà nhắc theo đội để đi làm. Đứng cuốc đất suốt ngày bằng 1 chân, ngày hôm sau chân kia sưng phù lên. Thế là tôi phải nằm liệt mấy ngày. Ôi, bạn có hình dung được chúng tôi phải chịu đựng như thế không? Sau hơn 3 năm chúng tôi được chuyển giao cho ngành Công an quản lý. Chúng tôi thuộc loại tù chuyên nghiệp, được chuyển đến trại A30 ở Tuy Hòa. Trại này tập trung đủ các thành phần, hình sự, vượt biên, những người bị bắt năm 78, 79 họ gọi là phản động, và chúng tôi từ các tổng trại 5, tổng trại 8, Trại Lam Sơn, Trại Thanh Bình, v.v..Cảm nghĩ của tôi khi đến trại này là thôi, thế là cuộc đời gắn liền với chữ Tù, giống như nhân vật Papillon của Henri Charrière. Ở tù không biết tại sao mình ở tù, ngoại cảnh đưa đến mà mình không tài nào vùng vẫy được. Hay gần giống như nhân vật chính trong tác phẩm “Giờ thứ 25″ của một nhà văn Nga tôi không nhớ rõ tên. Hết ở tù bởi quân Đức, rồi đến Nga, rồi đến Đồng Minh, khi ra đi thì mới lấy vợ, khi về vợ đã 3 con rồi, mỗi quốc gia một đứa. Dưới tay Công An quản lý, thiệt là một sự xảo quyệt của con người, tinh vi đến mức không thể nào diễn tả được. Ở đây cũng thiếu thốn và đói như những trại khác, nhưng ở đây thì gia đình thăm nuôi, tiếp tế cho nhận thoải mái. Mục đích của chúng, cứ cho người nhà thăm nuôi ăn cho no, làm việc cho chúng vượt chỉ tiêu, thì đâu có gì tốt bằng đâu nào. Các trại khác thì thân nhân thăm nuôi chỉ cho đem quà, bánh, thức ăn, không cho nhận gạo. Ở trại A 30 này, không tiếp tế gạo cho tù nhơn là một thiếu sót lớn. Lần thăm ban đầu gia đình tôi không biết, sau mới hiểu ra gạo là chính. Đến A 30, chúng tôi khai phá những cánh đồng ngút ngàn. Tất cả những cánh đầm lầy biến thành ruộng xanh ngút tầm mắt, và những cánh đồng mía chỉ thấy đường chân trời, tầm mắt không thể nhìn hết. Chúng lại lên lớp: - Ta làm ta hưởng. Lao động là vinh quang. Ôi thiệt là bực lỗ tai. Sao có những con người, chỉ biết nói và không cần thái độ của người nghe. Chúng tôi làm cho họ hưởng, nếu gia đình chúng tôi không nuôi thì chúng tôi đã chết đói rồi. Ở đây có một trường hợp, anh Đ/Úy Thức đơn vị Dù, tôi không biết Lữ Đoàn mấy vì ở khác lán. Buổi chiều đi lao động về, anh gặp tên Tr/Tá Hạnh Công An Giám Thị trưởng Trại A 30 hỏi thăm và nói gì đó, sau lên lớp... Vì hắn quá trâng tráo và dối trá nên anh Thức dằn không nỗi nhảy vào đánh tên Giám Thị trại. Công an phòng vệ đã nhào vô bắt và đánh anh Thức, không thể nào diễn tả được. Chỉ biết sau khi đánh xong, chúng bỏ anh vào xe cút kít đẩy vào chỗ biệt giam thì thấy anh như một đống thịt, máu me đầy mình! Ôi con người đến thế thì thôi! Tôi nghe sau đó họ đưa anh xuống bệnh viện Tuy Hòa để điều trị và nghe đâu hình như có người bà con làm lớn ở Hà Nội lãnh anh đem về nhà. Từ đó đến nay, không còn được nghe gì hơn nữa, không biết anh có còn sống, và nếu như có đọc những dòng này của tôi, thì xin anh nghĩ, lúc đó chúng tôi rất căm phẫn chúng nó và xót thương anh nhưng chúng tôi đành bất lực... Tôi cũng không biết nói sao, vì mỗi con người có trình độ nhận thức khác nhau, phải nói rằng nếu nghị lực không đầy đủ thì sẵn sàng làm tay sai cho chúng. Có một ngày, chúng tôi đang cuốc cỏ thì tên Công An quản giáo kêu tôi ra giữa đám mì, giở trò giáo đầu là tôi lao động lấy lệ, sinh hoạt không chịu phát biểu, ù lì, là thành phần chống đối ngấm ngầm, như vậy làm sao tiến bộ, cách mạng xét cho các anh về. Tôi muốn bật cười nhưng không dám, vì nó đã nhàm với chúng tôi, nghe bao nhiêu năm rồi. Tôi lặng thinh, hắn nói tiếp: - Bây giờ anh muốn thể hiện cho chúng tôi thấy sự tiến bộ của anh thì anh phải theo dõi báo cáo tư tưởng của anh nào chống đối cách mạng, ai phát biểu những gì bất lợi cho cách mạng. Báo cáo trực tiếp với tôi, hay bỏ vào hòm thư trước trại. Tôi phải trả lời hắn theo sách vở: - Thưa cán bộ, nhiệm vụ chúng tôi ngoài việc học tập lao động, tôi còn phải báo cáo ngay nếu phát hiện được những thành phần nào trốn trại. Hắn nói: - Tôi yêu cầu anh báo cáo những anh nào phát biểu chống đối kìa. Tôi vâng lấy lệ. Khoảng tháng sau, hắn kêu tôi ra lần nữa vì không thấy báo cáo của tôi, hắn hỏi: - Tôi không thấy báo cáo nào của anh hết, anh là thành phần ngoan cố, chống đối. Tôi nói: - Tôi có để ý một hai bữa, thấy anh em ai cũng an tâm, đâu có nói gì, thành tôi không có gì để báo cáo. Hắn đơn cử một vài lời nói mỉa mai của vài anh em. Tôi nói: - Anh em vui miệng nói đùa, tôi không để ý. Thế là hắn lôi tôi ra, dùng báng súng đập cho một trận. Tôi mang thương tích và nước mắt căm hờn về trại, cơm nuốt không vào. Không phải đau mà khóc nhưng uất hận làm cho nước mắt tuôn trào. Tối hôm đó một vài anh em mang thuốc giảm đau và dầu xoa bóp cho tôi, thật là an ủi. Dầu sao chúng tôi cũng còn có nhiều anh em nghĩa khí và có tình người. Bọn hắn cũng có mắt chọn người lắm. Mỗi ngày chúng tôi đi cuốc đất, cả đội dàn hàng ngang, chỉ tiêu mỗi người 4 mét chiều rộng và 200 mét chiều dài, chúng chọn một tên kêu ra nói nhỏ: - Anh ráng cuốc 250 mét, kỳ sau gia đình anh lên thăm nuôi tôi sẽ can thiệp với trại để cho anh được gặp gia đình ban đêm. Ôi, một sự hứa hẹn tuyệt vời. Tù nhân nào lại không muốn hàn huyên với gia đình sau bao nhiêu năm dài ngăn cách, bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Có người suy nghĩ chín chắn thì thấy là chuyện đau khổ thêm cho vợ mình, có người chuộng vật chất thì cho đó là 1 đặc ân của Cộng Sản. Thật là 1 thủ đoạn quá tinh vi. Thế là hôm sau, tên được kêu cuốc vượt trội hơn anh em khác. Tối về họp kiểm điểm chúng nêu ra: - Anh A cũng như các anh, cùng sức vóc, cùng tiêu chuẩn ăn uống như nhau.Người ta cuốc được 250 mét, các anh cuốc có 200 mét, lại kêu không đủ giờ, chứng tỏ các anh làm cầm chừng, lười lao động. Bao giờ các anh mới tiến bộ đây? Bắt đầu từ ngày đó, chỉ tiêu là 250 mét/ngày. Chúng tôi cuốc từ sáng sớm đến chiều tối, tay chân rã rời, tai như bốc khói. Trên đường đi về trại, thân thể rã rời ngất ngưỡng như người mộng du, vì sức đã cạn rồi. Chúng tôi chửi thầm, ôi những thằng ngu, nào dám chửi thẳng vào mặt, nó mà báo cáo một phát là biệt giam, hai chưn vào cùm, làm bạn với gián... Ở đây cũng có tổ chức những đêm văn nghệ, diễn viên là các em vượt biên bị bắt. Các em còn rất trẻ, có em đã bị bắt vào đây đến 3 lần, thật đáng thương. Họ cho tập dượt, và cho trình diễn những đêm thứ 7, chủ nhật hay các ngày lễ của chúng. Nội dung hình như chúng tôi gần như thuộc lòng vì xem đi xem lại, tháng này qua tháng khác. Khi nào tổ chức văn nghệ là chúng lùa hết ra sân vận động, không được ở lại trong trại. Tôi và anh bạn Thắng đem áo mưa ra để nằm ngủ, chúng bắt gặp. Thế là hôm sau chúng họp kiểm điểm là chúng tôi không chịu tiếp thu văn hóa cách mạng, thành phần bướng bỉnh ù lì. Có những trò khác, bọn chúng mị dân, mà ngay cả một số gia đình chúng tôi cũng nghĩ chúng là nhân đạo. Thí dụ sau khi cho vợ con thăm nuôi, tiếp tế, tối còn cho gặp. Ngày hôm sau, gia đình về, chúng đưa sổ cho thân nhân viết cảm tưởng. Chúng đem trình làng với đồng bào ở ngoài hay các phái đoàn quốc tế viếng thăm. Chúng đem khoe khoang cũng như phổ biến trong trại, thế thì nhân đạo quá đi chứ, thử hỏi có thân nhân nào dám viết lời không tốt cho chúng đâu. Ở trại này, trước khi chúng tôi chuyển đến, có nghe kể lại một chuyện thương tâm. Là có một số anh em giựt súng tên Công An định bỏ chạy nhưng bị 1 tên Tr/Tá của ta ôm lại để cho Công An bắn chết 1 hay 2 đồng đội của ta. Cả trại rất căm phẫn và khinh bỉ tên này. Khi chúng tôi đến trại A 30 thì tên này đã được bọn Cộng Sản cho định cư vùng kinh tế mới Mai Liên do trại quản lý và được đem gia đình đến sinh sống vì hắn có công với cách mạng. Tên này là Tr/Tá Lập trước kia làm Quận Trưởng quận Vạn Ninh, tôi biết vì vợ của hắn có chút bà con xa với gia đình tôi. Những năm sau, khi được phóng thích về, có một lần tôi ghé thăm gia đình cha mẹ vợ hắn, thì mới hay việc đời có vay, có trả, thời gian sau vợ hắn đã bỏ hắn, sống với người khác rồi. Những khổ hình ở trại làm sao mà nói cho hết, tôi chỉ ghi lại những điều mình nghe, mình chứng kiến để bạn đọc suy nghĩ thấy cái bạo tàn, quỷ quyệt của chế độ để đem một chút ánh sáng cho những ai vì một chút quyền lợi riêng tư mà muốn cái gọi là “hòa hợp hòa giải với Cộng Sản”. Các bạn có biết, cảnh đời tù tội là đắng cay, khổ nhọc nhưng cũng có lắm chuyện cười ra nước mắt. Chúng tôi là những thành phần gồm sinh viên, giáo chức, cán sự hay hành chính bị động viên. Dẫu sao, với xã hội miền Nam thời đó chúng tôi cũng là thành phần gọi là trí thức chút ít. Từ nhỏ cha mẹ sinh ra đã hy sinh cho con ăn học những mong cho con mình đỗ đạt, cho cuộc sống vững vàng, chúng tôi nào có quen cái cuốc, cái cày. Khi bị bắt vào đây chúng xem bọn tôi như một lũ ăn hại, vô tích sự. Có một ngày đội chúng tôi đi cày lần đầu, các bạn có biết, trâu bò cũng quen với ngôn ngữ địa phương. Ở miền Trung từ Bình Định trở vào, muốn bò quẹo trái thì gọi Thá, muốn bò quẹo phải thì gọi Dí, muốn chúng dừng lại thì gọi Dò. Còn ở vùng Quảng Trị muốn quẹo trái thì gọi Tắc, muốn quẹo phải thì dùng Rị, và muốn dừng lại thì dùng Họ. Hôm đó mỗi người được phát một cặp bò và 1 cái cày, có 1 anh người Quảng Trị cầm cày và cầm roi điều khiển bò, cứ dùng hết Tắc rồi Rị, bò nó không biết đi đâu, nó quẹo lung tung. Bò đi mãi gần đến bờ rào đụng nhà dân, anh la Họ...Họ... bò vẫn đi, hoảng quá anh la: “Stop, stop, stop”. May có vài anh em ra chận bò lại, chúng tôi có dịp cười nghiêng ngửa. Khi anh chàng trở lại, chúng tôi nói: - Bò nó đâu có đến trường mà biết tiếng Anh, ông bạn. Những kỷ niệm đau khổ cũng như là hạnh phúc của con người đều có giá trị ngang nhau trong tiềm thức, người ta khó mà quên được. Có những ngày chúng tôi đi làm ruộng tại cánh đồng tên là Đầm Sen. Cánh đồng đầm lầy bạt ngàn, bỏ hoang lâu ngày từ thời Pháp thuộc, thật xa xôi và hẻo lánh, bèo lát, điên điển, cỏ dại mọc như rừng, mỗi lần nhảy xuống ruộng, có chỗ sình ngập lên tới cổ. Và có những đám ruộng nước đĩa ơi là đĩa... lội như bánh canh. Từ nhỏ tôi cũng như nhiều anh em khác, nói chung môi trường sống là thành phố, nên thấy đĩa rất là sợ. Lần đầu tiên nhảy xuống ruộng, thấy nhột nhột nhảy lên, là một vài con bám chân bám đùi, máu chảy tùm lum. Úi trời ơi, thật là hãi hùng, bắt chúng xong lại nhảy xuống vì nhảy lên bờ thì AK chĩa vào đầu. Ngày ấy làm ruộng về, mặc dù đói, nhưng cơm nuốt không nổi vì tinh thần căng thẳng và hãi hùng quá mức. Mấy hôm sau, chúng tôi rút kinh nghiệm, chọn bộ quần áo nào mới nhất, không có chỗ rách, bỏ áo vào trong quần, cột 2 ống chân cho chặt, cột quanh lưng, cột hai khuỷu tay, nhờ thế mà khi nhảy xuống ruộng, thấy đĩa bơi quanh người nhưng chúng không bám được nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, chúng vào tận chỗ kín để cắn, về nhà máu me tùm lum phát khiếp. Cũng có những chuyện vui đáng nhớ. Số là sau khi khai hoang xong, những đám ruộng bùn quậy lên rất nhiều cá nên anh em tha hồ bắt. Tôi thì chạm cá rất nhiều, nhưng chẳng bao giờ bắt được cả. Bắt nó lên là nó vuột, bắt 1 tay cũng vuột, 2 tay cũng không xong. Chiều về hỏi mấy anh bạn chuyên nghiệp chỉ giùm cho một chiêu làm sao để bắt mà nó không vuột, anh bạn cười: - Bắt cá cũng như đi cua gái vậy, khi đụng nó phải từ từ mò từ đuôi lên tới đầu, khi vị trí của đầu nằm trong lòng bàn tay rồi, thì dịu dàng nắm lại, thật chặt và thật êm thì không bao giờ bị mất cả. Thế là hôm sau theo cách chỉ dẫn của anh bạn, tôi được mấy bữa bồi dưỡng ngon lành. Có những ngày làm cỏ ở những thửa ruộng cạn, chúng tôi không tìm được thứ gì để ăn. Vài ba người, mỗi người vài chú nhái, chiều về “cải thiện”, 1 vài con không đáng là bao, người nọ dồn cho người kia để ăn cho đủ. Các bạn biết sao không? Cho thì tiếc, bèn oảnh tù tì ai thắng thì ăn hết, ai thua thì nhịn. Ôi con người khi tới tận cùng đất đen rồi thì mới nhận chân được giá trị của nó. Chuyện đã 28 năm rồi, nhiều khi tôi nghĩ mình cũng nên quên đi để sống những ngày còn lại của cuộc đời. Nhưng thỉnh thoảng quá khứ lại hiện về, không sót 1 chi tiết nhỏ nào. Có những đêm ác mộng hãi hùng, bị đánh, bị tra tấn và những cơn trốn chạy dưới lằn đạn AK của chúng. Khi tỉnh dậy tinh thần bàng hoàng, đầu óc ngây ngô. Và không biết đến bao giờ tâm trí mới được bình yên đây. Đọc qua lịch sử biết bao sự hưng vong của chế độ Đinh, Lý, Trần, Lê... Biết bao nhiêu thi nhân đã tiếc thương một thời quá khứ êm ấm, thanh bình..... Tạo hóa gây chi cuộc hý trường, Đến nay thắm thoát mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước còn cau mặt với tang thương, Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Hay: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia… (Bà Huyện Thanh Quan) Hoặc: Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ Năm canh, máu chảy đêm hè vắng Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ Đêm đêm ròng rã kêu ai đó Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ. (Nguyễn Khuyến) Vận nước đã đổi thay, quê nhà chìm đắm trong cảnh bất công. Giới thống trị thì vàng son rủng rỉnh, xe pháo dập dìu, người dân còn lại phải vật lộn với cuộc sống đầy gian nan mới đủ cơm ngày hai bữa, và còn phải lo thuốc thang khi đau yếu. Không hiểu tiền nhân có đau khổ như chúng ta không? Nếu có thì chỉ có sự thay đổi thể chế xã hội và đau nỗi mất nước, không đến nỗi phải lưu vong như chúng ta, trên 15.000 dặm đường chim bay, xa hơn một nữa vòng trái đất. Muốn tìm một chút tình cảm thân thương nơi cha, nơi mẹ, nơi anh em, nơi bạn bè hay người thân thật là khó vô vàn. Thật là: Đau lòng tử biệt sinh ly, Muốn cho tái ngộ chỉ nhờ mộng trung... Chúng ta đã may mắn thoát khỏi ách bạo tàn, dung thân ở xứ tự do. Tuy không dễ, nhưng chúng ta có đầy đủ quyền tự do của một con người được pháp luật bảo vệ. Quê nhà còn biết bao người thân đang trầm luân với cuộc sống đọa đày và bất công, chỉ hy vọng chút tin vui khi có con cái, hay anh em gửi về chút ít quà hay tiền để mạch máu đang chảy không bị cạn... bởi một lũ vô thần, tham lam, ích kỷ và tàn bạo..... Với những dòng này, mong đóng góp chút ít tư liệu về cuộc chiến, và những gương hy sinh của các Sĩ Quan QLVNCH, những anh hùng không tên tuổi đã nằm xuống trong cuộc chiến, để giữ gìn miền Nam êm ấm thanh bình gần 3 thập niên từ sau 1945-1975. Và để cho thế hệ sau phân tích sự hy sinh gian khổ của cha ông. Và cũng mong quê hương dân tộc sớm khỏi ách bạo tàn của một lũ người vô thần thống trị, và mãi mãi thanh bình trong chiều hướng tự do dân chủ..... Võ Đức Nhuận (Đây là những nhân vật có thiệt trong chặng đường chiến đấu cuối cùng, và những trại tù man rợ nhứt đã đi qua). |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
| << phần trước Trang of 116 |
|
||
Chuyển nhanh đến |
Bạn không được quyền gởi bài mới Bạn không được quyền gởi bài trả lời Bạn không được quyền xoá bài gởi Bạn không được quyền sửa lại bài Bạn không được quyền tạo điểm đề tài Bạn không được quyền cho điểm đề tài |
|