Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Thơ Văn
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Văn Học - Nghệ thuật :Thơ Văn  
Message Icon Chủ đề: Tình Khúc Kinh Kha Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 8
Người gởi Nội dung
Hoa Hạ
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 19/Jan/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 944
Quote Hoa Hạ Replybullet Gởi ngày: 30/Apr/2016 lúc 8:37pm


ĐỜI LÍNH

Lời tác giả: Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

Anh ạ! Tháng Tư mềm nắng lụa,
Hoa táo hoa lê nở trắng vườn,
Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi,
Em mở lòng xem lại vết thương,
Anh ạ! tháng tư sương mỏng lắm,
Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê,
Hay sương thành lệ tra vào mắt,
Mờ khuất trong em mọi nẻo về.

Sau khi đọc bài thơ này của nhà thơ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng thảng thốt. Đã 37 tháng Tư trôi qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt. Bốn mươi mốt năm về trước, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã lớm chớm bạc, “cùng một lứa bên trời lận đận”, sau cơn Đại Hồng Thủy tháng tư năm 75, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: “Thằng thì đang còng lưng trong các Shop may tại Santa Ana Cali, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở Tân Tây Lan, thằng thì đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài gòn”(trích). Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình, chúng tôi đã làm gì cho Tổ Quốc?

Trước năm 75, tôi là người lính trong hàng ngũ Quân Đội Miền Nam, với cấp bậc thấp nhất là thiếu úy, với chức vụ nhỏ nhất là trung đội trưởng, ngoài số lương đủ sống mà tôi lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía “triều đình”. Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên, tôi không hề có một mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ, và tôi cũng không muốn tiếp tục một hành trình “Việt Nam Cộng Hòa kéo dài”. Tôi viết như để thắp hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay tại hải ngoại này.

Mùa Hè năm 1972, người miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ tập bút ký chiến trường rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam. Mùa Hè Đỏ Lửa năm 72 là năm quân đội của hai miền Nam-Bắc dốc sức đánh một trận chiến sinh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong. Niên khóa năm 71-72, tôi là sinh viên Ban Sử Địa thuộc Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành, tin tức chiến sự từ các mặt trận gởi về dồn dập, lúc đó bạn bè tôi lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi thấy miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được hỗ trợ bằng tiếng hát ma quái Khánh Ly đã làm băng hoại chán chường cả một thế hệ thanh niên thời đó. Ngoài ra, còn khá nhiều những bài ca những tiếng hát đã đâm thấu lòng người “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa, trên trực thăng sơn màu tang trắng…”. Tại sao trong một đất nước đang có chiến tranh mà có những điều kỳ lạ này xuất hiện. Điềm Trời báo trước chăng?.

Chính quyền miền Nam sau đó ra lịnh tổng động viên, tất cả các nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ những người xuất sắc. Lúc đó những gia đình có tiền của, họ chạy đôn chạy đáo lo cho con cái của họ chui vào chỗ này chui vào chỗ nọ, miễn sao khỏi ra mặt trận. Đối với họ, chuyện ngoài mặt trận là chuyện của ai khác, không liên quan gì đến gia đình họ. Hằng ngày họ xem TV thấy cảnh khói lửa ngập trời, người chết hàng hàng lớp lớp, họ coi đó là chuyện ở đâu đâu, chẳng ăn nhập gì tới họ. Còn tôi thì ngược lại, tôi muốn ra mặt trận càng sớm càng tốt, hình như định mạng đã an bài cho tôi. Trong bài “Đại Bác Ru Đêm” của Trinh Công Sơn có một câu rất “độc”, “đại bác đêm đêm dội về Thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”, tôi chính là người phu quét đường đó. Tiếng đại bác đã làm lòng dạ tôi nôn nao, tôi muốn ra mặt trận để chia lửa với những người bạn cùng thời với tôi, để chịu chung khổ nạn với đồng bào tôi, trong những ngày tháng điêu linh nhất của đất nước. Tiếng đại bác đã ầm ĩ trong lòng tôi, kéo dài mãi từ ngày đó cho tới tận bây giờ.

Thế rồi cũng đến phiên tôi nhập ngũ, giã từ Trường Văn Khoa với Đại Giảng Đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, thôi nhé giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn. Tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ nên đã đưa một số ra thụ huấn ngoài Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của miền Nam được tập trung vào hai quân trường này, miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.

Vào quân trường, Khóa 4/72 toàn là các sinh viên các trường đại học tụ họp về đây, chúng tôi làng xoàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết, tuổi trẻ mà, lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có Trời tính. Thời gian 6 tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì sự huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự thành một người lính thực thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng một cơ thể gang thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp. Trong 5 tuần lễ đầu tiên vào trường, gọi là giai đoạn “huấn nhục”, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi tuân phục sự chỉ huy điều động của các huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ mọi hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy không được đi… các huynh trưởng quần chúng tôi từ sáng sớm tới chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết. Sau 5 tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quỳ xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa.

Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như bãi Cây Đa, đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh Viên Sĩ Quan chỉ huy buổi Lễ: “Quỳ xuống các Sinh Viên Sĩ Quan”, sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon chuẩn úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa: “Đứng lên các Tân Sĩ Quan”. Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.

Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài Gòn, bỗng cái ông thượng sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn: “Chuẩn úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, Sư Đoàn 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề”. Oái oăm thay ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho Sư Đoàn 7.

Tôi trình diện Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn 9 tại Vĩnh Long. Sư đoàn này có 3 trung đoàn: 14,15 và 16. Tôi được đưa về Trung Đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về Trung Đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài Gòn qua Ngã Ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa đồng tháp mười lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú. Đám tân sĩ quan chúng tôi sau khi trình diện trung đoàn trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ Huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị sĩ quan Quân Số hỏi có chuẩn úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong “Tháng Ba Gẫy Súng” tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.

Một trung đoàn Bộ Binh có 3 tiểu đoàn và 1 Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các tiểu đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. Đại Đội TrinhSát cho người lên dẫn tôi về trình diện đại đội trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của trung đoàn. Trung úy đại đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giong nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ: “Chuẩn Úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”. Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời: “Anh về làm trung đội phó Viễn Thám”. Trời đất, tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là trung đội trưởng, mà giao cho tôi làm trung đội phó là sao nhĩ? Lúc đó tôi không biết rằng làm trung đội phó là còn may, các sĩ quan về sau nữa có khi còn làm trưởng toán Viễn Thám, thiệt là chết dở.

Đai đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm 2 Trung Đội Trinh Sát và 1 Trung Đội Viễn Thám. Các sĩ quan trung đội trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng? Sau một thời gian sống gần gũi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quý trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.

Vài hôm sau, gặp bữa đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước đại đội, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu, cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng, bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:

– Chuẩn úy tốt nghiệp trường sĩ quan nào vậy?

Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:

– Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:

– Vậy mà tôi tưởng chuẩn úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ!

Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh Viên Sĩ Quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm, hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp. Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng, ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chớ hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng, tôi lặng lẽ ứa nước mắt.

Tôi về làm phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72. Anh ta là người trí thức có bằng cử nhân Chính Trị Dinh Doanh, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dở khóc dở cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng: “Sao chuẩn úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ, ý trời ơi! Sao da của chuẩn úy trắng nõn như da con gái vậy?”. Tôi ngượng điếng người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông thượng sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát: “Ý cha! cái bàn chân chuẩn úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!”. Thiệt là khổ cho cái thân học trò của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán.

Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy. Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa sạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đấu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trông rất kỳ quái.

Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa sạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được. Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lỗ chỗ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe. Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường Bô Binh Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì quân trường này đã đào tạo 55 ngàn Sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn sĩ quan đã tử trận và không dưới 10 ngàn người đã trở thành phế binh thương tật. Trung đội trưởng là chức vụ đầu tiên của sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, trung đội trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, trung đội trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt trung đội trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên lính dễ chết thì trung đội trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao chuẩn úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung đội phó, không biết nói sao nữa.

Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, trung đội tản ra, tôi cùng Chuẩn Úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy Chuẩn Úy Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền tin nói với Chuẩn Úy Thắng: “Đại Bàng kêu chuẩn úy lên trình diện gấp.” Chuẩn Úy Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền Tin lại bảo tôi: “Đại Bàng muốn gặp Chuẩn Úy Châu”. Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do Chuẩn Úy Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi: ” Nè! Chuẩn Úy Châu, tôi giao trung đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”. Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông xin tuân lịnh. Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn: “Tất cả theo tôi”. Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa). Cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quăng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông xếp của mình. Thiệt là khôi hài. Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho Chuẩn Úy Thắng, tôi trở về vị trí cũ.

Sau đó tôi được điều qua các trung đội khác, phụ trách công việc tạm thời cho các trung đội trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế. Ông trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các sĩ quan trong đơn vị cho Đại Bàng mới được biết. Sau khi điểm mặt 3 trung đội trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một trung đội phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người: ”Đây là một tay sĩ quan xuất sắc, một tay chơi tới bến… “. Hai người sửng sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bươn chải về phía trước. Đối với Đại Bàng mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ sĩ quan xuất sắc nhất phải là mấy ông trung đội trưởng, sao lại là cái ông trung đội phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặt khác, đầy hung hiểm chết người.

Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm trung đội trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải “động não” đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp chỉ huy, chính điều đó đã đẩy trung đội tôi vào nơi tử địa. Khi đại đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, trung đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, trung đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ trung đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa. Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà trung đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quý mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có huy chương nào quý giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quý tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ sử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nổi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi đầu sóng ngọn gió. Vậy mà tôi sống, mới kỳ.

Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè-Cai lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của đồng bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi thiết giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt 1 ngày với xe thiết giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có 1 sinh vật nào sống nổi trong vùng này, đừng nói chi đến con người. Vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn. Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng–Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền – Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này. Ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lềnh trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai – Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc-ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, 2 bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lát, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.

Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.

Mùa Khô năm 74, đại đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung đội tôi nhảy líp đầu. Khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm 1 gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng 3 khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh. Một lát sau cả Đại đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ.

Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ. Đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có 1 đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân. Lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất, tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư! Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự

Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ rạch, có tên là Rạch Cái Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này. Người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là hóc-bà-tó. Đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ. Cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết. Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn giấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luộc.

Lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn. Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời, chúng tôi hành quân mà như đi picnic. Nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.

Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường 1 chi đoàn thiết giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày giông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến 1 điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn. Trung đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng: ”Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!”. Không ngờ lời nói của tôi “linh như miễu”. Đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh rờ rẩm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, song phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ 2, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn mà còn sống như tôi vậy

Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi: ”Thiếu úy ơi! cứu em! “ Tôi nghe xong mà sợ điếng hồn, té ra nãy giờ đệ tử của tôi bị trúng đạn mà tôi không hay biết, bởi vì cỏ cao che khuất nên tôi không thấy anh ta nằm trước mặt, cách tôi chừng dăm ba thước. Thông thường các sĩ quan trung đội trưởng có 2 người lính đệ tử, 2 người này có nhiệm vụ lo chỗ ăn chỗ ngủ và lo mang vác đồ đạc cho ông Thầy. Những người lính đệ tử của tôi thường đối với tôi rất chí tình, họ sẵn sàng sống chết vì tôi mà không hề so đo tính toán. Khi tôi dẫn Trung đội xung trận, 2 người lính này theo sát để bảo vệ cho tôi. Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là Hạ Sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.

Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung đội lại cho Trung đội phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt: ”Đừng làm thế, Tường ơi!“. Sau đó, trung đội tôi bị bắn tan tác, Chuẩn Úy Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt!”

Không biết sao đại đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa sạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy. Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nổi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chổ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp. Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán. Vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo.

Đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình. Ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay. Tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vắng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mỉm cười thật tươi tắn. Tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu. Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên 1 cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết, trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo. Một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em. Câu chuyện thật tội nghiệp. Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này,đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết,nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.

Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm phó cho tôi, làm giọng “chảnh”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé: “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát”. Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu. Ban Quân Số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ. Càng về sau các sĩ quan rơi rụng dần dần, Chuẩn Úy Hà cũng được đưa lên làm trung đội trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả đại đội được lịnh tấn công vào mục tiêu. Trung đội của Hà và một trung đội nữa vỗ vào mặt chính diện, trung đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn tổ đại liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra 1 trái hỏa tiển B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà. Tội nghiệp Hà chết không toàn thây. Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài Gòn để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta. Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép 6 ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đính anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:

– Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?

Tôi lúng túng trả lời:

– Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.

Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xả làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về. Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.

Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại Bịnh Xá Tiểu Đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành. Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy. Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi bịnh xá, đứng trên Quốc Lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.

Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

NĐC

Nguồn: Thư Viện Toàn Cầu

Chỉnh sửa lại bởi Hoa Hạ - 01/May/2016 lúc 2:27am

Trời mưa không lớn lắm
Nhưng đủ ướt đôi đầu
Cuộc tình không lớn lắm
Nhưng chiếm hết đời nhau.

Hoa Hạ

IP IP Logged
Hoa Hạ
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 19/Jan/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 944
Quote Hoa Hạ Replybullet Gởi ngày: 20/May/2016 lúc 7:37pm
Năm Xưa Tháng Cũ Tôi… Đợi Chờ

– Diễm Xưa




Khi viết những dòng này lòng đắn đo, ái ngại vì phải dùng chữ “tôi” nhưng vì là chuyện thật của đời mình nên không còn cách nào khác phải dùng chữ tôi “đáng ghét” để kể lại những gì đã trải qua trong những năm xưa tháng cũ.

Ðời tôi cũng như những người con gái kháccắp sách đến trường trong khi chiến tranh bùng nổ khắp quê hương, cảnh đau thương tang tóc diễn ra hằng ngày. Cũng vì sống ở Sài Gòn – thành phố nhộn nhịp, bình an, không có vẻ chiến tranh – nên niềm ưu tư chính của tôi là họïc chứ không mấy quan tâm đến thời cuộc

Năm 1973, ba tôi làm việc tại hãng thầu rác căn cứ Long Bình mà chủ là một người thân trong dòng họ. Ba tôi vì là cháu ruột nên được tin cậy cho trông coi người làm. Vì đi về xa xôi nên quyết định mua một căn nhà ở Biên Hòa, ở gần Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III để đi làm gần hơn. Căn nhà ở ngay mặt đường Quốc Lộ 1 nên mở tiệm phở để mợ tôi có việc làm đỡ buồn. Mấy tháng sau, bán nhà ở Sài Gòn dọn về Biên Hòa ở. Vì mở tiệm muộn màng nên không được đắt khách như những tiệm phở chung quanh. Buổi sáng, đa số là sĩ quan và lính trong quân đoàn ra ăn phở, sinh hoạt cũng nhộn nhịp và dễ sống tuy không được vui như Sài Gòn.

Khi đông khách, hai chị em phụ thu tiền và bưng phở. Khách là lính cũng có lúc ngỗ nghịch trêu ghẹo nhưng không muốn quen với ai vì tôi nghĩ tất cả đã có vợ rồi, họ chọc ghẹo cho vui mà thôi. Cũng vì quán phở đó mà sau này tôi quen một người. Lần đầu tiên đến ăn phở với một người bạn vào buổi chiều tối. Hai người ngồi ăn khá lâu. Khi tính tiền nhìn anh tôi tưởng là thầy giáo hay công chức, khuôn mặt rất trẻ, ít nói và có vẻ sống về nội tâm. Ðặc biệt anh chẳng tỏ vẻ gì chúù ý đến tôi, anh móc túi lấy tiền trả, nhìn tôi rất lạnh lùng. Cũng vì lạnh lùng, chẳng nói một câu nên làm tôi chú ý. Thế rồi thỉnh thoảng anh lại ra ăn phở, chỉ buổi chiều, buổi sáng chẳng biết anh đi đâu.

Mấy tuần sau, vào lúc xế trưa, lúc quán đang vắng khách, chẳng có ai, chợt thấy một người bước vào, mợ tôi ra tiếp. Ở trong nhà nhìn ra thấy quen quen nhưng vì bận đồ lính nên chưa nhận ra là ai. Hôm đó lại ăn hai tô nhưng ăn không hết (sau này anh cho biết vì quán hơi ế nên ăn ủng hộ). Khi ra tính tiền mới biết là người tôi quen, tưởng là thầy giáo ai ngờ lại là phi công. Lòng tôi bỗng thấy dửng dưng và mất hẳn cảm tình với anh vì từ lâu, qua kinh nghiệm những người bạn gái cùng lứa, hay trước tôi mấy lớp đã từng là người tình và cũng là nạn nhân nhận xét: Mấy ông phi công hào hoa phong nhã nhưng lại rất “đểu“. Khi học ở trường Trần Hưng Ðạo, tôi thấy vừa tan trường, đã có mấy ông phi công chờ sẵn, đón đi chơi, ai nấy đều mơ ước được ngồi ôm eo mấy ông lính tàu bay ấy, nhưng rồi có mấy khi trọn vẹn, đa số bị dở dang, bị bỏ rơi phũ phàng. Bạn bè cho biết như thế nên tôi có ấn tượng xấu về những người phi công như anh.

Từ hôm ấy, không thấy anh ra ăn nữa, cũng không thấy ghé vào ban đêm như lúc trước. Tôi tưởng anh đọc được tâm tư và những suy nghĩ xấu về người phi công của tôi, anh tránh né, không thèm đến. Mãi sau này mới biết anh không còn ở Biên Hòa mà đã ra Ðà Nẵng, anh đi chẳng một lời giã từ. Hóa ra anh cũng chẳng để ý gì đến tôi.

Khoảng hơn tháng sau, anh ghé thăm vào buổi chiều, đi cùng với người bạn. Anh không bận đồ bay nên trông dễ thương hơn, tôi có cảm tình hơn. Anh ngồi nói chuyện rất bình thường, không có vẻ gì tán tỉnh hay khoe khoang. Hỏi ra mới biết anh đi phép về thăm gia đình. Thế rồi, mỗi tháng anh về phép một lần, lần nào anh cũng ghé thăm tôi, anh chẳng mua quà mà cũng chẳng tặng tôi gì hết, đi xa về mà chẳng biết điều, anh có vẻ còn xa cách lắm. Anh cũng chẳng mời tôi đi chơi, đi ăm tiệm hay đi xem phim lần nào. Tôi nghĩ ở ngoài Ðà Nẵng – nơi tôi đã từng sống khi còn ấu thơ – một thành phố lớn với nhiều cô gái đẹp đa tình, người phi công chiến đấu như anh chắc phải có ít nhất là vài cô bạn gái nên anh có vẻ nhạt nhẽo với tôi. Cũng vì vậy vừa ghét… vừa thương.

Từ đó, những ngày phép ngắn ngủi hàng tháng đưa tôi đến gần anh hơn, hình ảnh của anh đã lén chui vào con tim của tôi lúc nào không biết. Thật là “Ghét của nào, Trời trao của ấy“.

Khi Ðà Nẵng mất, chưa thấy anh về, tôi hơi lo, sợ anh bị kẹt lại. Nhưng phi đoàn anh đã về Biên Hòa rồi lại dời về Phi Trường Tân Sơn Nhất. Buổi trưa ngày 26 tháng 4 năm 1975, bất chợt anh về ghé thăm tôi. Anh chào ba mợ tôi rồi ra dấu theo anh ra phía sau nhà, anh cho biết anh sẽ phải đi qua Thái Lan vì phi trường đang nằm trong tầm pháo kích của Cộng Sản nên không hoạt động được. Qua bên đó, bay về ném bom yểm trợ. Ðể cho phi công an tâm chiến đấu nên cho gia đình đi trước. Gia đình anh không ai muốn đi, ba mẹ anh già rồi lại đông con nên không muốn đi đâu nữa, mấy đứa em còn nhỏ, đi chẳng ai lo. Anh đề nghị đưa tôi đi trước, anh sẽ bay qua vào giờ phút chót.

Lúc ấy, tôi linh cảm như sắp mất nhau vì nghĩ anh qua Thái Lan chắc gì anh sẽ về. Tôi xúc động bật khóc, lắc đầu nói: – Anh đi đi, em không đi đâu.

Anh có vẻ ngạc nhiên khi nghe tôi trả lời, hình như hiểu được sự lo lắng, e ngại của tôi nên anh nói: – Em đi trước, anh sẽ đi sau, cùng đi có vợ con của nhiều người trong phi đoàn…

Nhưng tôi vẫn lắc đầu vì… tôi không muốn mang tiếng đi theo trai, có gì thiên hạ chê bôi, xấu hổ. Tôi không chịu đi, định nói anh hỏi ý kiến ba mợ tôi xem như thế nào thì bà Hồng Hà, chủ hãng thầu chạy xe hơi đến, vào nhà thúc dục lên xe ngay về Sài Gòn, Việt Cộng đang pháo kích, Biên Hòa sẽ bị mất trong đêm nay. Tôi và gia đình vội vàng lên xe, bỏ anh ở lại đi sau.

Thế rồi vận nước đen tối ập đến, nước mất nhà tan, anh kẹt lại vì không vào được phi trường. Lòng tôi buồn bã vì nghĩ cộng sản sẽ giết anh chết trong những ngày sắp tới, tôi khóùc cho số phận của mình vì nếu anh đi hay kẹt lại, tôi đều mất anh. Lúc ấy tôi thấy thương anh thật nhiều vì anh sắp phải hứng chịu sự trả thù của Cộng Sản, anh như tử tội đang chờ ra pháp trường.

Nhưng rồi tôi cảm thấy an tâm vì những điều dự đoán đã không xảy ra. Tôi và gia đình trở về Biên Hòa, anh cũng thế.

Tháng 7 năm 1975, theo như thông báo của nhà cầm quyền, tôi tiễn anh đi “học tập“ hai tuần. Trên chiếc xe đạp cọc cạch, anh chở tôi đến nơi trình diện ở sân nhà Thờ Tân Mai. Ðến nơi thấy có đông người đang chờ đợi, vợ con ra tiễn đang nói chuyện. Tôi từ giã anh đi về lòng buồn bã nhưng tự an ủi, hai tuần cũng không bao lâu, rồi anh sẽ về. Buổi chiều anh lại đến nhà tôi, ai cũng ngạc nhiên hỏi: – Sao chưa đi?

Anh nói không có xe đón, ngồi chờ mãi đến 4 giờ chiều nên cho về, mai trình diện tiếp. Ngày hôm sau cũng thế, sáng tiễn anh đi, chiều anh lại về, kéo dài cả tuần. Sáng thứ Bảy, vẫn phải đi trình diện nhưng tôi hy vọng là sẽ không đi vì đó là ngày cuối tuần. Tôi dặn anh: – Nếu không có xe đón như mấy ngày trước, anh nhớ về sớm để tham dự lễ cưới chiều nay.

Tôi đinh ninh anh sẽ trở về và sẽ cùng tôi dự lễ cưới của cô em gái nhưng gần tối vẫn chưa thấy. Khi vào nhà thờ tham dự lễ cưới, đó ngày vui của gia đình, của em tôi, đáng lẽ có được niềm vui lớn nhưng tôi lại buồn vì anh đã ra đi.

Tôi vừa đi thăm anh về, lần đầu tiên sau 5 tháng chia xa. Anh gầy và xanh sao vì thiếu dinh dưỡng. Cộng Sản nhốt anh ở trại Phú lợi. Nhìn anh tôi thấy lòng quặn đau, nước mắt chảy dài trên đôi má, những tháng tù đày kham khổ làm anh thay đổi quá nhiều, đau đớn nhất là mang thân phận của người tù, đó là điều không bao giờ ngờ. Gia đình anh đã dọn về Lâm Ðồng, phá rừng làm rẫy để sinh sống, tôi hoàn toàn không biết tin tức và cũng không cách nào liên lạc. Anh còn một người chị nhưng sẽ bán nhà đi về Phương Lâm hay Ðịnh Quán. Như vậy gia đình anh kể như bó tay, không lo cho anh được. Anh như người mất hẳn gia đình, cô đơn chịu đựng những cay đắng, đen tối nhất của cuộc đời, do đó, vì thương anh, tôi đã đi thăm.

Hai tuần sau anh đi, tôi ngây thơ chờ anh về nhưng chẳng thấy, thời gian kéo dài, lúc ấy mới biết bị lừa. Thế rồi tin đồn học xong mười bài chính trị sẽ được về, chẳng biết từ đâu ra nhưng lại đem đến cho tôi và nhiều người có người thân đi cải tạo niềm hy vọng mới. Ba tháng trôi qua, niềm hy vọng tiêu tan khi nghe công bố chính sách 3 năm dành cho các người tập trung cải tạo.

Nhiều đêm thao thức suy nghĩ thấy mình thật dại, có cơ hội ra đi nhưng lại bỏ lỡ, để bây giờ anh phải đi tù và tôi cô đơn sống với gia đình. Cộng sản vào, lúc ấy mới nhìn thấy rõ tai họa, có người uất hận tự tử, nhiều người sống chết đi vượt biên, gia đình phân ly, có nhiều người đến bến bờ tự do hoặc chết tức tưởi dưới lòng biển cả hay bị bắt lại tống vào tù.

Có lúc tôi tự hỏi sao anh không rủ ai đi mà lại rủ tôi, điều đó chứng tỏ trong lúc nguy biến, anh vẫn nghĩ đến tôi, vẫn muốn tôi cùng anh thoát khỏi những tai họa của cuộc chiến. Bây giờ, tất cả đều đã lỡ, tôi và anh đành hứng chịu những khó khăn của cuộc sống do chính sách trả thù của cộng sản. Vì thương anh tôi quyết định sẽ lo cho anh và chờ đợi đến khi anh được về.

Như vậy, tôi tuy còn độc thân nhưng vô tình đã gia nhập vào tập thể những người vợ tù cải tạo . Những lần đi thăm nuôi, trong lúc chờ các anh ra, có nhiều bà hỏi tôi :– Cô đi thăm ai?

Tôi trả lời không ngại ngùng: – Ði thăm chồng.

Có người hỏi thăm: – Chị có mấy cháu rồi?

Tôi khựng lại không biết trả lời sao đành nói thật: – Dạ chưa có cháu nào.

Trong suốt ba năm, tôi không bỏ một lần thăm nuôi nào, hễ có thư về là tôi chuẩn bị đi, gần nhất là ở Phú Lợi, Bình Dương, khá xa là trại Hóc Môn, Thành Ông Năm, xa nhất là trại Kàtum, Tây Ninh. Bây giờ anh đang ở trại Suối Máu.

Khi đi, hoặc ba hay mợ tôi đi cùng. Tôi nghĩ anh bị bỏ đói trong tù, thiếu dinh dưỡng nên cố đi thăm để được nhìn thấy anh, mang cho anh ít quà và thức ăn, tôi muốn chứng tỏ dù anh ở trại nào, xa cách mấy, vì thương anh, tôi sẽ đến thăm, mang đến cho anh niềm vui và niềm tin là tôi vẫn chờ đợi anh.

Thời điểm đó, nhà cầm quyền chủ trương đưa dân đi vùng kinh tế mới, những ai không có việc làm nên tình nguyện đi trước. Ai cũng lo sợ vì đi là mất nhà, mất hộ khẩu, không về thành phố được nữa. Vì vậy ba tôi mới thành lập một tổ hợp may gia công, nhận quần áo của Công Ty May Mặc Ðồng Nai. Ai muốn vào tổ hợp phải bỏ tiền ra mua một cái máy may. Vì sợ đi vùng kinh tế mới nên nhiều người hưởng ứng. Ba tôi làm tổ trưởng, tôi làm thư ký. Nhờ vậy khỏi bị đi đâu mà còn kiếm tiền đủ chi tiêu trong tháng.

Phần tôi, khi lãnh lương, tôi dành một phần phụ với gia đình, số còn lại đi mua thức ăn, thuốc men để dành chờ đi thăm nuôi. Vì thiếu dinh dưỡng, lại phải làm việc nặng, nhất là trong rừng sâu, anh bị bệnh sốt rét và sạn thận. Có lẽ anh bị đã lâu nhưng anh dấu không cho tôi biết sợ tốn tiền mua thuốc nhưng vì nặng quá nên anh viết thư về nên tôi vội vàng kiếm mua thuốc gởi cho anh.

Tôi chờ đợi anh tưởng rằng chỉ là chuyện riêng tư không liên lụy đến ai, nhưng hàng xóm vẫn có người dèm pha, bàn lùi. Có người nói với ba mợ tôi :– Sao ông bà lại để con gái mình chờ đợi người không có tương lai? Không biết ngày về?

Có người lại nói: – Con gái chỉ có một thời, qua rồi là ế, chẳng ai thèm lấy. Chờ đến bao giờ? Ông bà thấy chỗ nào vừa ý gả cho rồi…!!!

Hoặc có người nói: – Chưa là vợ chồng, chẳng ràng buộc gì nhau, chờ người tù làm gì, hãy nghĩ đến tương lai, hạnh phúc của mình trước.

Tôi nghe kể lại thấy họ nói cũng… đúng nhưng tôi hiểu lý do nào họ dèm pha như vậy vì gia đình họ có con trai cũng cùng lứa tuổi với tôi, họ nói thế để tôi nản lòng mà thay đổi ý định không đợi chờ nữa, muốn tôi trở thành con dâu… của họ. Nhưng cuộc hôn nhân vội vàng chưa có tình yêu chỉ là sự ráp nối sống chung giữa hai người một cách gượng ép, lấy đâu có hạnh phúc. Tình yêu tôi đã dành cho người tôi thương, người tù không tuyên án, không có ngày về. Tôi yêu anh không phải vì anh là một phi công và tôi cũng không thể bỏ rơi anh vì anh là người tù. Tôi yêu tâm hồn và phong cách của anh, của một người mà tôi tin tưởng sẽ đem lại hạnh phúc cho tôi, sẽ che trở, bảo bọc và yêu tôi tha thiết.

Ba mợ tôi cũng thương anh nhiều nên dù ai nói gì cũng bỏ ngoài tai, để tôi toàn quyền chọn lựa và quyết định tương lai. Ba mợ ủng hộ tôi chờ anh nhưng lo xa nên có lần ba tôi hỏi: – Con chờ anh ấy, có khi nào con nghĩ mai này, khi được về, anh ấy lại không cưới con làm vợ không?

Nghe vậy, lòng tôi hoang mang lo lắng nhưng nghĩ chắc chẳng bao giờ có chuyện đó vì anh đâu đến nỗi tệ bạc như vậy. Tôi hiểu ba tôi muốn nói gì, vì sợ tù quá lâu mới được về, lúc đó tôi đã lớn tuổi, nhan sắc đã tàn phai, sợ anh chê “già” đi lấy người khác. Mặc dù tôi không tin chuyện ấy sẽ xảy ra nhưng biết đâu, thời gian làm thay đổi cuộc đời, thay đổi lòng người. Dò sông, dò biển dễ dò, có ai lấy thước mà đo lòng người.?

Tôi suy nghĩ chốc lát rồi trả lời: – Nếu như vậy thì kể như con làm phúc cho anh ấy.

Ngay cả mấy thằng bộ đội, thấy tổ hợp có nhiều đàn bà, con gái nên vào nhà tìm cách làm quen. Sau khi đến chơi nhiều lần, không rõ ai tiết lộ, tụi nó biết tôi còn độc thân, đang chờ một người tù cải tạo, liền tán tỉnh tôi. Có một người tên Dũng, thiếu úy gởi cho tôi một lá thư, tôi mở ra đọc cho cả tổ hợp may nghe, ai nấy cười đau cả bụng. Chữ xấu, sai chính tả nhiều, khoảng trình độ lớp hai, lớp ba mà cũng đòi viết thư tình.

Nhưng kỳ cục và bực mình nhất là trường hợp bạn của anh. Người bạn học cùng trường năm nao, vì thi rớt tú tài nên đi lính Không Quân. Khi Cộng Sản chiếm miền Nam, lấy băng đỏ quấn vào cánh tay theo kẻ thù. Tưởng rằng được trọng dụng, ai ngờ thời gian sau bị phế thải về nhà ngồi chơi. Lần đầu tiên anh đến ăn phở đã đi cùng người bạn ấy. Nay anh đi tù, người bạn ấy lại để ý, tìm cách chinh phục tôi. Vì quen biết từ lâu nên thỉnh thoảng đến nhà chơi, thấy mấy sợi dây điện cũ lòng thòng, ngỏ ý với ba tôi nên thay, để vậy nguy hiểm, có thể bị điện giật hay chạm điện cháy nhà. Ba tôi do dự chưa dứt khoát, người bạn ấy đã đi mua dây điện… tình nguyện đến, leo lên trần nhà bụi bặm, nóng nực, mồ hôi nhuễ nhoại thay hết dàn dây điện mới. Tưởng rằng làm giúp như vậy, ba tôi mang ơn phải đối đãi tử tế, hy vọng sẽ dành được nhiều cảm tình của tôi.

Thấy tôi vẫn thờ ơ, lạnh lùng, có lần người bạn ấy nói: ”Mấy thằng phi công đi tù mút chỉ, chẳng có ngày về. Nhất phi nhì pháo mà…” Câu nói ấy làm tôi càng ghê tởm, anh em nay gọi bằng thằng, thay vì hỏi thăm, cầu xin được về sớm, lại nguyền rủa đi tù mút chỉ, không có ngày về. Câu nói ấy ngụ ý đừng chờ nữa, đâu có ngày về mà chờ, hãy quên đi mà xây dựng tương lai mới hạnh phúc mới. Nhưng làm sao sánh với người tôi thương, với sự nhận xét của tôi, người bạn của anh đã phản bội anh em khi trở cờ theo Cộng Aản, không còn xứng đáng là anh em nữa. Nay lại âm mưu “cướp“ người yêu của bạn mình..

Cũng vì câu “nhất phi nhì pháo“ mà tôi nhận ra được giá trị lớn lao của người phi công. Các anh đã gieo nhiều kinh hoàng cho Cộng Sản nên nó mới thù như vậy. Tôi hối hận vì đã hiểu lầm vì chỉ nghe có một phía, của những người bạn không được may mắn trong cuộc tình với người phi công. Còn nhiều người được hạnh phúc với những chàng trai mang đôi cánh sắt thì họ đâu có nói gì. Tôi nghĩ, người thanh niên khi bước vào đời, nhất là đời quân ngũ, ai cũng có một ước mơ cho tương lai của mình, rất nhiều người đã mong ước trở thành người phi công nhưng mấy ai đạt được.

Người tôâi thương ít khi nói với tôi về đời lính của anh, về máy bay anh đang lái, về những vui buồn trong những ngày ở quân trường hay trên chiến trường, tôi chỉ biết anh đã đi du học ở Hoa Kỳ hai năm rồi trở về tham chiến. Những ngày anh đi bay ở Ðà Nẵng, anh cũng chẳng nói gì nhiều. Chỉ một lần duy nhất, anh bị tai nạn nhẹ, phi cơ đi về đáp đêm, sân ướt, chần chừ không dùng dù đuôi, thắng gấp quá nên bể bánh, máy bay văng ra khỏi phi đạo, lún sâu xuống bãi cỏ. Anh thật khiêm nhường, đến với tôi bằng con tim và tấm lòng của người thanh niên hiền hòa, cũng vì thế, nay nước mất nhà tan, anh chẳng còn là phi công nữa, mang thân phận người tù, tôi vẫn thương, vẫn yêu, có lẽ còn nồng đậm hơn trước .

Ðã hơn ba năm, không một hy vọng nào được về, tôi nghĩ chắc con lâu dài, chưa biết bao giờ.Nhưng tôi nhất định sẽ chờ đợi, tương lai, hạnh phúc của tôi tùy thuộc vào anh, khi nào anh về, sẽ đắp xây hạnh phúc. Sáng nay nhận được thư, ngoài những thăm hỏi gia đình như mọi khi, anh khuyên tôi …. đi lấy chồng, đừng chờ anh nữa.

Anh viết :- Thương anh, em đã chờ và thăm nuôi hơn ba năm qua, ơn ấy suốt đời anh không bao giờ quên. Nếu em đã là vợ, anh sẽ xin em đợi chờ. Nhưng anh với em chưa có gì ràng buộc nhau, em có quyền quyết định tương lai của em, con gái chỉ có một thời, đừng để quãng đời đẹp nhất phôi pha theo thời gian. Anh đã không mang được hạnh phúc đến cho em và anh không còn xứng đáng để em đợi chờ nữa. Anh khuyên em nên đi lấy chồng…

Ðọc xong, tôi bàng hoàng vì không bao giờ nghĩ anh sẽ khuyên như thế. Tôi tủi thân ngồi khóc như sắp mất người yêu. Tôi có cảm tưởng như bị anh phụ tình, tàn nhẫn bỏ rơi. Tôi bỗng thấy bực mình và giận anh vì đã viết những câu thật phũ phàng. Cả đêm trằn trọc thao thức không ngủ được, lẽ nào mối tình của anh với tôi tan vỡ. Hôm sau, tôi lấy thư ra xem, đọc đi, đọc lại nhiều lần bỗng nhận ra anh thật cao thượng, vì thương tôi, không muốn tôi chôn vùi cuộc đời son trẻ, anh không muốn tôi khổ vì anh nhưng dễ gì tôi quên anh để tìm một hình bóng khác, hạnh phúc khác. Tôi biết anh vẫn thương tôi nhưng phải đau lòng viết những câu như thế vì không biết bao giờ mới được về.

Tôi viết thư trả lời: – Anh yên chí, em sẽ chờ đợi đến khi anh về.

Mấy tháng sau, có người bạn của anh được về, anh nhờ mang về cho tôi một lá thư trong đó có đoạn: – Sau nhiều lần suy nghĩ anh rất hãnh diện vì chỉ là người bạn, em đã thủy chung đợi chờ và lo cho anh hơn bốn năm nay. Tuy nhiên hạnh phúc không nằm trong tầm tay, ngày về không phải do mình định đoạt, anh thấy tương lai thật đen tối, xa thẳm, để em đợi chờ mãi thật tội nghiệp. Anh khuyên em … xem như anh đã chết vì cơn bạo bệnh . Anh không trách gì em vì anh là người chịu ơn và đã bó tay không mang lại hạnh phúc cho em. Anh mong em nên suy nghĩ lại, quên anh và đi lấy chồng, đừng chờ anh nữa.

Anh có tật viết vòng vo rồi mới vào chủ đề chính, cuối cùng mới biết anh muốn nói gì. Ðọc xong, thấy thật buồn vì nghĩ anh hiểu lầm lòng thủy chung của tôi nên vội viết thư trả lời: – Anh ơi, anh bảo em quên anh để đi lấy chồng nhưng em cố quên lại càng nhớ anh thêm. Em sẽ đợi anh, đừng khuyên em như vậy .

Bẵng đi một thời gian, anh lại khuyên tôi lần nữa, anh viết: – Anh không đem lại hạnh phúc cho em thì anh sẽ vui với hạnh phúc em có, anh chấp nhận mất em để em có hạnh phúc….

Lần này tôi nhất định trả lời dứt khoát để anh hiểu tôi vẫn đợi anh: – Anh ơi, đừng khuyến khích em lấy chồng vì em đã có chồng rồi, chồng của em là anh đấy. Em sẽ chờ anh cho dù phải đợi 5 năm, 10 năm, 20 năm…, anh đừng phụ lòng em.

Từ đó, anh không nhắc lại cũng như khuyên tôi thêm một lần nào nữa. Ở trại Suối Máu, ba tháng được thăm một lần, mỗi lần 15 phút. Như vậy, một năm, tôi với anh chỉ gặp nhau được một giờ. Ôi định mệnh sao khắc nghiệt thế, xa nhau và xa nhau mãi. Gia đình anh lúc này cuộc sống đã tạm ổn định, ba anh về Biên Hòa thăm ba mợ tôi và hỏi thăm tin tức về anh. Biết tôi vẫn chờ đợi, ba anh rất cảm động và xem tôi như con … dâu. Ba anh xin phép mời tôi về trên ấy chơi một tuần cho khuây khỏa. Tôi nhận lời cùng đi vì tôi biết gia đình anh rất thương tôi, mấy đứa em của anh cũng thế.

Thời gian cứ lạnh lùng trôi, đã gần 5 năm anh đi tù, lúc này cuộc sống khó khăn hơn. Tổ hợp may giải tán vì hàng xuất khẩu không đạt tiêu chuẩn, bị trả lại. Tôi và gia đình phải xoay trở cách khác. Ðã ba tháng rồi, không nhận được thư, tôi lo lắng sợ anh bị bệnh không có thuốc hay có chuyện gì bất thường đã xảy ra. Một số người đi thăm về cho biết đã có nhiều đợt chuyển trại nhưng chưa biết đi đâu. Như vậy, chắc anh không còn ở Suối Máu nữa, anh bị chuyển đi nhà tù khác.

Tuần sau, tôi vui mừng vì nhận được thư anh. Anh cho biết đang ở trại Tống Lê Chân, đường đi xa lắm, nhớ đừng lên thăm, chờ khi nào trại thuê xe cho thăm tập thể hãy đi. Hỏi ba tôi Tống Lê Chân ở đâu, ba tôi nói ở tỉnh Bình Long, gần biên giới Căm Bốt, cách Biên Hòa cả trăm cây số. Ðó là nơi trước đây đã xảy ra nhiều cuộc đánh nhau đẫm máu, cộng sản chết rất nhiều. Tôi nghe nhưng chẳng biết gì vì đó là những địa danh tôi chưa hề nghe qua.

Tôi sốt ruột vì sợ anh không còn thuốc uống, bệnh lại nặng thêm. Ba tháng qua, tôi dành dụm mua được khá nhiều đồ ăn khô, hai hộp thuốc sạn thận Piperazine của Pháp rất đắt tiền, khoảng 20 viên thuốc sốt rét . Năm 1971, ba tôi bị đau sạn thận. Tôi đã chứng kiến ông đau quằn quại, lăn lộn từ giường xuống đất, lúc nào cũng đau y như bị thương nặng vậy. Chịu không nổi, phải vào bệnh viện, sạn trong thận nhiều quá nên phải cắt mất một trái thận. Tôi nghĩ anh cũng thế, tôi nghiệp khi đau đớn chẳng ai lo, chẳng ai chăm sóc cho anh. Xin phép ba tôi đi thăm nhưng không cho,ba tôi nói anh đã dặn đừng đi thì cứ chờ.

Hai tuần sau, có một chị ở cùng phường với tôi đi thăm chồng ở Tống Lê Chân về. Biết tin tôi hỏi thăm. Chị lắc đầu khuyên đừng đi vì phải đi bộ vào xa lắm. Tôi nghĩ chị đi được thì tôi cũng … đi được nên xin chị chỉ đường. Chị nói thấy rất dễ đi: – Từ Sài Gòn đi lên Bình Long, đến cây số 101 xuống, đi vào đường đất đỏ là đến trại nhưng rất xa. Ði nhớ mang theo chiếc xe đạp để chở đồ. Về xin phép, ba tôi suy nghĩ một lát rồi đồng ý, nói tôi sứa soạn ngày mai đi.

Chiều hôm sau, lên Sài Gòn, mua vé xe, thuê nhà trọ ngủ một đêm. Ba tôi mang theo chiếc xe đạp như đã dặn, nhưng trước khi lên xe, đổi ý để lại vì sợ để trên mui, cồng kềnh, hàng hóa đè lên làm hư . Chuyến xe đò cũ kỹ chuyển bánh, tôi thấy vui vui vì sẽ được gặp anh, mang đến anh sự bất ngờ. Xe chạy ngang qua nhiều phố nhỏ, tôi không biết tên. Là người con gái, chưa bước vào đời, chưa đi xa nhiều nên thấy chỗ nào cũng lạ, cũng giống nhau. Ðến khoảng quá trưa, xe đến cây số 101, chúng tôi xuống. Khi chiếc xe lăn bánh để lại hai bố con tôi chơ vơ giữa đường. Chung quanh là rừng thưa, cây không cao lắm nhưng nhiều lá vàng. Lúc này đang mùa hè nóng nực, trời xanh ngắt pha với từng cụm mây trắng bay lững lờ. Không có ai ngoài bố con tôi, có cảm tưởng như bị rơi xuống một vùng hoang dã chưa có ai đặt chân đến.

Chúng tôi băng qua đường, đi vào sâu một đoạn, thấy có một cái chòi nhỏ vắng vẻ chơ vơ bên lề. Ðến nơi mới biết là chỗ sửa xe đạp. Người đàn ông khoảng 40 tuổi ngồi cô đơn chờ khách. Ba tôi hỏi thăm, ông ấy lắc đầu nói :– Bác đi thăm cải tạo, còn xa lắm, không đến được chiều hôm nay.!!

Ba tôi nghe thế hỏi tiếp: – Từ đây vào trại xa bao nhiêu?

Ngưởi thợ sửa xe trả lời: – Khoảng 30 cây số.

Tôi bàng hoàng đâu ngờ xa thế, cứ tưởng khoảng hai ba cây số thôi.

Ba tôi hỏi: – Ðường khá rộng, xe hơi chạy được, có xe nào chở khách vào đó không?

Ôâng ta lắc đầu: – Không có, dân ở đây đi xe đạp, chẳng có xe nào vào ngoại trừ thỉnh thoảng xe của công an chở đồ tiếp tế vào trại hay xe ben đi chở cây mà thôi.

Hai bố con nhìn nhau, không biết tính sao. Tiến tới đi bộ 30 cây số, lùi thì kẹt cứng, chẳng có xe về, tối nay lang thang không biết ngủ ở đâu hay lại nằm bờ nằm bụi ở gốc cây, xó rừng nào cho qua đêm. Nhưng như vậy nguy hiểm lắm. Thú rừng và cả những người xấu nữa, biết đâu xui xẻo gặp thì tai họa không lường trước được.

Ðang phân vân lo lắng, ông sửa xe nói: – Bác và chị đi vào khoảng 10 cây số, đến xã Ðồng Nơ, vào trạm y tế gặp cô Phượng xem cô ấy có giúp gì được không. Bác và chị phải mất thêm một ngày đường nữa mới đến trại.

Ðành chịu vậy. Chúng tôi cám ơn và đi theo đường xe đất đỏ thỉnh thoảng tung bụi mù khi cơn gió đến. Lúc này ba tôi mới hối hận vì đã để cái xe đạp tại nhà trọ, vì vác túi quà càng đi càng thấy nặng, giá có cái xe, buộc vào đấy, dắt xe đi nhẹ nhàng hơn. Tôi phụ vác với ba tôi nhưng chẳng đi được bao xa đã thấy mệt vì trời nóng bức, muốn chuyển mưa nên mồ hôi ướt đẫm, đi một đoạn khoảng trăm thước lại ngồi nghỉ. Nhìn ba tôi thân già khi ôm, khi vác túi quà đi từng bước mệt mỏi trên con đường dài vô tận, lòng tôi đau xót. Vì thương tôi, thương anh ấy mà vất vả, cực khổ như thế. Ba tôi chỉ còn một trái thận, lúc nào cũng thấy mỏi lưng. Nay đi xa, lỡ trái thận còn lại bị đau nữa thì biết làm sao!!! Còn tôi, chưa bao giờ đi bộ xa như hôm nay. Thật là bế tắc, tiến thoái lưỡng nan, không lẽ bỏ cuộc.

Càng đi càng thấy đường xa, càng mệt mỏi, đã gần hai tiếng rồi mà chưa thấy bóng người, chưa gặp được ai. Con đưởng đất đỏ nhiều chỗ lồi lõm, nhưng vũng nước cạn khô. Bước đi là bụi đỏ bay lên, nhuộm đỏ cả quần áo. Chúng tôi cố gắng, chậm bước, hy vọng sẽ tìm được chỗ ngủ trọ đêm nay trước khi trời tối. Ðến xế chiều, mới thấy mấy căn nhà nho nhỏ chỉ to hơn cái chuồng heo của nhà tôi. Nhà ở thưa thớt, lợp bằng lá. Ði một quãng nữa thấy tấm bảng cắm bên đường: Xã Ðồng Nơ. Thỉnh thoảng lại thấy có căn nhà cháy rụi, tôi bỗng thấy tội nghiệp cho những người dân nghèo, cơ nghiệp chỉ có thế mà lại cháy mất. Sau này tôi mới hiểu, dân bị lùa đi vùng kinh tế mới, bị nhà nước lừa bịp, đem con bỏ chợ, nhiều người không sống nổi nên đốt nhà tự vẫn hay tìm trở về thành phố, ở lang thang, kiếm sống qua ngày, trở thành bất hợp pháp vì công an đã cắt hộ khẩu, không có quyền cư trú tại thành phố nữa.

Bỗng ba tôi vui mừng nói: – Sắp đến rồi, hình như có bóng người ở phía trước?

Ði tiếp thấy nhiều nhà và có vẻ như gần đến. Bỗng có một cô gái băng qua đường, ba tôi gọi hỏi thăm cô Phượng làm việc ở trạm y tế. Cô ấy vui vẻ trả lời: – Chị Phượng là chị của cháu. Bác và chị đi theo cháu, ở gần đây thôi.

Nói gần mà cả mấy trăm thước, hai chân tôi vừa đau, vừa mỏi rã rời. Ðến nơi, cô gái vào nhà nói to: – Chị Phượng ơi, có khách Sài Gòn ghé thăm.

Một cô gái, trạc tuổi tôi, trong nhà bước ra, tay bắt mặt mừng, nói giọng bắc, nắm lấy tay tôi: – Chào bác, chào chị, mời bác và chị vào nhà.

Tôi ngẩn ngơ trước sự tiếp đón niềm nở và đầy tình người của cô Phượng. Cả buổi chiều đi bộ lo lắng, nay thấy cử chỉ thân thiện của Phượng làm tôi yên tâm và xúc động. Tuy chưa bao giờ biết nhau nhưng Phượng xem bố con tôi như người thân trong nhà. Phượng hỏi: – Bác và chị đi thăm ai?

Ba tôi trả lời: – Ði thăm cải tạo.

Cô Phượng giải thích: – Cháu hỏi vì trong đó có hai trại, một trại tù hình sự và một trại cải tạo.

Ba tôi hỏi tiếp: – Từ đây vào còn xa không?

Phượng nhìn chúng tôi ái ngại trả lời: – Còn xa lắm, khoảng một ngày đường nữa. Bác và chị tối nay ngủ tại đây, cháu nấu cơm cho bác và chị ăn, sáng mai mới đi được.

Nghe thế ba tôi nói: – Chúng tôi cám ơn cô rất nhiều. May gặp cô, có cho ở nhờ đêm nay là quá tốt rồi, ăn uống để chúng tôi tự lo liệu.

Phượng lắc đầu: – Bác đừng lo, chẳng mấy khi bác và chị ghé vào đây. Cháu mời bác và chị cùng ăn một bữa cơm thanh đạm với cháu, chẳng đáng gì, bác đừng lo nghĩ.

Nghe thế, tôi cảm động, nước mắt muốn trào ra. Ai ngờ trong rừng hoang xa thẳm, một vùng đất lần đầu tiên trong đời tôi đặt chân đến, nghèo nàn, thiếu thốn, buồn thiu lại có một cô gái giàu lòng bác ái và đón tiếp người xa lạ như người thân trong nhà. Thời buổi gạo châu củi quế, mua gạo từng ký, cuộc sống ở vùng kinh tế mới hết sức khó khăn hơn, bữa no, bữa thiếu vậy mà cô Phượng sẵn sàng mời chúng tôi dùng cơm.

Ăn xong, thấy cô làm bánh, ba tôi hỏi: – Cô làm bánh để ăn hay bán?

Phượng nhìn chúng tôi trả lời: – Cháu làm để má cháu bán, kiếm thêm tiền chứ lương không đủ tiêu!!

Ba tôi cảm động nói: – Ở đâu cũng vậy, làm cho nhà nước rồi cũng phải xoay trở thêm.

Phượng nói: – Cháu bận tay, bác và chị đi nghỉ cho khỏe, lấy sức mai còn đi khá xa.

Sáng sớm hôm sau, hai bố con dậy sớm, chuẩn bị đi vào lúc trời còn mát nhưng Phượng không cho, cô cản lại nói: – Bác và chị không thể đi sớm, phải đợi trời thật sáng vì heo rừng, có khi có cả cọp nữa vẫn lảng vảng ở vùng này, nguy hiểm lắm. Ở đây, không ai dám đi làm sớm đâu.

Nghe thế chúng tôi khựng lại, đành ngồi chờ. Ðến khoảng 8 giờ, Phượng dẫn chúng tôi ra ngoài đường, đến một sạp bán chuối và bánh, giới thiệu người đàn bà đang ngồi bán là mẹ của cô, chúng tôi chào, hỏi thăm, ngỏ lời cám ơn. Tôi mua hai nải chuối chín để ăn đồng thời mở hàng cho bà.

Phượng đưa chiếc xe đạp cô đang đi cho ba tôi rồi nói: – Cháu cho bác mượn chiếc xe đạp để chở đồ cho đỡ nặng, khi nào thăm xong trả lại cháu.

Hai bố con tôi sững sờ, kinh ngạc trước quyết định của Phượng. Thời buổi khó khăn này, đối với rất nhiều gia đình, cái xe đạp là cả một gia tài, là phương tiện di chuyển và chở đồ đạc. Ðối với người không quen biết, không biết từ đâu đến, lần đầu tiên biết nhau đã dám cho mượn hết sức dễ dàng. Lỡ gặp người gian tham, lấy xe đi mất thì sao?

Ba tôi lưỡng lự nhưng sợ phụ lòng tốt của cô nên nói: – Cám ơn cô rất nhiều, đã cho ở nhờ lại còn cho mượn xe. Tôi hứa thăm xong sẽ đem trả lại cho cô.

Phượng vui vẻ trả lời: – Bác yên chí, cứ lấy đi, cháu giúp bác và chị cũng như giúp cho anh ấy thôi. Bác và chị vào thăm, chắc anh vui lắm, tôi nghiệp các anh, vì thời cuộc đổi thay nên mới khổ như vậy.

Ba tôi hỏi Phượng: – Từ đây vào đấy đi như thế nào.?

Phượng dặn chúng tôi: – Bác và chị đi khoảng quá trưa sẽ thấy hai ngã rẽ, bác rẽ phải vào con đường thứ hai rồi đi mãi sẽ đến trại.

Ba tôi hỏi tiếp: – Cô Phượng đã vào chỗ đó chưa?

Phượng trả lời: – Dạ có, cháu vẫn thường vào chích ngừa cho mấy anh.

Nghe thế chúng tôi yên chí. Phượng đưa chúng tôi đi một đoạn đường rồi trở về đi làm. Chúng tôi đi tiếp đoạn đường còn lại. Càng đi càng xa, trời bắt đầu nóng, ba tôi dắt xe, tôi phụ đẩy phía sau, ban đầu còn nói chuyện, sau mệt nên mạïnh ai nấy đi. Thỉnh thoảng thấy đường rẽ nhưng bị cỏ cây mọc che gần hết, mãi rồi ba tôi lùng bùng không biết rẽ vào đường nào. Giá có người qua lại hỏi thăm thì chắc ăn hơn, nhưng từ sáng đến giờ chẳng gặp ai. Tôi và ba tôi băn khoăn lo lắng, hay bị lạïc rồi. Giữa rừng hoang vắng lặng, chơ vơ chỉ có hai bố con, lỡ có chuyện gì hay tai nạn xảy ra biết làm sao đối phó. Tôi mệt một thì ba tôi mệt mười, tuổi già sức yếu chưa bao giờ lặn lội đi xa như thế. Không bao giờ cuộc đời mình có lúc lại lang thang trên con đường đất đỏ ở khu rừng vắng lặng như hôm nay, tôi nghĩ thú rừng đang rình rập chung quanh, chưa biết lúc nào nhào ra cắn, hoặc sui sẻo gặp cướp thì chắc chết hết, không ai biết. Nghĩ thế nên đâm ra hoảng sợ, chân bước đi mà lòng lo lắng, tôi không dám nói gì vì sợ ba tôi cũng lo thêm.

Ði một quãng rồi lại nghỉ, lúc này đã gần trưa, mặt trời sắp đứng bóng, không đói, chỉ thấy khát. Nước mang theo uống gần hết, cứ tình trạng này, đi mãi chưa đến, hai bố con tôi lấy nước đâu mà uống. Ðã qua hai ngã rẽ, có dấu bánh xe hơi nhưng phân vân không biết đúng hay sai. Ðang đi thêm một đoạn nữa thì thấy một người đàn ông mặc quần đùi, trên người áo lính đã bạc màu, tay cầm cái rựa băng ngang qua đường. Thấy bóng người ba tôi mừng quá, không cần biết họ là người tốt hay xấu, vội dơ tay ngoắc và gọi lớn: – Ông ơi, cho tôi hỏi thăm.

Người đàn ông tí nữa thì đi vào rừng, nghe gọi vội đứng lại trả lời: – Bác hỏi gì vậy.?

Ba tôi chạy đến gần nói :– Tôi đi thăm con tôi ở trong trại cải tạo, bây giờ không biết đường nào vào, nhờ ông chỉ dùm.

Người đàn ông trạc 40 tuổi trả lời: – Bác đi quá rồi, đường này đi vào sông Sài Gòn, vào trại hình sự, còn mấy anh cải tạo thì phải rẽ cách chỗ này mấy trăm thước.

Ba tôi cám ơn, quay trở lại. May quá, nếu không gặp ông này thì hai bố con lạc luôn, không bao giờ đến. Ði vào ngã rẽ như đã dặn, mặt trời đã nghiêng hẳn xuống, lúc đó khoảng 3 giờ chiều, vẫn chưa thấy trại đâu cả. Hai bên đường cỏ cây có đoạn thưa thớt, có đoạn rậm rạp kín mít . Hai chân tôi đau nên không đi dép nữa, tôi lấy cái cây, một đầu hai nải chuối, đầu kia hai chiếc dép, gánh trên vai đi chân đất thấy thoải mái hơn. Ði khoảng nửa tiếng nữa, bỗng nghe tiếng chặt cây từ xa, ba tôi tỏ vẻ vui mừng nói: – Chắc đến rồi con ơi, nghe nhiều tiếng chặt cây, chắc mấy anh ấy đang phá rừng?

Tôi cũng nghe nhưng chưa tin, biết đâu dân thường thì sao? Ði một đoạn nữa, bỗng thấy mấy anh đang chặt cây, lố nhố trong rừng.

Có anh dừng lại, chạy ra đường hỏi: – Bác với chị đi đâu?

Nhìn người đàn ông gầy gò, đen đúa, gấu áo rách tả tơi, mồ hôi ướt đẵm cái áo lính cũ kỹ, tôi hình dung người tôi thương chắc cũng giống như thế.

Ba tôi trả lời: – Ði thăm cải tạo.

Lúc này có thêm mấy anh nữa, mỗi người một cái rựa to, chạy đến hỏi thăm vồn vã: – Bác và chị đi thăm ai??

Ba tôi nói tên, các anh trả lời: – Anh L cháu biết, có ở trại này.

Nghe thế hai bố con tôi mừng rỡ vì sắp đến nơi. Không còn lạc nữa.

Lúc đó, tên công an đến đuổi các anh vào làm việc, hắn hỏi ba tôi vài điều rồi nói: – Bác với chị đi vào trại, cách đây khoảng 2 cây số, trình giấy tờ, sẽ có người lo, giải quyết cho anh ấy ra thăm. Bác đi mau kẻo trời tối.

Chúng tôi đi tiếp, các anh cải tạo đứng nhìn theo. Các anh bị đọa đày trong rừng sâu, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài đã lâu nên khát khao gặp lại hình ảnh những người thân, những người dân ngoài xã hội. Tôi không ngờ nó nhốt các anh trong rừng xa thăm thẳm như vậy, có ai biết vào thăm. Mà có trốn cũng không biết đường nào về nếu không có người dẫn đường.

Khi đến khu vãng lai, thấy có mấy căn nhà lợp bằng tranh, to, rộng rãi, trông khá đẹp. giữa là một cái sân đất bằng phẳng khá rộng, có những vườn bông hoa đủ màu, trông rất quy cũ và thơ mộng.Tôi đã đi thăm nhiều trại nên biết những gì có được hôm nay tại khu vãng lai này là mồ hôi, công sức của các anh chứ công an nó đâu có làm. Bắt làm nhà cho nó ở thì đúng hơn.

Ba tôi gặp công an trực trại, trình giấy tờ. Tên cán bộ dẫn chúng tôi vào trong nhà nói: – Bác và chị nghỉ ở nhà này. Có bếp nấu ăn, có giường để ngủ. Ngày mai trại sẽ cho anh ra thăm.

Nói rồi nó bỏ đi. Vào nhà đã thấy có một bà già đang ngồi nhai trầu, hỏi thăm mới biết bà đi thăm con, đang chờ xe của trại tiếp tế lương thực lên rồi quá giang về. Hóa ra vì thương con bà đã lặn lội đoạn đường xa thăm thẳm như bố con tôi, bà đã đến trước, đã gặp con. Ôi, lòng mẹ bao la như biển Thái Bình là thế.

Ðang nói chuyện với bà thì thấy mấy anh chặt cây hồi chiều đi về. Ngang qua, ai cũng dơ tay vẫy chào. Các anh gầy gò, đen đủi vì phơi nắng, dáng đi thất thểu, mệt nhọc.

Sáng hôm sau, các anh lại đi ngang qua khu vãng lai để chặt cây nữa, những cánh tay gầy gò vẫy chào chúng tôi. Tôi nhìn kỹ nhưng không thấy ai quen. Một lát, thấy một tên cán bộ đi trước, tay cầm cuốn sổ, phía sau có một người đi theo. Từ xa, nhìn màu áo quen thuộc, tôi biết là anh. Tên cán bộ bắt ba tôi ký vào sổ, nó nói:

— Nếu anh ấy trốn, bác chịu trách nhiệm.

Nói rồi nó bỏ đi vào trại.

Anh chào ba tôi và nhìn tôi mỉm cười, có lẽ anh không ngờ chúng tôi đi thăm. Anh hỏûi thăm gia đình, công ăn việc làm. Ba tôi kể chuyện đi thăm. Thấy anh còn mạnh khỏe, tôi vui lắm. Anh cho biết bệnh sạn thận đã gần như khỏi sau khi ăn 18 quả dứa tôi gởi vào. Chỉ còn sốt rét thôi.

Có một người Thượng đi xe đạp với cái thúng to buộc sau xe hỏi có mua thịt heo rừng không.? Ba tôi ra xem và mua mấy lạng. Anh và ba tôi ngồi nói chuyện, tôi đi nấu cơm. Ðây là lần đầu tiên trong 5 năm, tôi được thăm lâu nhất, trại cho cả ngày, đó là điều không ngờ vì vẫn tưởng chỉ được một hai tiếng là cùng. Ðây cũng là bữa cơm anh ăn chung với bố con tôi sau năm năm xa cách. Ðây cũng là lần đầu tiên sau 5 năm, tôi với anh được ngồi bên nhau, nói chuyện mà không có cán bộ đứng kè kè bên cạnh. Người anh gầy gò, ốm yếu. Ai cũng giống nhau. Anh cho biết làm ở đội nông nghiệp, lúc nào cũng thấy đói,ăn xong rồi cứ tưởng như chưa ăn. Làm việc nặng, đi xa nên mệt nhưng còn đỡ hơn mấy anh ở đội lâm sản, đi lấy cây, chặt tre nắng nôi, xa xôi, vác về cực lắm.

Anh cho biết ở đây có hai trại, mỗi trại khoảng 300 người, làm đủ thứ việc, dọn rẫy trồng bắp, lúa, đậu phọng, khoai mì rau muống… nhưng vì cán bộ không kinh nghiệm và cải tạo không biết làm nên cơn mưa đầu mùa xuống, cứ ngồi chờ cơn mưa to hơn mới gieo. Ðến khi thấy rẫy của người Thượng bắp mọc cao cả gang tay rồi mới hoảng hồn về ra lệnh trồng. Vì vậy cỏ mọc cao hơn lúa, hơn bắp, làm không xuể, mất mùa. Trại thông báo phải tự túc lương thực, được nhiều ăn nhiều, được ít ăn ít, kiểu này chắc đói đến nơi.

Ba tôi hỏi có hy vọng chừng nào được về, anh cho biết đã có nhiều đợt về nhưng không nhiều, còn anh thì không biết bao giờ..!!! Có thể nay mai, có thể vài năm nữa, không biết đâu mà đoán.

Hôm sau, anh trở vào trại, hai bố con đi về. Nghĩ đến đoạn đường dài mà ngao ngán nhưng lòng tôi rất vui vì đã gặp anh như ý nguyện. Lúc về mau hơn vì không có gì nặng. Cô Phượng thấy chúng tôi về mừng lắm, có lẽ cô tưởng mất xe rồi vì gần ba ngày không thấy bố con tôi trở lại. Hôm sau ba tôi hỏi thăm đường ra tỉnh Bình Long thăm bà cô đã lâu không gặp. Bố con tôi ghé nhà người quen một ngày nữa mới về. Như vậy, đi về mất cả tuần lễ, mợ tôi ở nhà lo lắng, không biết truyện gì xảy ra.?

Trước khi đi, anh có nhờ ba tôi nuôi dùm một con sáo, tưởng rằng thời gian ngắn sẽ về. Ai ngờ anh đi biền biệt. Vì con sáo trở thành niềm vui trong lúc nhàn rỗi nên ba tôi nuôi và chăm sóc cẩn thận. Lâu lâu mua thịt về nấu ăn, ba tôi cũng cho chim ăn vài miếng. Thế rồi mấy năm sau, chim biết nói và cũng khá khôn. Nó nói nghe rõ lắm. Nhưng không biết ai trong tổ may dạy nó lúc nào mà mỗi khi tôi xuống bếp, ra sau vườn, thấy tôi con chim nói: “Diễm ơi, khổ chưa. Diễm ơi, khổ chưa”. Nó nói tỉnh bơ trong khi tôi vừa buồn cười vừa tức vì vô tình nó khơi nỗi đau khổ đeo đuổi mấy năm nay. Lần thăm này, ba tôi khoe với anh con sáo đã biết nói. Nhưng khi đi thăm về thì con sáo gần chết vì mợ tôi quên không cho nó ăn. Con sáo đói, lấy mỏ cạy lồng để chui ra nhưng cuối cùng cái mỏ trên bị gãy. Ba tôi về, tiếc quá, đút cho nó ăn nhưng vẫn không cứu được.

Hai tháng sau, khoảng 2 giờ chiều, lúc đó tôi đi học may ở Tam Hiệp về, gần đến nhà thì thấy chú Mến đang đi ngược chiều vội đứng lại. Chú Mến bán hàng ở ngoài chợ, thùng hàng đặt trên chiếc xe đạp, bán xong, gấp lại, đi về rất tiện. Mỗi lần thấy tôi, chú nói: – Cô ơi, chú sắp về rồi. Tôi mỉm cười vì biết chú ấy nói để tôi hy vọng, đừng nản chí chứ làm sao chú biết ngày về của anh ấy. Ðã hàng trăm lần chú nói với tôi như thế và cũng chẳng bao giờ thành sự thật. Hôm nay, chú đứng lại chờ tôi, khi đến gần chú nói với nụ cười thật tươi: – Cô ơi, chú về rồi, thật đấy.

Tôi nhìn chú Mến, chào và nói diễu: – Bao nhiêu lần rồi có thấy gì đâu?

Chú Mến nói tiếp: – Thật mà, cô về xem, chú về rồi.

Tôi không tin, lên xe đạp đi về.

Khi đến con đường Quốc Lộ 1, tôi xuống để dắt xe băng qua đường như mọi lần vì nhà tôi ở bên kia đường, nhìn qua thấy ba tôi và anh đang đứng ở trước cửa, lòng tôi bỗng vui hẳn lên. Chú Mến nói đúng, anh đã về, anh về vào lúc chẳng ai ngờ. Tôi lấy tay dụi mắt, tưởng như nằm mơ nhưng anh, người tôi thương yêu, đợi chờ hơn 5 năm qua nay đang đứng đón tôi và đã thực sự may mắn sống sót trở về.

Hai tháng sau, chúng tôi chuẩn bị đám cưới. Thiệp mời được gởi đến hàng xóm, bà con thân thuộc ở Sài Gòn, Thủ Ðức và các tỉnh xa. Những người hàng xóm sau một thời gian dèm pha tưởng tôi không đủ kiên nhẫn đợi chờ đến khi anh về nhưng thấy tôi một lòng nhất quyết nên ai cũng theo dõi xem mối tình lận đận này sẽ đi về đâu, chung cuộc như thế nào? Nay, nhận được thiệp cưới, họ vui vẻ chúc mừng. Chuyện của tôi đợi chờ… người tù cải tạo hầu như ai cũng biết nên khi anh về, nhiều người tò mò đến xem, hỏi thăm.

Chỉ còn một tuần nữa là đám cưới, ngày vui nhất của đời con gái đi lấy chồng. Cả gia đình đang chuẩn bị cho ngày vui ấy. Nhưng đột nhiên tôi bị sốt, người mệt mỏi rã rời, nặng đến nỗi phải đi nhà thương Ðồng Nai. Bác sĩ khám vẫn chưa biết bệnh gì, chỉ truyền nước biển và chờ kết quả xét nghiệm. Lòng tôi buồn vô hạn, chưa bao giờ bị bệnh mà tôi mệt như thế, miệng đắng ngắt, sức lực như mất gần hết, giọng nói thều thào vì đuối sức. Có lẽ nào định mệnh lại oan nghiệt chia lìa chúng tôi. Hơn 5 năm đợi chờ mỏi mòn, mong một ngày anh về, nay anh về thì tôi có thể… sẽ ra đi vĩnh viễn. Anh lên thăm, nhìn tôi buồn vời vợi.

Sau này nghe ba tôi kể, ba tôi quá buồn, nằm dài trên sàn nhà, còn anh ngồi trên ghế suy tư, lo lắng. Hai bố còn bàn nhau bây giờ đã quá muộn, không thể hồi báo được, sợ đám cưới này thiếu cô dâu vì đang nằm ở bệnh viện. Biết đâu bà con thân thuộc xa gần lâu ngày không gặp, về thay vì tham dự đám cưới lại dự đám ma. Biến ngày vui trở thành tang tóc. Theo dự trù, chiều thứ Sáu anh chịu Phép Rửa Tội, chiều thứ Bảy Lễ Cưới, ngày Chủ Nhật Ðám Cưới; hôm nay thứ Tư, tôi còn nằm đây, ở nhà thương. Tôi tủi cho thân phận đen tối, kém may mắn của mình. Những ước mơ ấp ủ bao năm qua, mong một ngày đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc lứa đôi nay sắp tan thành mây khói. Nghĩ vậy, tôi đau lòng, tủi thân nằm khóc.

Tôi biết càng khóc thì bệnh của tôi càng nặng thêm. Nghĩ ngợi, lo lắng nhiều chẳng có ích gì trong lúc này nhưng không sao dằn lòng được. Tôi cố ngồi dậy, đọc kinh xin Thiên Chúa và Ðức Mẹ cho tôi qua khỏi cơn hoạn nạn để trở về nhà càng sớm càng tốt kẻo mọi việc lỡ làng . Sáng hôm sau, tôi thấy đỡ mệt, căn bệnh có triệu chứng thuyên giảm. Ngày thứ sáu bỗng thấy người dần dần ấm lại và thèm ăn. Bác sĩ khám cho về mặc dù chưa khỏi hẳn.

Chiều hôm ấy, còn ốm dở, sợ đứng lâu không được nên ba tôi không cho đi tham dự lễ rửa tội của anh. Tôi tiếc lắm vì đó là sự kiện trọng đại của đời anh lại thiếu tôi, không được chứng kiến. Ngày hôm sau thứ Bảy, miệng đắng ngắt, đi chưa vững nhưng cũng phải đi làm tóc, trang điểm lại sơ sơ để làm cô dâu. Buổi chiều mưa không lớn nhưng kéo dài dai dẳng. Từ nhà tôi đến nhà thờ khoảng 100 thước, vì trời còn lất phất mưa, không dám đi bộ, người còn yếu sợ trúng mưa nên ba tôi nói gọi xe xích lô chở chúng tôi. Hóa ra, ngày vu quy, vô tình xe hoa chở cô dâu chú rể là chiếc xích lô, có ai ngờ lại như vậy.

Xe chạy đến cổng nhà thờ. Ðường vào bị dốc nên xe khựng lại, không lên được. Anh tài xế nhảy xuống định ra phía trước nắm càng xe kéo lên, chưa kịp kéo thì đuôi xe nhổng lên, đầu xe gục xuống, tôi với anh tí nữa ngã ra khỏi xe, may anh níu lại. Lúc này mà ngã xuống đất, quần áo cưới bị ướt, dính bùn bẩn hết thì không biết làm sao. May không bị gì, đành lấy dù che đi bộ băng qua sân vào nhà thờ. Lúc này đã trễ 5 phút, Cha và mọi người đang đứng chờ.

Tôi với anh, sau bao năm chờ đợi, trong tiếng kèn rộn rã vui tươi của đội kèn đồng mở đầu Thánh Lễ, cùng nắm tay nhau tiến bước lên lãnh nhận phép Hôn Phối, tuyên hứa thủy chung, thương yêu nhau trọn đời. Số người tham dự đông hơn mọi ngày vì họ biết chúng tôi đã lận đận lại còn muộn màng hơn những đôi tân hôn khác, có lẽ họ đã cầu nguyện nhiều cho chúng tôi.

Thời gian trôi qua mau, thấm thoát đã 26 năm, dù trải qua nhiều thăng trầm thử thách trong cuộc sống nhưng chúng tôi vẫn có nhau, bên nhau và thật nhiều hạnh phúc. Ðồng hồ thời gian vào thời điểm các anh đi tù hình như sắp hết pin nên chạy quá chậm, làm tôi cũng như các chị đợi chờ mòn mỏi. Bây giờ thì lại chạy quá nhanh, đã bước vào tuổi ngũ tuần, mái tóc không còn đen tuyền như trước nữa mà đã bạc màu.

Nhìn lại năm xưa tháng cũ đợi chờ người tù cải tạo, tôi không hiểu sao mình lại vượt qua được, nó như một cơn ác mộng, một quãng đời kinh hoàng đầy ưu tư, lo lắng. Tất cả nay đã trở thành kỷ niệm, ăn sâu vào ký ức, không bao giờ quên, những kỷ niệm buồn nhiều hơn vui.

Oklahoma.

Diễm Xưa.

Nguốn Thư Viện Toàn Cầu

Chỉnh sửa lại bởi Hoa Hạ - 20/May/2016 lúc 7:42pm

Trời mưa không lớn lắm
Nhưng đủ ướt đôi đầu
Cuộc tình không lớn lắm
Nhưng chiếm hết đời nhau.

Hoa Hạ

IP IP Logged
Hoa Hạ
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 19/Jan/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 944
Quote Hoa Hạ Replybullet Gởi ngày: 08/Sep/2017 lúc 8:15am
Kỹ Niệm 45 năm ngày mất

Cố Đ/U NGUYỄN THÀNH ĐÔNG

ĐĐT ĐĐ 1- TĐ 2/7 SĐ 5 BB - KBC 4441

Hoa Hạ



Trời mưa không lớn lắm
Nhưng đủ ướt đôi đầu
Cuộc tình không lớn lắm
Nhưng chiếm hết đời nhau.

Hoa Hạ

IP IP Logged
Hoa Hạ
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 19/Jan/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 944
Quote Hoa Hạ Replybullet Gởi ngày: 09/Sep/2017 lúc 4:03am

https://youtu.be/oRf88sxAtxg

CHÚT TÌNH CHO BIỂN
Quang Bình
Tiềng hát Thái châu
Ɓiển đó, mà sao уên lặng quá,
ai đi ai ở ai buồn hơn
Ɓiển đó, chỉ còn ta vơí đá
người đi ta ở chẳng ai vui
Ɓiển đó, đèn thuуền ai mờ tỏ,
cánh dừa ghê đá bóng đơn côi
Ɓiển đó nhấp nhô con sóng nhỏ
cô đơn ta bước dạo trên đường
Ɗẫu biết ngàу chia taу
sẽ đến sao lòng ta cứ mãi miên mang
Ϲuộc vui nào mà không tàn,
mộng ước ngàу mai em trở về
Mông ước một ngàу em trở lại,
và thôi mỗi cánh chim baу
Đứng bên nhau, giữa trời biển vắng
Ϲhút tình nầу xin gởi lại người xưa


Trời mưa không lớn lắm
Nhưng đủ ướt đôi đầu
Cuộc tình không lớn lắm
Nhưng chiếm hết đời nhau.

Hoa Hạ

IP IP Logged
Hoa Hạ
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 19/Jan/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 944
Quote Hoa Hạ Replybullet Gởi ngày: 13/Sep/2017 lúc 10:07pm


Nụ Cười – Bửu Uyển

September 13, 2017 | by     Ban Tu Thư

Vào dịp cuối năm 1984, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết: “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa, trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo… sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo: “Em còn nhớ anh không?”. Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”.

Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một thiếu úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó… mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc. Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi: “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”.

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”.

Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi: “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây, dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa, ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”.

Đạo như chợt tỉnh, ông lảo bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày, Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còn cho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.

Một buổi chiều khi đi lao động về, nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng Chúa Nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo. Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà, khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em: Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: Đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai: Một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy… thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài!

Vào một sáng Chúa Nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi. Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi… đã ba, bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà, Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

“Anh nhớ không, ngaỳ Chúa Nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông thượng tá công an ngồi ở đó. Chi vội vã đứng lên giới thiệu: “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh”. Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo cấp bậc thiếu úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay: “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cười, rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sài Gòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Cam Bốt”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói: “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần… Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”.

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sài Gòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một đại úy Công Binh Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi: “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?”. Tôi trả lời ngay: “Của vợ con cho đó!”.

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Ti Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi: “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”.

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “Anh Đạo yêu quý của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm!“.

Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu thượng tá công an của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!”. Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất!

Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi: “Thưa anh, đây là Chi, vợ em”. Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

Tôi đã được nghe, được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.


Nguồn Thư Viện Toàn Cầu

Trời mưa không lớn lắm
Nhưng đủ ướt đôi đầu
Cuộc tình không lớn lắm
Nhưng chiếm hết đời nhau.

Hoa Hạ

IP IP Logged
Hoa Hạ
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 19/Jan/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 944
Quote Hoa Hạ Replybullet Gởi ngày: Ngày hôm qua lúc 10:21am
Cô Y Tá – TT Đại
September 21, 2017 | by     Ban Tu Thư



rong các trại cải tạo của tôi ở miền Bắc Việt Nam thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, đều được thiết lập sâu trong rừng già. Lý do là vì công tác chính của các cải tạo viên là chặt giang (một loại tre rừng rất lớn) để làm giấy, mà giang chỉ có trong rừng già. Khi bước chân đến một trại cải tạo mới nào, chúng tôi cũng được Cán bộ Trưởng Trại đón tiếp bằng câu: “Tội các anh đều ‘đáng chết’ vì có ‘nợ máu’ với nhân dân, nhưng nhờ Đảng và Nhà Nước Cách Mạng khoan hồng nhân đạo, nên cho các anh còn được sống đấy!”. Câu nói này được các cán bộ quản giáo thường xuyên nhắc lại. Mục đích để làm gì? Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì đối với một tội phạm thì “tội chết” (tử hình) là tội nặng nhất, nên căn cứ vào đó thì dù chính sách của Đảng và Nhà Nước Cách Mạng có đối xử với tù binh cải tạo tồi tệ đến đâu chăng nữa, thì so với “tội chết” vẫn còn là khoan hồng nhân đạo! Hơn nữa, Đảng lại còn huấn luyện được mội đội ngũ cán bộ luôn luôn thi hành chính sách một cách nghiêm túc, không để tình cảm cá nhân xen vào.

Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, đó là có cán bộ đã dám nương nhẹ tay khi áp dụng chính sách của cấp trên trao phó. Ở đây tôi muốn nói đến một cán bộ cấp nhỏ ở trại cải tạo của tôi ở tỉnh Hoàng Liên Sơn vào năm 1978. Đó là cô y tá ở trại này. Cô chỉ là loại y tá sơ đẳng, giống như y tá nông thôn ở miền Nam, chỉ được học chuyên môn chừng ba tháng, nghĩa là chỉ biết điều trị những bệnh thông thường như cảm sốt, nhức đầu, đau bụng… và biết chích và băng bó sơ qua thôi.

Cô tên là Nữ, tôi không biết họ cô là gì, thuộc dân tộc thiểu số Mường, chừng khoảng 25 tuổi. Cô là một phụ nữ độc nhất trong trại cải tạo gồm hơn 600 cải tạo viên và khoảng chừng 30 cán bộ tham mưu, cán bộ quản giáo và bộ đội bảo vệ.

Đáng lẽ cô phải được mọi người chú ý, nhưng không, dường như ai cũng lơ là đối với cô. Lý do là vì cô sinh ra đời với một ngôi sao xấu, nghĩa là nhan sắc cô quá tầm thường. Nước da cô nâu xậm, đôi môi thâm dầy, khi cười thì để lộ ra hai cái răng cửa to quá khổ, che lấp các răng khác. Răng cô mầu nâu lợt, có lẽ có thời cô nhuộm răng đen, nhưng khi gia nhập bộ đội thì không có cơ hội nhuộm răng nữa, lại cũng không có thuốc tẩy trắng răng. Tóc cô thuộc loại tóc rễ tre, cứng và rất khó chải cho mượt. Mình cô mặc bộ đồ kaki bộ đội, phát sao mặc vậy, nghĩa là chẳng có sửa cho bó sát vào thân hình. Chân cô đi đôi dép lốp, để lộ hai ngón chân cái to tướng, hướng vào nhau như giống người Giao Chỉ thủa xưa. Gót chân cô thì nứt nẻ, có lẽ do đi bộ nhiều. Cô không có dáng yểu điệu của một thiếu nữ thời son trẻ, vì cô sinh ra ở bộ lạc Mường nên ngay từ mhỏ đã phải lội suối băng rừng, nếp sống đó đã tạo cho cô một thân thể lực lưỡng khác thường. Đó là những yếu tố không hợp với nhãn quan của đàn ông, nên họ đều lơ là đối với cô.

Tên cô là Nữ, nhưng một số các cán bộ miền Bắc nói ngọng nên gọi cô là “Lữ”. Cô chấn chỉnh họ:” Tên tôi là Nữ sao lại đổi thành “Lữ” hả? Họ cười lớn và trả lời: ”Gọi tên thế nào hiểu được thì thôi, có đẹp đẽ duyên dáng gì mà làm bộ làm tịch như thế!”. Cô yên lặng không trả lời, có lẽ cảm thấy xót xa cay đắng lắm, vì bất cứ vấn đề gì, họ cũng đem cái diện mạo xấu xí của cô ra mà châm biếm!

Đối với các cải tạo viên thì lúc đầu cũng không có cảm tình đối với cô. Lúc buổi tối chuyện trò với nhau trong lán, có anh cải tạo nói:

– Con mụ đó có cho không, tao cũng không nhận!

– Nếu gặp con đó ở giữa rừng, có lẽ tao cũng co giò mà chạy cho thoát thân! Một anh khác thêm vào.

Tôi cố gắng can thiệp: “Nhan sắc phụ nữ là thứ Trời cho, chẳng may cô có một diện mạo xấu xí, thì đáng thương hại hơn là chê bai ruồng rẫy như vậy! Một anh lên tiếng: ”Nhưng cô ta lại còn khó khăn, bệnh nặng đến mấy cũng không cho nghỉ lao động!”

Tôi cố bào chữa cho cô một lần nữa: ”Đó là lệnh của trưởng trại, vì chỉ tiêu mỗi cải tạo viên là 40 cây giang, mỗi cây trị giá 4 hào, vị chi là 16 đồng, khẩu phần mỗi cải tạo viên là 2 hào một ngày, nếu cho nghỉ thì lấy gì mà bù vào số tiền sai biệt 15 đồng 8 hào!

Thêm một anh nữa chất vấn rằng: “Tại sao mỗi lần cải tạo viên đến khám bệnh, con mụ đó bắt anh em chúng ta phải đứng nghiêm cách xa ba bước rồi khai bệnh. Nếu không có ống nghe bệnh, thì cũng phải thò tay ra bắt mạch chứ, đằng này không, dường như nó sợ đụng chạm vào người bệnh nhân!”.

Câu chê trách này khiến tôi không thể bênh vực được, nhưng tôi nghĩ có thể có uẩn khúc gì đây!

Còn về thuốc men cô cấp phát thì anh em cũng phiền trách dữ lắm:

– Cảm sốt ư? Cô gói cho ba viên “Xuyên Tâm Liên”!

– Đau bụng ư? Cũng ba viên Xuyên Tâm Liên!

– Ngộ độc ói mửa vì cải thiện bậy bạ ư? Cũng Xuyên Tâm Liên!

Điều này cũng không thể kết án cô được vì cấp trên chỉ cấp cho cô một thứ thuốc độc nhất là Xuyên Tâm Liên để trị bệnh cho cải tạo viên.

Tôi còn nhớ một đêm tôi bị cảm sốt không ngủ được nên sáng sớm tôi xin khám bệnh. Cùng khám bệnh với tôi hôm đó là Bác Sĩ Thiếu Tá Long. Anh bị đau bụng tiêu chảy cả chục lần trong đêm. Tôi nhường anh khám trước vì anh bệnh nặng hơn tôi. Anh đứng nghiêm cách ba bước theo quy định và lên tiếng: ”Tôi bị tiêu chảy cả đêm nên mất sức lắm!”

“Tiêu chảy là cái gì? Cô y tá hỏi vì cô không hiểu tiếng miền Nam. Tôi vội lên tiếng thông dịch: ”Tiêu chảy là ‘đi tháo dạ‘ đó cô!”

Cô gói cho anh Long ba viên Xuyên Tâm Liên. Anh cầm lấy rồi phàn nàn rằng: ”Tôi đã học Y khoa ở Sài Gòn bảy năm, lại đi tu nghiệp một năm ở Hoa Kỳ, thêm kinh nghiệm sáu năm chữa bệnh trong các bệnh viện dã chiến, tôi chưa thấy thuốc nào chữa được bách bệnh như Xuyên Tâm Liên của cô!”

Phản ứng tức thời của cô Nữ là giật phắt gói thuốc trên tay anh Long lại và nói: ”Không lấy thì thôi, còn lý sự nữa!”

Anh Long bèn xuống nước nói: ”Nếu không cho thuốc thì xin cô cho phép tôi nghỉ lao động hôm nay vì tiêu chảy suốt đêm nên sức yếu lắm !”

Cô đáp: “Còn lý luận được là còn đủ sức lao động! Đi làm !!!”

Anh buồn bã đi ra sân tập họp với các bạn để sửa soạn đi lao động.

Đến phiên tôi khai bệnh, tôi nói vắn tắt là bị cảm sốt. Cô gói cho tôi ba viên Xuyên Tâm Liên. Tôi cầm lấy và để tỏ thái độ bất bình của tôi đối với cử chỉ vừa rồi của cô với Bác Sĩ Long, tôi quay ngoắt đi thẳng ra sân tập họp đi lao động!

Cô gọi tôi lại và hỏi rằng: ”Sao anh không xin phép nghỉ?”. Tôi đáp: ”Anh Long bị bệnh nặng hơn tôi nhiều, thế mà cô còn không cho nghỉ, thì tôi xin làm gì cho mất thời giờ!”.

Có lẽ hối hận vì cử chỉ sống sượng với anh Long nên cô nói: “Thôi được, tôi cho anh nghỉ hôm nay, nhưng khi bớt sốt thì anh giúp dọn dẹp phòng khám bệnh này nhé!”.

Tôi không ngờ sự “hờn mát” của tôi mà lại có hiệu quả tốt như thế, nên nhận lời ngay !

Cô rót cho tôi một cốc nước vối để uống thuốc, rồi chỉ vào cái chõng (giường nhỏ bằng tre) ở góc phòng và nói :” Uống thuốc rồi nằm nghỉ ở đó, khi nào đỡ sốt thì hãy dọn dẹp”.

Thuốc Xuyên Tâm Liên là loại thuốc tễ, làm bằng thảo mộc, viên đen xì, chỉ có công hiệu về cảm sốt thôi, nên đúng bệnh của tôi. Uống thuốc vào, tôi ngủ một giấc cho đến 2 giờ chiều mới thức dậy!

Thấy cô Nữ đang ngồi ở bàn, tôi hỏi: ”Sao cô không đánh thức tôi dậy?”.

“Thấy anh ngủ ngon nên tôi để yên cho anh lấy lại sức”. Cô đáp.

Tôi lấy chổi quét dọn phòng khám bệnh, rồi sắp xếp các vật dụng cho có ngăn nắp. Thấy hôm nay cô dễ dãi nên tôi bạo miệng chất vấn cô rằng:” Tại sao mỗi lúc khám bệnh, cô đều bắt anh em cải tạo chúng tôi đứng nghiêm chỉnh cách cô ba bước, như thế nghĩa là thế nào?”.

Cô đáp ngay:” Vì ngụy quân các anh là các thành phần nguy hiểm!”.

“Nguy hiểm ra sao? Xin cô cho biết?”. Tôi hỏi tiếp.

Cô nói dằn từng tiếng: “Nghĩa là ngụy quân các anh đã ăn gan uống máu các chiến sĩ cách mạng mỗi khi họ bị bắt, anh đã rõ chưa?”.

“Nhưng chính mắt cô có được thấy như thế không?”. Tôi thắc mắc.

Cô đáp: ”Tuy tôi không được chính mắt nhìn thấy cảnh này, nhưng tôi được học tập và trong buổi học tập có nhân chứng là một chiến sĩ cách mạng đã vượt Trường Sơn vào giải phóng miền Nam. Anh chiến sĩ đã kể lại rằng trong một trận chiến thắng được một đồn của ngụy quân ở vùng Vàm Cỏ Đông, anh vội vàng vào giải cứu các chiến sĩ cách mạng đã bị bắt mấy tuần trước và bị giam ở đồn này. Nhưng đến lúc tìm gặp được thì hỡi ơi, họ chỉ còn là những xác chết và xác nào cũng giống nhau, nghĩa là bị mổ bụng lấy mất lá gan, và cổ còn in những vết răng, chứng tỏ các anh ấy bị hút máu trước khi chết. Như thế ngụy quân các anh còn chối nữa sao?”

Tôi nói với giọng chua xót: ”Đấy chỉ là luận điệu tuyên truyền. Nếu đúng như vậy thì tại sao trong lúc học tập cải tạo đói khổ như thế này, chúng tôi không “ăn thịt” lẫn nhau mà còn, như cô thấy đấy, nhường nhau từng miếng sắn, chặt giúp cho nhau từng cây Giang để đỡ cho những người đau yếu!

Cô yên lặng không trả lời vì những lời tôi nói, cô đã được mục kích tận mắt!!! Từ đó trở đi, cô đã đổi hẳn thái độ, không còn bắt anh em cải tạo mỗi khi khám bệnh phải đứng nghiêm cách cô ba bước nữa, mà cô còn sờ trán, bắt mạch để định bệnh. Chính bản thân cô còn vào sâu trong rừng để tìm một số lá cây, rễ cây có tính chất dược thảo theo kinh nghiệm của cô, để phụ với Xuyên Tâm Liên trong việc trị bệnh cho cải tạo viên.

Những loại lá rừng này nhiều khi rất hiệu nghiệm trong việc chữa trị như trường hợp bị “vắt” cắn. Vắt là một loại đỉa rừng sống trên cây, chỉ bằng phân nửa đỉa ruộng. Mỗi khi ngửi thấy hơi người đi qua là nó buông mình rơi xuống bám vào thân thể người ta, nhưng không hút máu ngay, mà chui vào chỗ nào ấm nhất như háng, nách hay bụng rồi mới hút máu. Đặc điểm của vắt rừng khác với đỉa ruộng là khi hút máu xong, vết thương vẫn tiếp tục rỉ máu.

Cô Nữ đã biểu diễn việc chữa trị các vết thương rỉ máu này bằng cách cô lấy một nắm lá mà cô gọi là “lá tầu bay”, cô nhai nát rồi “nhổ toẹt” vào lòng bàn tay cô, rồi cô nhón lấy từng chút một, chia cho các cải tạo viên và chỉ cho họ đắp vào các vết bị vắt cắn. Thật là thần diệu, máu cầm lại tức thì!

Cô còn lấy một số “lá tầu bay” còn tươi giơ ra cho mọi người nhận biết và nói rằng: ”Chỗ nào có xuất hiện vắt, thì chỉ trong vòng 10 thước, thế nào cũng có loại “lá tầu bay” này. Các anh cứ việc tự hái lấy, nhai nát rồi đắp vào chỗ vắt cắn là cầm máu ngay, đừng có đợi đến chiều tối về trại xin khám bệnh, thì máu chảy quá nhiều, mất sức lắm!”. Thật đúng là “Trời sinh, Trời dưỡng”. Khi Trời đã để một tai biến xảy đến với con người, thì thế nào Trời cũng sinh ra cách trị liệu, chỉ tiếc rằng con người không biết đến mà thôi!

Cô còn nhờ những cán bộ đi phép mua giùm cô củ gừng, củ nghệ, cây lá lốt, tía tô, kinh giới… để cô trồng thành một vườn thuốc nhỏ do chính cô chăm sóc. Chẳng bao lâu cô tạo được cả một tủ thuốc thảo mộc. Ngoài thuốc Xuyên Tâm Liên được cấp phát để trị cảm sốt, còn các bệnh khác như đau bụng, tiêu chảy, ho, nhức đầu, ghẻ lở, đau mình… cô đều có thuốc tự chế để điều trị cả!

Đúng là cô vừa đóng vai một người thầy thuốc (physician), vừa đóng vai một nhà bào chế thuốc (pharmacist) để lo chữa trị cho hơn 600 cải tạo viên chúng tôi! Đáng lẽ công tác này phải có chừng cả chục người: Bác sĩ, dược sĩ, y tá mới đảm đương nổi, mà nay chỉ có một mình cô đơn độc gánh vác!!!

Chúng tôi phục cô quá và đổi hẳn thái độ đối với cô. Ai nấy đều tỏ ra kính cẩn và biết ơn cô.

Gặp cô ở đâu, mọi người đều chào hỏi lễ phép: ”Chào cô Nữ, cô vẫn được mạnh giỏi chứ!”.

Cô niềm nở đáp lại: ”Vẫn được bình thường, còn các anh thì sao?”

Đó là một niềm an ủi lớn lao đối với chúng tôi trong suốt thời gian cải tạo, thiếu thốn đủ mọi điều!

Ngoài những thiếu thốn về vật chất như đói kém, chẳng bao giờ được ăn đủ no, mà khẩu phần chỉ có sắn với mắm chược (một loại mắm cá thối), chỉ có ngày mồng một Tết Nguyên Đán mới được ăn cơm; chúng tôi còn có những thiếu thốn về tinh thần như xa gia đình, xa những người thân thích. Sống ở nơi “thâm sơn cùng cốc”, hàng ngày chỉ làm bạn với rừng già và quản giáo, chỉ nghe được những tiếng “khỉ ho, cò gáy”, mà không hề nhận được tin tức gì về xã hội bên ngoài. Chúng tôi trở nên đói khát cả tin tức nữa, thèm khát tin đến nỗi hàng đêm chúng tôi phải đem những giấy gói thuốc “Xuyên Tâm Liên” của cô y tá đến chỗ ngọn đèn dầu lạc lờ mờ ở cuối lán, cố ghép lại với nhau với hy vọng là thấy được tin tức gì ở bên ngoài. Nhưng những mảnh giấy gói thuốc này vốn cắt ra từ tờ báo, chỉ to bằng nửa bàn tay, lại “đầu Ngô, mình Sở” chẳng ăn nhập gì với nhau cả, vì cô y tá phụ trách khám bệnh cho tới 10 đội, nên mỗi đội chỉ nhận được vài ba gói thuốc mà thôi, may lắm thì được vài tin tức như quảng cáo, thi đua, anh hùng lao động, chẳng liên quan gì đến mình cả, nhưng vẫn ráng đọc để cho đỡ nhớ mặt chữ! Mang tiếng là học tập cải tạo mà có bao giờ thấy được sách báo gì đâu, chỉ toàn là lao động chân tay thôi! Nghĩ lại ngày xưa, thời còn chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam, sách báo tràn ngập, mình chỉ chọn những sách báo hay mới đọc, còn không thì liệng đi. Bây giờ cảnh ấy chỉ còn thấy trong giấc mơ thôi!

Một hôm tôi bị đau răng. Số là chiếc răng khôn (wisdom tooth) ở hàm dưới của tôi lại mọc trong thời gian tôi cải tạo, mà nó lại mọc bất thường, nghĩa là mọc vào chỗ chiếc răng hàm kế bên và đội chiếc răng hàm này lên, khiến mặt tôi sưng húp! Tôi cầu cứu đến cô Y Tá Nữ. Cô không có kinh nghiệm về việc làm của nha sĩ, nên cô đề nghị nhổ. Tôi đành phải chấp nhận giải pháp này vì đau quá không chịu nổi!

Cô lấy sợi chỉ chập đôi lại, rồi cột vào chân chiếc răng khôn đang mọc nửa chừng của tôi. Cô bảo tôi nhắm mắt lại, rồi cô giật mạnh. Sức cô quá mạnh, nên không những làm chiếc răng khôn tung ra, mà còn kéo theo cả chiếc răng hàm kế cận ra khỏi miệng, đồng thời máu cũng tuôn vọt ra đầy miệng. Cô vội vàng lấy chiếc khăn tay trắng của cô đưa cho tôi để đắp vào vết răng vừa nhổ và cấp tốc đi tìm phương tiện cầm máu. Một lát sau cô mang lại một mớ thuốc lào và đắp vào vết thương của tôi. Chừng 10 phút thì máu cầm lại. Tôi đem chiếc khăn tay đầy máu ra ngoài chum nước mưa để giặt. Nhưng vì không có xà bông nên giặt không sao sạch được! Tôi đem trao lại chiếc khăn còn vết máu và nói: “Xin lỗi cô, vì thiếu xà bông nên không sạch được!”. Cô cười đáp: “Xà phòng là một thứ xa xỉ phẩm nên ở đây không có, ở quê tôi họ dùng quả “bồ hòn” thay cho xà phòng cũng tốt lắm! Thôi giữ nguyên cái khăn này để làm kỷ niệm lần đầu tiên tôi đóng vai trò nha sĩ đấy!”.

Một buổi chiều khi chặt giang về, quản giáo ra lệnh tập họp điểm danh thì thấy thiếu anh Bác Sĩ Long. Anh Long có tính thích lao động một mình. Nhóm gồm ba Bác Sĩ Phát, Tâm và Lộc có mời anh gia nhập nhưng anh từ chối. Nhóm tôi cũng mời anh, nhưng anh cũng không nhận lời. Tôi có nói với anh rằng: ”Lao động chặt Giang trong rừng già này cần phải gia nhập nhóm vì ngộ lỡ có tai nạn xảy ra thì còn có người giúp đỡ”. Nhưng anh đáp: “Sống chết đều có số Trời, nếu đến ngày tận số thì có gia nhập đến ba nhóm cũng thế thôi!”.

Anh Đại Úy Khương báo cáo: ”Buổi trưa tôi còn thấy anh Long chặt Giang ở sườn núi phía trái suối nước”.

Quản giáo ra lệnh cho anh Khương và tôi trở lại tìm kiếm. Sau chừng nửa giờ xục xạo ở sườn núi phía trái, chúng tôi kiếm được anh Long. Anh đã ngất đi, mặt tái xanh. Kiểm soát thì thấy chân phải anh bị sưng lên vì một vết rắn cắn. Chúng tôi cấp tốc khiêng anh về trại. Quản giáo chỉ thị chúng tôi khiêng anh lên phòng cô Y Tá Nữ. Bắt mạch thấy nhịp tim rất yếu, cô biết tình trạng nguy kịch, nên nói với anh bộ đội bảo vệ: ”Anh mang súng theo tôi vào rừng để kiếm “lá kỵ rắn” thì mới có thể cứu được!”. Anh bộ đội từ chối phắt ngay: ”Buổi tối mà vào rừng già thì chỉ làm mồi cho thú dữ thôi! Nếu là chiến sĩ cách mạng thì tôi sẵn sàng đi với cô. Đằng này là một tên tù ngụy quân mà cô lại bảo tôi hy sinh tính mạng cho nó sao!”.

Thấy nhờ không được, túng thế, cô bèn nói với tôi: ”Anh đi với tôi được không?”. Tôi đáp: ”Sẵn sàng, nhưng cô phải xin phép chú quản giáo của tôi trước đã”. Cô nói với quản giáo, lúc đầu chú còn ngần ngừ nhưng vì thấy tình trạng nguy kịch của anh Long nên chú đồng ý. Cô bèn thắp sáng chiếc “đèn bão” và đưa cho tôi cầm, còn cô thì xách con “dao quắm” chặt giang của tôi. Tôi vội nói: ”Cô cầm đèn đi, để tôi cầm dao quắm cho, lỡ có gì nguy hiểm xảy ra thì tôi còn bảo vệ cô chứ!”. Cô đáp: ”Anh yếu đuối như thế này thì bảo vệ bản thân anh cũng không xong, còn nói bảo vệ ai nữa!”. Nhìn thân hình vạm vỡ của cô, tôi thấy cô nói đúng.

Chúng tôi đi thẳng vào trong rừng. Cô không đi theo đường mòn mà đi vào những bụi rậm với lý do là nơi nào có rắn sinh sống thì nơi ấy hay có “lá kỵ rắn”. Lùng sục chừng một tiếng đồng hồ mà cô không tìm ra “lá kỵ rắn”. Bỗng nhiên có tiếng động ở phía trước, dưới ánh đèn bão, tôi thấy xuất hiện một con lợn rừng đồ sộ chừng hơn 200 ký xông thẳng đến phía chúng tôi. Tôi hoảng sợ định bỏ chạy, nhưng lúc đầu lỡ nói cứng là bảo vệ cô, mà nay lại chạy thì còn ra thể thống nào nữa! Đang lúc tôi còn đang lưỡng lự, thì bỗng thấy cô Nữ lao thẳng về phía trước, tay vung dao quắm, miệng thì hét lên. Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hét của cô vang dậy cả núi rừng, khiến cho con lợn rừng chưa giao chiến mà đã chạy rồi! Cô quay lại nhìn tôi, thấy tay tôi cầm đèn còn run, khiến ánh sáng chao đảo. Cô trấn an: ”Nó chạy rồi, đừng sợ nữa!”. Tôi đáp: ”Tôi sợ cả tiếng hét của cô nữa!”. Đi chừng nửa giờ nữa, cô kiếm được lá kỵ rắn. Cô hái một mớ lá, rồi chúng tôi cấp tốc trở về trại. Về đến nơi, một phần “lá kỵ rắn” cô bỏ vào miệng nhai nát, rồi đắp lên chỗ rắn cắn của anh Long; phần còn lại, cô cho vào nồi sắc lấy nước. Chừng nửa giờ sau, thuốc nấu xong, tôi cậy miệng anh Long để cô đổ từ từ từng chút một vào miệng ảnh.

Nhờ trong uống ngoài thoa, nên chỉ chừng một giờ sau, tôi thấy tay Bác Sĩ Long cử động, rồi mắt từ từ mở ra. Tôi nói nhỏ vào tai anh: ”Cô Nữ đã cứu sống anh đó!”. Anh chưa nói được, nhưng gật đầu tỏ vẻ cảm động lắm!

Ngay sáng sớm, tôi vội đi báo với quản giáo là chúng tôi đã cứu sống được Bác Sĩ Long. Quản giáo khen ngợi tài chữa bệnh của cô Nữ, nhưng đối với tôi thì chú ra lệnh xếp hàng vào đội của tôi để sửa soạn đi lao động. Cô Nữ vội vàng can thiệp: ”Cả đêm anh ấy với tôi, lúc thì đi tìm “lá kỵ rắn”, lúc thì lo chữa trị cho anh Long, có chợp mắt được chút nào đâu, nhờ đồng chí cho anh ấy được nghỉ lao động hôm nay”. Nhưng quản giáo nhất định giữ nguyên lập trường: “Đây là anh ấy tự nguyện giúp anh Long, chứ tôi có ép buộc gì đâu! Phải đi làm vì không có ai chặt Giang thế cho anh ấy cả!”. Thế là tôi vẫn phải đi lao động, mặc dầu cô Nữ đã hết lòng xin.

Mùa hè năm 1978, thời tiết rất nóng, một tai họa lại xảy đến với trại cải tạo của chúng tôi. Đó là một số anh em cải tạo viên bị mắc bệnh sốt rét rừng. Đây là một loại sốt rét cấp tính, mỗi ngày lên ba cữ sốt nóng rồi rét run, và chỉ chừng ba tuần lễ sau là “lên đồi”, tiếng riêng của chúng tôi để chỉ việc đem đi chôn. Có một thủ tục ở trại cải tạo là không bao giờ để xác chết ở trong trại quá một ngày. Nếu chết ban ngày thì ngay nửa đêm hôm đó là phải đem đi chôn. Đám tang tù cải tạo thật là thiểu não. Thi thể người chết chỉ có một cái quần đùi và một cái áo mong manh. Không có quan tài, đến chiếu để bó xác chết cũng không có nữa. Dưới ánh đèn bão chập chờn, thi thể được cho vào một cái võng để khiêng đi. Theo lệnh cán bộ chỉ huy đám tang thì không được chôn ở dưới thung lũng mà phải lên trên sườn núi mà đào huyệt. Vì đất ở sườn núi lẫn với đá nên rất khó đào. Huyệt mới đào chưa đầy một thước thì cán bộ đã ra lệnh cho vùi thi thể xuống và lấp đất lại. Chúng tôi có đóng một cái cọc để đánh dấu mộ phần, nhưng chỉ vài ngày sau đi lao động ngang qua thì thấy vung vãi chung quanh vài mảnh quần áo của người quá cố. Thì ra đêm đến, heo rừng đã đánh hơi được xác chết nên đã đào lên để ăn. Thế cũng xong một kiếp người!

Cô y tá có trình với trưởng trại để xin thuốc ký ninh (quinine) trị bệnh sốt rét. Mặc dù trưởng trại có làm văn thư xin, nhưng không được cấp phát vì thời gian năm 1978 xảy ra cuộc chiến tranh với nước Cộng Sản láng giềng Cam Bốt ở miền Nam nên mọi việc đều phải ưu tiên cho cuộc chiến này.

Bệnh sốt rét là một bệnh có thể trị được, nhưng vì không có thuốc ký ninh, nên cải tạo viên nào mắc phải là coi như lãnh án tử hình.

Thật không may cho tôi, chính tôi lại bị bệnh sốt rét rừng này! Một ngày lên ba cữ sốt nóng rồi sau đó lại rét run, nên chỉ chừng một tuần sau là tôi chỉ còn da bọc xương. Tôi không buồn về việc mắc bệnh nan y này, mà coi đây là một sự giải thoát khỏi kiếp tù đầy! Tôi dặn dò ba anh bạn thân cùng tổ gồm Đại Úy Khương, Thiếu Tá Thiệt và Trung Tá Bách là khi tôi chết thì chỉ cần mặc cho tôi cái quần đùi và chiếc áo may-ô, còn quần áo còn lại thì chia cho ba người. Ba anh chỉ nhìn tôi mà ngậm ngùi gạt nước mắt vì các anh đều bất lực trước bệnh sốt rét! Các anh chỉ biết đỡ tôi lên phòng y tế và khẩn khoản xin cô y tá chữa giùm. Nhưng không có thuốc ký ninh thì cô cũng bó tay chịu thua, như cô đã bó tay đối với hơn 30 cải tạo viên trong trại đã ra đi vì bệnh sốt rét này! Cô cho biết ở Khu Tư (Thanh Hóa), là nơi cô sinh trưởng, có loại ớt rừng đặc biệt, tuy rất hiếm, có thể chữa trị được bệnh sốt rét, nhưng ở đây, cô đã khổ công đi tìm mà không thấy! Nhưng cô cũng an ủi tôi là cô sẽ cố công đi sâu vào những nơi hiểm hóc trong rừng già, may ra kiếm được chăng?

Cô Nữ săn sóc tôi rất tận tâm, hàng ngày cô lấy nửa phần cơm của cô hòa với nước, và nấu cháo cho tôi ăn. Ngửi mùi cháo, tôi thèm lắm, nhưng chỉ ăn được vài muỗng là tôi lại ói ra. Hàng ngày sau khi đi lao động về, ba anh bạn thân cùng tổ lại lên thăm tôi. Nhìn sắc diện tôi ngày một kiệt lực, các anh không ngăn được nước mắt!

Chừng một tuần lễ sau, một buổi tối, vào khoảng 9 giờ, tôi lên cơn sốt nặng chừng hơn 40 độ C, cô Nữ cuống lên, chỉ biết lấy khăn ướt mà lau mặt cho tôi để hạ nhiệt. Bỗng cô đứng lên và nói lớn: ”Tôi phải cố công ngay bây giờ, tìm cho được cây ớt rừng mới thôi!”; Tôi vội vàng ngăn lại: ”Ban ngày cả mấy tuần nay, cô đã đi tìm mà có thấy đâu! Nay đang đêm mà cô đi một mình vào rừng sâu thì nguy hiểm lắm!” Cô đáp: ”Tôi nghĩ rằng, Trời thấy tôi hết lòng, chắc chẳng nỡ phụ tôi đâu!”. Thế là cô thắp sáng cây đèn bão và một tay cầm dao quắm, một tay cầm đèn rời khỏi phòng khám bệnh. Tôi vội vã la lớn lên :” Đừng đi, cô Nữ ơi! Nguy hiểm lắm!”. Nhưng cô đã quyết ý nên đi thẳng luôn. Tôi vội vã ngồi dậy, định chạy giữ cô lại, nhưng mới đi được một bước thì tôi quỵ xuống vì kiệt lực, không còn đi nổi nữa! Tôi đành phải bò lại cái chõng tre, rồi nằm chờ đợi cô về.

Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Tôi nhìn chiếc đồng hồ nhỏ ở trên bàn, đã mười hai giờ đêm mà không thấy cô trở về, một giờ sáng cũng không thấy nữa. Tôi tự nhủ thầm: “Nếu cô có mệnh hệ gì thì thật là ân hận cho tôi! Mạng tôi đã an bài rồi, sao cô lại phải liều lĩnh như thế!”. Ba giờ sáng cũng không thấy cô trở về nữa, khiến tôi càng lo sợ thêm cho số phận cô. Đến bốn giờ sáng thì thấy tiếng động ở cửa và cô Nữ hiện ra!

”Ối Giời ơi! Cô đã trở về!” Tôi kêu lên mừng rỡ!

Nhìn cô quần áo rách tả tơi, đầu tóc rối bù, mặt và hai tay bị gai rừng đâm làm rướm máu.

“Cô không bị thương chứ!”. Tôi hỏi.

Cô giơ cao một bó rễ cây và nói: ”Không sao! Đúng là Trời không phụ tôi nên tôi đã kiếm được một bụi ớt rừng rồi và đào lấy một mớ rễ. Cả một bụi ớt lớn, ở trong hang đá cách đây chừng hơn 10 cây số. Tôi đã ghi dấu để sau này đi lấy tiếp”.

Cô chẳng nghỉ ngơi gì cả, đi thẳng ra chum nước mưa để rửa rễ ớt và cho vào nồi để sắc thuốc. Chừng hơn một giờ sau, cô đem bát thuốc rễ ớt rừng cho tôi uống.

Cô nói: ”Cố uống thật nóng và uống thật từ từ để tránh bị mửa ra!”. Uống xong bát thuốc, mồ hôi tôi vã ra như tắm.

Tiếp đó, cứ một ngày tôi uống bốn bát thuốc sắc rễ ớt rừng. Cơn bệnh sốt rét rừng của tôi từ từ bớt. Đang một ngày lên ba cữ sốt nóng rồi rét run, nay rút xuống hai cữ một ngày, rồi một cữ một ngày. Nhưng phải hơn một tháng, tôi mới dứt được căn bệnh sốt rét, vì rễ ớt rừng không công hiệu mạnh như thuốc ký ninh. Cô Nữ mừng lắm, vì không những cô cứu được mạng sống cho tôi, mà từ đó các cải tạo viên nào bị sốt rét, cô cũng đều cứu được cả.

Nhưng riêng tôi thì tôi cứ nghĩ mạng sống con người là do số Trời đã định, dù có muốn chết cũng không được và lúc này tôi cảm thấy thấm thía câu thơ trong truyện Kiều:

– ”Người dù muốn chết, Trời nào đã cho”.

Ngay khi được tin tôi đỡ được bệnh sốt rét, thì một buổi sáng đẹp trời, quản giáo đến gặp tôi ở phòng khám bệnh. Chú nói với cô Nữ: ”Tên này gần hai tháng nay vẫn ngày hai bữa sắn mà chẳng lao động sản xuất được gì cả! Đúng là tên “ăn hại đái nát”, ngày mai hắn phải trở lại đội của tôi để đi lao động chặt giang”.

Cô Nữ ngăn lại: ”Anh ta bị bệnh sốt rét, chứ có phải lười biếng gì đâu! Nay mới dứt bệnh, nhưng còn yếu lắm, chưa có thể lao động nặng được đâu!”

– ” Tôi đã quyết định, hắn phải đi lao động sản xuất ngay ngày mai!”. Chú quản giáo ra lệnh.

Cô Nữ đáp: ”Nếu làm theo ý đồng chí thì chỉ vài tuần sau, đồng chí lại mất công đi chôn anh ấy thôi!”.

– ”Thế thì cô tính sao?” Chú quản giáo hỏi.

Cô Nữ đề nghị: ”Nếu đồng chí đồng ý, tôi sẽ lên nói với thủ trưởng cho anh ta tạm thời làm việc ở đội rau xanh. Chừng một tháng khi bình phục hẳn thì sẽ trở lại đội của đồng chí”.

Quản giáo hằn học nói: ”Thôi thế cũng được!”.

Thế là sau đó tôi được gia nhập đội rau xanh. Đội này gồm có 15 người gồm 9 ông đại tá già và 6 người còn lại cũng đều ốm yếu cả. Nhiệm vụ của đội này là chăm sóc vườn rau xanh của trại. Trông coi đội này là một quản giáo “non choẹt”, khoảng chừng 20 tuổi, nhưng rất lắm điều!

Mỗi buổi sáng, chúng tôi phải gánh phân và nước tiểu từ 10 lán cải tạo viên và 2 lán cán bộ đem ra suối để pha chế. Phân này được chú quản giáo gọi là “phân bắc”, phải được pha chế đều với nước suối để đem đi tưới rau. Tôi gánh hai thùng phân ra tới suối, múc nước đổ vào rồi dùng chiếc gáo dừa để khuấy cho đều. Sau đó gánh phân đến vườn rau trong trại để tưới. Tưới rau xong thì phải xới đất và nhổ cỏ cho đến trưa. “Phân bắc” rất tốt cho rau xanh. Nhìn những luống rau muống xanh biếc, những luống rau dền đỏ tía, những giàn mồng tơi xanh rờn, những giàn mướp nặng chĩu quả, chúng tôi thèm lắm, nhưng đâu có được ăn vì tất cả phải dành cho cán bộ. Tôi còn nhớ một hôm giàn mồng tơi bị hái đi vài đọt do ai đó “cải thiện”, quản giáo giận lắm, họp cả đội rau xanh lại để tìm thủ phạm. Sau cả tiếng đồng hồ kiểm thảo mà không kiếm ra thủ phạm, quản giáo đi đến kết luận: ”Một con sâu làm rầu nồi canh” và chú dùng biện pháp trừng phạt cả đội bằng cách bắt chúng tôi nhịn ăn bữa sắn buổi chiều. Đêm đó cả đội đói meo, chúng tôi cằn nhằn lẫn nhau và quyết định từ đây về sau tất cả phải khắc phục sự thèm muốn để tránh tai hoạ cho cả đội.

Mỗi buổi trưa, cả đội được dừng tay nghỉ chừng nửa giờ để ăn sắn. Tôi xin phép quản giáo cho ra suối rửa tay. Chú từ chối ngay: ”Không được! Phải tranh thủ thời gian!”. Tôi thấy một bác đại tá già ra hiệu cho tôi, bác lấy tay chùi vào đám cỏ để chỉ cho tôi đó là cách làm vệ sinh trước khi ăn trưa. Tôi làm theo, đúng là “nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”. Khác với đội chặt Giang của tôi, tuy có nặng nhọc thật, làm việc “chảy mồ hôi, sôi nước mắt”, nhưng được cái tự do. Chỉ khi nào chặt đủ chỉ tiêu 40 cây giang một ngày mới phải về trình quản giáo để được “nhiệm thu”. Đằng này ở đội rau xanh, chú quản giáo “non choẹt” này luôn luôn ở kè kè bên cạnh, chửi mắng hạch sách đủ điều. Tôi thấy các bác đại tá đều giữ thái độ im lặng và đôi khi thở dài về hành động của chú quản giáo quái ác này! Tôi biết các bác đại tá này, bác thì từng làm trung đoàn trưởng, điều hành cả ngàn binh sĩ trong tay, “ hét ra lửa, mửa ra khói” một thời; bác thì làm đại tá tỉnh trưởng, trông coi cả trăm ngàn dân chúng, “tiền hô, hậu ủng”. Thế mà nay lại bị một anh chàng “non choẹt”, chỉ đáng anh binh nhì làm “tà lọt” cho mình, mà lại la mắng, hành hạ đủ điều! Đúng là các bác đã lâm vào hoàn cảnh “lên voi xuống chó”! Tại sao lại có tình trạng như vậy? Chú Quản giáo trẻ này không phải thuộc thế hệ cha anh đã phải vượt Trường-sơn vào Nam chiến đấu, tức là không phải chịu gian khổ trong việc “ giải phóng miền Nam” mà tại sao chú lại đối xử với những tù binh cải tạo như có một “mối thù truyền kiếp” như vậy? Tôi chợt nhớ đến lời cô y tá Nữ cho biết là cô phải học tập chính trị hàng tuần. Thì ra đây là một chính sách của các lãnh tụ Đảng và Nhà Nước Cách Mạng bắt các bộ đội chiến đấu, cán bộ hành chánh, cán bộ chuyên môn và cả người dân tại những thôn xóm ở thôn quê cũng như các tổ khu phố ở thành thị, đều phải học tập để quán triệt chính sách của Đảng và Nhà Nước Cách Mạng. Chính sách này cốt yếu tạo ra lòng căm thù của đồng bào miền Bắc đối với cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền” ở miền Nam. Hơn thế nữa, Đảng còn khơi dậy lòng căm thù giữa những nông dân miền Bắc với nhau qua phong trào “Cải Cách Ruộng Đất”. Phong trào này đã biến những nông dân vốn dĩ hiền lành chất phác, trở nên hung hãn trong những cuộc “đấu tố” ở miền quê, đầy máu và nước mắt.

Những chính sách sắt máu này đã được Đảng đưa vào sách giáo khoa để đầu độc cả những tâm hồn ngây thơ trong trắng của học sinh. Như thi sĩ Tố Hữu đã cổ động phong trào Cải Cách Ruộng Đất, làm dấy lên lòng căm thù giữa các nông dân trong “Bài ca tháng Mười”:

Giết! Giết! Giết! Bàn tay không ngừng nghỉ,
Để ruộng đồng thêm tốt, lúa thêm xanh,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch,thờ Xít-ta-lin bất diệt!

Chính sách căm thù này có đặc điểm là dân tộc Việt được học tập để căm thù chính dân tộc mình! Chính sách căm thù này đã được, trong một thời gian, đưa vào sách giáo khoa, vào trường học, vào nền giáo dục ở miền Bắc, để thay đổi cả một nền Văn hoá, biến một số đồng bào miền Bắc, đang từ một dân tộc hiếu hòa, trọng đạo đức, trở thành một dân tộc hiếu chiến, giả dối và coi bất cứ phương tiện nào đưa đến thành công, đều là phương tiện tốt cả! Mẹ Âu-Cơ luôn luôn dạy dỗ đàn con Lạc Hồng là phải yêu thương lẫn nhau:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Nếu có hiềm khích lẫn nhau, thì tìm cách hóa giải mối bất hòa và dành tài sức để đoàn kết mà chống giặc ngoại xâm:
Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!

Cũng với nhà thơ Tố-Hữu, người đã làm tới phó thủ tướng trong chính quyền cách mạng và ủy viên Bộ Chính tTrị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, còn khơi động phong trào tôn thờ lãnh tụ ngoại bang, mà quên đi cội nguồn dân tộc. Nhà thơ đã khóc trước cái chết của Stalin, lãnh tụ Cộng sản Liên-xô, trong bài thơ “Đời đời nhớ Ông” :

“Ới Ông Xít-ta-lin ơi!
Nghe tin Ông mất, Đất Trời còn không?
Thương Cha, thương Mẹ, thương Chồng,
Thương Mình thương một, thương Ông thương mười!”

Nhà thơ còn đưa Stalin lên hàng thần tượng để tôn thờ:

“Yêu biết mấy, nghe con tập nói,
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin!”

Và thật sự ra Stalin là ai? Đó là một tên đồ tể của Liên Sô, người đã ra lệnh giết cả triệu người trên toàn thế gìới, cũng như đã ra lệnh tập trung cả triệu người trong các “Gulag”, một loại trại lao động khổ sai, ở vùng Tây Bá Lợi Á (Siberia), một vùng hoang vu lạnh lẽo ở nước Nga. Chính Đảng và Nhà Nước Cách Mạng đã sao chép lại cái gọi là Gulag này và đặt cho một cái tên văn hoa là trại Học Tập Cải Tạo ở Việt Nam.

Trong khi các vị Anh Hùng Liệt Nữ giống nòi Việt như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê- ợi, Nguyễn Huệ…sao không tôn thờ, mà lại chọn những người ngoại bang sắt máu như Stalin, Mao Trạch Đông, những người mà cả thế giới đều lên án, thì ở Việt Nam, trong hai thập niên 1960 và 1970 lại có đất dung thân, được tôn thờ và hình ảnh được treo khắp nơi trên đất nước Việt!

Khi Đảng và Nhà Nước Cách Mạng tạo ra những chính sách hận thù dân tộc đối với đồng bào cùng trong một nước, họ có biết đâu rằng hận thù sẽ chồng chất, sau này khó giải quyết được. Họ tưởng rằng họ đặt ra vài trại tù binh kiểu mẫu như trại Phú Sơn, rồi mời các phóng viên ngoại quốc đến chứng kiến cảnh chính quyền cách mạng đối xử nhân đạo với tù binh đúng theo quy ước quốc tế Genève về tù binh thì mọi việc đều ổn thỏa cả. Còn những trại ở trong rừng sâu núi thẳm như những trại ở tỉnh Hoàng Liên Sơn, vắt sức lao động của tù binh để làm nên của cải vật chất cho cách mạng, coi mỗi trại tù binh cải tạo như một đơn vị phát triển kinh tế, bắt tù binh làm việc chặt giang 7 ngày một tuần, mỗi ngày từ 6 giờ sáng tới 5 giờ chiều, với chỉ tiêu là 40 cây Giang một ngày, mỗi cây Giang trị giá 4 hào, tổng cộng là 16 đồng, mà khẩu phần sắn của mỗi cải tạo viên chỉ đáng 2 hào một ngày, lại còn đối xử tồi tệ với tù binh để trả thù, thì nào ai biết được! Nhưng ở đời chẳng có gì có thể dấu được vĩnh viễn. Rồi ra con cháu và hậu duệ của những người tù binh cải tạo biết được, thì tự động lại dấy lên một mối hận thù chống lại Đảng và Nhà Nước Cách Mạng.

Mới ở đội rau xanh được chừng ba tuần, tôi đã xin với cô Nữ cho tôi được trở lại đội cũ chặt Giang. Cô ngạc nhiên hỏi :” Sao anh không ở đội rau xanh đủ một tháng để hồi phục sức khỏe”. Tôi nói dối rằng:” Tôi nhớ các bạn cũ nên muốn trở về”.

Nghe tin tôi trở về đội chặt giang, các bác đại tá buồn lắm. Lý do là vì trong ba tuần lễ ở đội rau xanh, cứ mỗi buổi tối nghỉ ngơi ở trong lán, tôi lại kể chuyện mua vui cho các bác nghe. Chuyện tôi kể là truyện “Tam Quốc Chí” rất hợp với sở thích của các bác. Nay đang đến hồi gây cấn mà tôi lại bỏ đi! Một bác đề nghị: “Thỉnh thoảng cậu nhớ trở lại đây thăm chúng tôi và kể tiếp tục nhé!”. Một bác khác tiếp lời: “Truyện đang kể đến hồi:

‘Khổng Minh cao đoán đường Hoa Dung,
Vân Trường vì nghĩa, tha Tào Tháo.’

Cậu nhớ lấy để mà kể tiếp tục”.

Tôi nói cho các bác an tâm: “Thế nào có dịp, tôi cũng trở lại thăm và hầu chuyện các bác”. Nhưng tôi biết điều đó không thể thực hiện được, vì nội quy của Trại cấm các cải tạo viên không được liên hệ với đội khác, nếu vi phạm sẽ bị “tù kỷ luật”.

Về Đội cũ, các anh em đều vui mừng chào đón tôi. Các anh đều nói tôi là người “trở về từ địa ngục” vì bị bệnh sốt rét rừng, không có thuốc ký ninh mà vẫn sống sót! Anh Đại Úy Thạch Sơn nói: ”Hàng đêm nhớ anh quá! Anh đang kể truyện “Đông Châu Liệt Quốc” rồi mắc bệnh, làm gián đoạn đã gần hai tháng nay rồi, mời anh tiếp tục kể mua vui cho chúng tôi đi!”. Anh bạn tôi, Đại Úy Khương phản đối: ”Anh ấy bị bệnh nan y, mới bình phục trở về, chưa giúp đỡ được gì, đã bắt phải hầu chuyện rồi!”. Anh Sơn hăng hái đáp: ”Tôi sẽ chặt ủng hộ anh hai cây Giang!”. Một số anh khác cũng hứa chặt giúp tôi một cây Giang. Thế là không thể đừng được, tôi lại tiếp tục kể chuyện hàng đêm. Đúng là “mồm miệng đỡ chân tay”.

Thời gian lại lặng lẽ trôi qua, nhưng cái hạn của tôi chưa hết, đúng là “họa vô đơn chí”. Mới chừng chưa đầy một tháng sau, một buổi đi chặt Giang, tôi bị con gì chích ở mắt cá chân phải. Mới đầu chỉ thấy ngứa, nhưng qua hai ngày sau, chân tôi sưng phù lên như chân voi, phải chống gậy mới lết đi được! Quản giáo tôi giận lắm, chú nói: ”Tên này đúng là ‘phường ăn hại đái nát’, mới lao động trở lại chưa đầy một tháng lại giở chứng rồi!”.

Các bạn tôi lại dìu tôi lên phòng khám bệnh để làm phiền cô y tá. Sau khi khám sơ qua, cô Nữ kêu lên: “Con vật cắn anh thuộc loài ‘nhện kịch độc’. Nó làm chân anh không những sưng, mất cảm giác, mà còn trở nên bầm tím từ mắt cá chân lên đến quá đầu gối rồi. Nếu vết bầm tím lên đến bụng thì hết thuốc chữa. Phải chở đi bệnh viện để cắt ngay chân phải đi, thì mới có thể cứu sống được!”. Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì cô đã vội vàng đi trình thủ trưởng.

Một lát sau cô trở về, mặt có vẻ buồn. Cô nói: ””gày mai tôi sẽ nhờ xe trâu chở anh ra quốc lộ rồi anh và tôi sẽ quá giang xe nhà binh đến bệnh viện Việt Trì, ở đó bác sĩ sẽ cắt phần chân làm độc của anh. Phải làm gấp, không chất độc sẽ lan lên đùi. Tôi trả lời làm cô vô cùng sửng sốt: ”Cám ơn cô, nhưng tôi sẽ không đi đâu hết. Đây là một dịp để giải thoát thân tù tội của tôi!”. Cô giận dữ nói: ”Anh có biết xin được cho anh đi bệnh viện cắt chân, tôi phải chịu những thiệt thòi nào không? Thủ trưởng cho rằng tôi đã phạm một lỗi quá lớn lao là “không ý thức được tinh thần cách mạng, không phân biệt đâu là bạn đâu là thù, nên tinh thần phục vụ tuy có, nhưng đặt không đúng chỗ”. Tôi cố gắng xin ông cho tôi được chở anh đi bệnh viện. Ông cho biết ông sẽ đồng ý, nhưng đổi lại, tôi sẽ bị phạt kỷ luật là biết sai phạm mà cứ tiến hành, do đó sẽ bị ghi vào hồ sơ là suốt đời không thể trở thành Đảng viên được và cũng không được đề nghị lên cấp trong vòng 10 năm. Tôi đã chấp thuận ngay hình phạt kỷ luật này để cứu anh. Nay anh trả lời như thế, làm tôi cảm thấy thua thiệt cả đôi đàng. Một đàng bị kỷ luật nơi thủ trưởng của tôi; một đàng bị chính anh từ chối nên không thể cứu anh được!”.

Tôi kêu lên: ”Tôi có nhờ cô đâu mà sao cô lại hy sinh lớn lao như vậy? Thân tù tội đã không có ngày về, lại thêm cưa chân nữa thì sống để làm gì? Lại mang tiếng là “phường ăn hại đái nát”, thêm gánh nặng cho người khác!”. Tôi biết đối với các cán bộ miền Bắc, việc trở thành Đảng viên Đảng Cộng Sản là một mơ ước, vì đó là một thứ “siêu công dân”, được đi trên “chính lộ” để dẫn đến quyền cao chức trọng, còn các công dân khác chỉ là loại “phó thường dân”, đi bên lề đường, suốt đời chỉ là người thừa hành, sai phái của các Đảng viên. Do đó, tôi ngạc nhiên khi thấy cô hy sinh cả mơ ước này vì mạng sống của tôi.

Cô nói gằn từng tiếng: ”Nhưng tôi không muốn anh chết!”. Giọng cô đượm đầy nước mắt, và cô không muốn tôi thấy cô khóc trước mặt tôi, nên cô bỏ đi.

Còn lại một mình, tôi ân hận vì đã to tiếng với một người tốt như cô, lại vừa ngậm ngùi cho số kiếp không may của mình!

Buổi chiều cô trở lại và nói: ”Anh nhất quyết không đi cắt chân cũng được, nhưng còn nước còn tát. Tôi có một cô bạn y tá làm việc ở đồn biên giới Lạng Sơn cách đây chừng hơn 30 cây số. Tôi định ngày mai lên đó để xin thuốc bê-ni (penicillin) để tiêm cho anh đây. Thuốc này rất hiếm, nhưng nếu anh chưa đến ngày tận số thì may ra họ có, và tôi có thể xin được!”

Ngày mai cô xin phép thủ trưởng cho nghỉ hai ngày. Cô không đi ra quốc lộ để xin quá giang xe, vì xe chỉ đi về miền xuôi, chứ không đi ngược lên biên giới. Cô đã mạo hiểm, chỉ với một gói lương khô, một chai nước mưa và một con dao quắm để hộ thân, mà cô dám len lỏi đi tắt đường rừng một mình để tới đồn biên giới Lạng Sơn.

Vào buổi tối ngày thứ hai, tôi đang nằm thiếp đi trên chiếc chõng tre, thì cô trở về. Cô đánh thức tôi dậy và hân hoan nói: ”Trời đã không phụ tôi nên cô bạn tôi đã có thuốc bê-ni, tôi đã hối lộ chút tiền nên đã xin được 8 hũ thuốc”. Nói xong cô đưa gói giấy đựng thuốc cho tôi xem. Tôi nhìn kỹ thì thấy đó là loại penicillin của Liên Sô, nhưng đã hết hạn (expired) từ tháng 6 năm 1975, mà nay đã là tháng 9 năm 1978, nghĩa là đã quá hạn hơn 3 năm rồi! Tôi không cho cô biết điều này và tôi cảm thấy mừng là nếu bị phản ứng vì thuốc quá hạn thì đó là điều mong ước được giải thoát thân kiếp đọa đầy của tôi!

Cô đi lấy ống chích và ra chum nước mưa để rửa vì có lẽ cả năm nay chưa dùng tới. Sau đó, cô dùng ống chích hút lấy chút nước mưa trong chum, rồi bơm vào một hũ penicillin, tiếp theo cô lắc mạnh cho tan hết bột penicillin. Cô nói: ”Tôi tiêm cho anh đây, chịu khó đau một chút nhé!”. Tôi thản nhiên vén tay áo cho cô chích. Khi chích, tôi thấy mặt cô hơi tái, vì có lẽ hai ngày nay cô đi đường tắt len lỏi trong rừng già để đến đồn biên giới Lạn Sơn, chắc cực khổ lắm!

Tôi nói: ”Cám ơn cô nhiều, giờ đây cô cần nghỉ ngơi, ăn uống cho lại sức để mai còn làm việc”. Cô nghe lời tôi và rời khỏi phòng khám bệnh.

Cô đi rồi, tôi nằm xuống chõng nghỉ ngơi. Chừng 10 phút sau thì thuốc ngấm, tôi cảm thấy sốt nóng dữ dội. Tôi biết bị phản ứng vì thuốc quá hạn, nhưng không thông báo cho ai biết, vì tôi coi đây là dịp cho tôi được giải thoát! Nhưng kỳ lạ thay, chừng một giờ sau cơn sốt lui dần và tôi ngủ thiếp đi. Đúng là số Trời chưa cho tôi chết!

Sáng sớm ngày mai, cô Nữ lại thăm tôi và hỏi về công hiệu của thuốc bê-ni. Tôi nói thuốc rất tốt. Thế là cứ mỗi ngày sau đó cô chích cho tôi một hũ penicillin . Thật là thần diệu, vết sưng biến chân phải của tôi thành chân voi, nay dần dần xẹp xuống, và đồng thời mầu tím bầm của chân đã chuyển sang mầu nâu. Bấm vào chân, tôi đã có cảm giác thấy đau. Hai tuần sau, tôi đã có thể đi lại được, không phải chống gậy nữa!

Cô Nữ lại định gửi tôi cho đội rau xanh một tháng để hồi sức, nhưng tôi xin trở lại đội chặt iang. Cô sợ tôi không đủ sức lao động nặng, nhưng tôi nói các bạn trong đội sẽ chặt giùm một phần lớn cho tôi trong thời gian tôi đau yếu.

Thế là tôi lại trở về đội cũ. Các bạn tôi đều nói tôi là người trở về từ địa ngục lần thứ hai.

Thời gian lại trôi qua, và chừng một tháng sau, đang nửa đêm, bỗng có tiếng còi thổi ré lên đánh thức các trại viên dậy và có lệnh ra sân tập họp để chuyển trại. Những trại cải tạo chặt Giang như trại tôi thì thường chỉ 10 tháng hay tối đa là 1 năm, khi nguồn cung cấp giang đã cạn, đều phải chuyển sang một khu rừng khác, cách xa chừng 40 hay 50 cây số, để lập trại khác, ngõ hầu để có nguồn cung cấp giang mới. Mỗi lần chuyển trại như vậy thì thay đổi tất cả nhân sự, từ Trưởng trại, cán bộ quản giáo, bộ đội bảo vệ và dĩ nhiên cả y tá. Mọi lần chuyển trại trước, tôi đều coi bình thường, vì thân tù tội đi đâu cũng được! Nhưng lần này tôi cảm thấy lo buồn quá đỗi, vì tôi phải xa ân nhân của tôi rồi! Vì đi đột ngột vào lúc nửa đêm như thế này thì làm sao tôi có thể chào từ biệt cũng như ngỏ lời cảm ơn cô Nữ!

Trong ánh sáng lờ mờ của bó đuốc cắm giữa sân, tôi thấy các bạn tôi đều vội vàng gói ghém quần áo và dụng cụ để sửa soạn lên đường. Tôi lại thấy quản giáo cũ bàn giao đội tôi cho quản giáo mới. Riêng tôi thì tôi cứ đứng thẫn thờ một mình, mặc cho các bạn tôi gói ghém giùm quần áo cho tôi. Bỗng nhiên tôi thấy một bóng người tiến nhanh lại phía tôi và khi tới xát gần thì một giọng nói quen thuộc: ”Chúc anh đi được mạnh khỏe và bình an nhé!”. Thì ra là cô Nữ! Cô đặt vào tay tôi một cái gói, tôi sững sờ chưa kịp trả lời thì cô đã vội vã đi mất hút vào bóng đêm, vì sợ có người trông thấy! Tôi mở cái gói ra thì thấy đó là một nắm cơm được gói với cái khăn tay còn in vết máu mà cô đã nhổ răng cho tôi khi xưa! Như vậy là cô đã biết việc chuyển trại này vào chiều hôm trước, nên đã nhịn phần cơm của cô mà gói cho tôi đây! Tôi cảm động và ân hận quá vì đã không nói được một lời cám ơn đối với cô. Đúng lúc đó thì quản giáo mới ra lệnh cho chúng tôi lên đường. Tôi loạng choạng bước theo các bạn cải tạo của tôi, cứ theo ánh đuốc mà đi vào rừng sâu.

Cuộc chuyển trại từ nửa đêm hôm trước, cho tới 2 giờ chiều hôm sau, khi tới một khu rừng mới, cũng bên bờ suối nước, thì được lệnh dừng lại. Trưởng trại mới xuất hiện, ông ra lệnh cho 10 đội gồm chừng 600 cải tạo viên: ”Cho các anh nghỉ 2 tiếng đồng hồ rồi sửa soạn lập trại mới!”

Đây là một khu rừng già dường như chưa có chân người đặt tới, mà dụng cụ chỉ có dao quắm và mấy cái cưa, không có đến một cây đinh, mà phải xây dựng 12 lán, gồm 10 lán cho cải tạo viên và 2 lán cho cán bộ. Nhưng nhớ tới việc lập trại trước, nhờ có 6 anh cải tạo, nguyên là sĩ quan công binh, tốt nghiệp kỹ sư xây dựng ở Hoa Kỳ, các anh dùng cưa để làm mộng, ghép những cây rừng làm sườn nhà, không cần đến một cây đinh, mà đã tạo được những căn nhà tranh khá vững chắc, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng!

Khi được lệnh ngừng chân và cho nghỉ 2 tiếng, các bạn tôi đều nằm lăn ra dưới gốc cây mà ngủ, vì đêm trước ra đi lúc nửa đêm nên có ngủ được đâu! Riêng tôi thì đầu óc suy nghĩ miên man nên không sao chợp mắt được! Tôi nghĩ đến mẹ tôi là người đã nuôi nấng, săn sóc tôi từng li từng tí, mà đến lúc tôi trưởng thành, có điều kiện để báo hiếu, thì người lại ra đi vĩnh viễn. Tôi nghĩ đến cô Y Tá Nữ là người đã cứu tử tôi, đã săn sóc tôi hết lòng, mà nay lâm vào cảnh cách biệt như thế này, thì làm sao tôi có thể trả ơn trời biển cho cô được! Tôi lại nghĩ đến hoàn cảnh của đất nước tôi, một đất nước đã bị tàn phá bởi chiến tranh cả mấy chục năm trường! Nay hòa bình vừa trở lại, nhưng những người lãnh đạo Đảng và nhà nước cách mạng lại thi hành một chính sách gây hận thù với cái mà họ gọi là ngụy quân và ngụy quyền ở miền Nam. Tôi nghĩ rằng sự căm thù chồng chất giữa những đồng bào cùng trong một nước như thế này thì bao giờ mới hóa giải được! Mấy người đã hành xử được như cô Y Tá Nữ “lấy Tình Thương xóa bỏ Hận Thù”. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy đau lòng quá và tự nhủ một mình qua làn nước mắt: ”Cám ơn cô Nữ đã dạy cho tôi một bài học, thế nào là lòng Thương Yêu của con người đối với con người, nhất là đối với đồng bào cùng trong một nước!!!”.

TT Đại


Nguồn TVTC

Trời mưa không lớn lắm
Nhưng đủ ướt đôi đầu
Cuộc tình không lớn lắm
Nhưng chiếm hết đời nhau.

Hoa Hạ

IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 8
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.156 seconds.