Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Thơ Văn
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Văn Học - Nghệ thuật :Thơ Văn  
Message Icon Chủ đề: TRUYỆN HAY CHỌN LỌC Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 190 phần sau >>
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 07/Feb/2024 lúc 1:10pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 09/Feb/2024 lúc 10:02am

Đêm Giao Thừa 


Trường chúng tôi dạy học là một ngôi trường tiểu học không lớn, có tất cả 10 lớp buổi sáng và 10 lớp buổi chiều. Sau tháng Tư năm 1975 trường được điều hành bởi một chị Hiệu trưởng còn trẻ cỡ tuổi chúng tôi và một chị Hiệu phó lớn hơn chúng tôi chừng mươi tuổi. Chị hiệu phó này rất độc ác và là hung thần của chúng tôi nên chúng tôi thường nói riêng với nhau, gọi lén chị ta là "bà phù thủy."


Ngay từ tuần lễ đầu chị về trường, chúng tôi nhiều người đã không thích chị. Chị là người miền Nam. Tôi có nghe người ta nói rằng người miền Nam hiền lành, thật thà và nhân hậu và tôi cũng đã gặp những người như thế.  Nhưng chị hiệu phó này thì ngược lại.  Chị cao, thân hình lép và lỏng chỏng. Chị có gương mặt dài, hơi gẫy, xương xẩu và một màu da thâm xám. Mắt chị sâu hoắm và nhanh như mắt diều hâu. Chị ghê gớm, hiểm ác như con sói. Chị theo dõi chúng tôi từng giờ, từng phút.  

Những lúc học trò ra chơi, chị luôn luôn đi dạo ở hành lang, dòm vào từng lớp xem cô nào đến lớp nào và ai hay nói chuyện với ai. Nhứt là những cô giáo có chồng tù cải tạo thì chị ghét ngay ra mặt và luôn tìm lúc bất ngờ, làm cho luống cuống, khó xử trước mặt mọi người. Chị kiểm soát giáo án gắt gao, thấy chữ nào bẻ được là chị bẻ ra làm nhiều mảnh vụn theo sự suy diễn một chiều của chị để làm chúng tôi lo sợ. Chị dự giờ liên tục và hay bới móc để hỏi những câu hóc búa về tư tưởng chính trị thật bất ngờ.  

Chúng tôi, phần lớn là giáo viên lưu dụng từ chế độ cũ nên ai cũng ngán và sợ chị bởi chị rất có uy quyền. Đôi khi chúng tôi có cảm tưởng uy quyền của chị đã lấn át cả chị Hiệu trưởng từ ngoài Bắc được bổ nhiệm vào. Chị có chồng chức vụ huyện ủy. Mười mấy năm trong nghề giáo, chị đã cùng chồng nằm vùng. Chữ "Nằm Vùng" được chúng tôi hiểu theo nhiều kiểu. Theo kiểu xã hội chủ nghĩa mà chúng tôi được cán bộ vừa tốt nghiệp bình dân học vụ giảng giải trong những buổi học tập chính trị thì những gia đình như gia đình chị là một mẫu gia đình có công lớn với cách mạng vì chị đã hy sinh nhiều công sức và tiền của trong thời gian "đánh Mỹ cứu nước." Nhưng theo kiểu Ngụy của chúng tôi thì chị là người phản bội lại cái chế độ đã cho chị no cơm, ấm áo, cái chế độ đã cho chị được sống bình yên, có cơ hội ăn học để chị thành hiệu phó của cái xã hội chủ nghĩa hôm nay. 


Để có được cho chị và chồng chị những ngày yên lành vui sống đó, tài sản của chị được nguyên vẹn và giàu có hơn lên đó thì ở những phần đất nào trên quê hương máu những người chiến sĩ đã đổ, những mảnh đời còn xanh đã bị bom đạn cướp đi mà chị không hề biết ơn và đau xót. Nghĩa là, chị đã ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản. Chị đã phản bội lại nguồn ơn đó bằng việc nuôi dưỡng, giấu giếm, cung cấp tin tức của miền Nam và tiếp tế tiền bạc, thuốc men cho những người theo Việt Cộng ở bưng.

Chị giàu. Rất giàu nên chị không bao giờ biết được những khó khăn về vật chất mà người dân của chế độ cũ như chúng tôi đang nhận chịu sau khi miền Nam được chị và các đồng chí của chị giúp công "giải phóng". 

Chị là giai cấp thống trị nên chị không hiểu được những nỗi đau tinh thần của người bị trị. Chị đứng vào hàng ngũ của kẻ "chiến thắng" nên chị không biết thế nào là nỗi đau khổ của người bị bức bách đầu hàng. Chị vui mừng trước tai họa của đất nước nên chị không có tâm trạng đau thương của hận quốc vong. Chị không biết thế nào là giọt nước mắt tủi nhục xót xa của người vợ đi thăm chồng tù cải tạo.

Chị lại không có con, vì thế, chị không bao giờ biết thông cảm và tội nghiệp cho chúng tôi, những người mẹ trẻ có con nhỏ, nuôi con một mình và còn nuôi chồng tù cải tạo trong một tình huống rất cô đơn và muôn vàn khó khăn của cả hai mặt tinh thần và vật chất. Bởi vậy, cô nào có con đau, xin nghỉ để săn sóc con là khốn khổ với chị. Chị bảo là tắc trách, không làm tròn và không coi trọng chức năng của người "kỹ sư tâm hồn". Chị tìm mọi cách từ chối và ngầm hăm dọa để chúng tôi hiểu là sự việc có thể sẽ được báo cáo lên Phòng Giáo Dục và như vậy có nghĩa là chúng tôi sẽ có thể không được vào biên chế. Lúc đó, hai chữ "BIÊN CHẾ " như liều thần dược, như lá bùa hộ mạng mà những người vợ Ngụy như chúng tôi cần hai chữ đó như cái phao của kẻ bị đắm tàu. 

Không được vào biên chế đồng nghĩa với có thể bị cho nghỉ việc và tương lai là đi kinh tế mới. Bọn giáo viên chúng tôi, phần lớn có con nhỏ và không biết làm ruộng nên ai nấy nghe thấy ba chữ Kinh Tế Mới đều kinh hoàng sợ hãi. Vì thế, ngoài việc phải gặp chị có chuyện cần, các giáo viên đều tránh chị. Tôi cũng ở trong trường hợp đó. Có lần giáo viên đi học tập chính trị, con tôi đau, không có ai coi sóc, tôi phải ẵm thằng con đang sốt nóng đi theo. Chị nhìn tôi cười cười đắc ý khi thấy gương mặt thiểu não, hốc hác của tôi bồng đứa con đang đau, đặt nằm trên một bàn học trống trong phòng rồi vội vã ngồi vào bàn hội thảo. Cuối cùng, chị và chúng tôi tuy cùng giới phụ nữ nhưng ở hai thế giới mà không bao giờ có thể gần gũi và thông cảm được nhau.

Chung đụng và gặp gỡ nhau dưới một mái trường hằng ngày, chúng tôi vẫn phải gượng gạo chào hỏi chị nhưng nếu vô tình phải gặp chị trong những buổi sinh hoạt khác như đám cưới đám hỏi của đồng nghiệp hay tất niên chẳng hạn, chúng tôi thường ngồi túm lại với nhau và chị ngồi trơ trọi một mình. Thấy thế, chị càng căm chúng tôi.

   

Một lần tất niên, nếu tôi nhớ không lầm thì vào năm 1978, ban giám hiệu bảo chúng tôi góp tiền chung nấu một nồi bún măng giò heo để làm tiệc. Nhà trường dưới chế độ XHCN thật là ưu việt và sáng tạo, vì thế, khi có tiệc, giáo viên chúng tôi mỗi người phải tự đem một cái tô, một đôi đũa, một cái muỗng theo mà...ăn tiệc! Mai, một cô giáo mới về trường, chiều hôm ấy cô đến nhà tôi chơi để sau đó cùng đi dự "tiệc" cho vui. Cô còn trẻ lắm, cha chết, mẹ bị tê liệt, nhà đông em nên cuộc sống lại càng thêm eo hẹp. Sau khi tôi khóa cửa lại, dặn dò bày con và rời nhà, cô vừa đi bên cạnh tôi vừa giơ cái túi vải trong tầm mắt, nhìn tôi cười như mếu:

    - Chị ạ, em phải đem theo cái tô lớn để ăn được nhiều!

Tôi nghe, cảm thấy buồn tê tái. Thương cô và cũng thương chính tôi ghê lắm nhưng tôi không hỏi cái tô lớn cỡ nào. Đến khi nhập tiệc, mỗi người cầm tô của mình ra chỗ nồi bún, múc một tô, bỏ thêm chút ớt, chút tiêu, chút hành ngò rồi tìm chỗ ngồi vừa ăn vừa trò chuyện cho đúng nghĩa một buổi tiệc của XHCN. Cô bưng tô bún đến ngồi bên tôi, mới cho vào miệng được gắp bún thứ hai thì giọng nói của chị hiệu phó reo lên như bắt được vàng phía sau lưng:

    - Ô, Coi kìa, cái tô của cô Mai gì mà bự dữ thần không. Ăn gì mà khoẻ quá trời quá đất.    

Chúng tôi không ai bảo ai, như một phản xạ, đều nhìn về phía Mai . Mai ngưng ăn, đôi đũa trên tay bất động. Mặt mai đỏ gay rồi chuyển sang màu tái. Mai nhìn xuống tô bún, ánh mắt lóe lên một nỗi đau thương. Tôi quay nghiêng người lại, ngước nhìn vào gương mặt người vừa thốt ra lời đó. Nhìn cặp môi mỏng của chị cười cười và nét mặt hân hoan tự mãn tôi có cảm nghĩ rằng chị phải vui lắm, "hồ hởi" lắm, vì vừa nói được một câu mà chị cho là đầy tính "đạo đức cách mạng". Bỗng nhiên, tôi thấy thật là tội nghiệp cho bề ngoài sang trọng của chị: mái tóc vừa được cắt uốn gọn ghẽ, bộ quần áo may bằng vải đắt tiền và đôi bông hột xoàn to như hai hạt bắp lấp lánh trên tai. Tôi vốn chậm chạp ứng phó, không biết phải nói gì cho Mai bớt ngượng thì may quá, thày Tài lên tiếng:

    - Đáng lẽ tất cả mọi người phải đem theo một cái tô to như thế để ăn mới đúng. Tôi sẽ ăn hai tô. Bún nấu ngon quá các cô các thày ơi ...

Tuy có câu nói đỡ đòn của thày Tài nhưng không khí buổi tiệc tất niên của nhà trường XHCN hôm ấy vẫn không thể "siêu việt " được thêm. Chúng tôi yên lặng ăn cho xong và cùng đi về sớm hơn dự định.

Qua tết, chúng tôi lại đến trường tiếp tục công việc "trồng người", cái việc trồng tỉa lạ lùng có những bài tập đọc không đúng sự thật. Nói trắng ra, chúng tôi phải làm bổn phận của "người giáo viên nhân dân trong nhà trường cách mạng", "người kỹ sư tâm hồn" là nhồi nhét vào đầu óc trong lành của những em bé Việt Nam những huyền thoại, những chuyện phong thần. Hay nói theo cách nói lén của một số nhỏ chúng tôi " những tư tưởng nhớn của bác Hồ dĩ đại ".

*

    Thế mà 17 năm sau tôi lại gặp chị hiệu phó của nhà trường XHCN tại Hoa Kỳ, xứ sở của đế quốc Mỹ, kẻ thù số một của bọn chị. Gặp tôi, chị còn ngờ ngợ nhưng tôi thì nhận ra ngay đôi môi mỏng, gương mặt xương, hơi gẫy và dài. Duy chỉ có cặp mắt hoắm sâu độc ác, thất thần là khác với khi xưa.

Cứ mỗi cuối năm, cộng đồng Việt Nam tị nạn CS ở tiểu bang chúng tôi lại tổ chức Tết để giữ tập tục cổ truyền là lì xì cho các em thiếu nhi đồng thời tạo cơ hội cho đồng hương họp mặt. Tôi đã gặp lại chị trong ngày đó. Chị đi với một gia đình tôi quen, anh chị Khang. Khi chị Khang và tôi chào nhau thì chị hiệu phó của XHCN giương đôi mắt đờ đẫn, thất thần nhìn tôi ngờ ngợ, e dè:

    - Có phải.... cô là...cô Phương không? ...  cô Phương xưa dạy ở trường Tân Bình phải không?

Tôi nhìn chị mỉm cười:

   - Thưa đúng. Chào chị hiệu phó. Không ngờ lại gặp chị ở đây. 

Chị Khang ngạc nhiên:

   - Ủa, thế ra hai bà quen nhau à? 

Tôi  lại cười:

     - Không dám. Nói quen thì phạm "đạo đức cách mạng" của nhà nước ta mất thôi . Khi xưa, tôi làm việc dưới quyền chị hiệu phó đấy. Ngày ấy, có nhiều kỷ niệm lắm. Kỷ niệm nào cũng rất khó quên. 

Hiểu ý, chị hiệu phó thở dài, nhìn xuống như lẩn tránh ánh mắt của tôi, giọng chị thật buồn:

      - Tất cả đã hết rồi . Tha lỗi cho tôi, cô Phương. 

Nghe chị nói, dù không hiểu rõ câu "tất cả đã hết rồi" ý nghĩa ra sao nhưng tôi cảm được sự ân hận trong giọng nói như nghẹn ngào của chị và tôi không hỏi gì thêm. 

Hôm sau chị Khang điện thoại cho tôi và hỏi:

   - Ngày xưa, bà làm việc với bà Thanh hả ?

    - Vâng.

   - Gia đình cách mạng đấy. Giàu và ghê gớm, bất nhân lắm. Nhưng nay thì sáng mắt ra rồị 

Rồi không đợi tôi hỏi, chị Khang nói luôn một mạch:

   - Tên Tư Công, chồng bà ấy, giàu có lắm nhưng lại rất bạc ác tham lam. Hắn ta được bọn đàn anh XHCN của hắn phong cho chức giám đốc một cơ sở tơ sợi gì đó nhưng mục đích là để cho hắn có điều kiện thụt két, tham nhũng, ăn cắp tài sản nhà nước chia nhau. Nhưng hắn xử không đẹp với đồng bọn sao đó nên bị bọn đàn em nó tố. Khi hắn ta bị tù và sắp đến ngày ra tòa lấy cung thì lại bị bọn đàn anh chơi đểu. Bọn này sợ hắn ta khai thật thì chết cả lũ nên vội đưa hắn ra tế thần bằng một phiên tòa đặc biệt, kết quả là hắn bị án tử hình. Bà thấy bọn Việt Cộng ghê không. Khi không còn dùng hắn được nữa, bọn nó giết hắn bịt miệng bà ạ.

   - Bởi vậy bọn mình mới phải rời bỏ quê hương mà đi chứ. Nhưng làm sao bà Thanh sang đây được, chị ?

   - Thì sau khi chồng bị tử hình, tài sản từ bao lâu bị bọn Cộng Sản tịch thu sạch hết, bà ta hết yêu XHCN nữa mà lại thù đến xương đến tủy. Bà ta làm đơn tính tố bọn đàn anh kia thì đơn viết vừa xong, chưa kịp gởi đi, không biết ai báo cáo lập công, bả bị bắt bỏ tù. Trong tù, uất ức quá, bà ta bị điên. Thấy bả điên, bọn nó thả ra. Gia đình bả lo thuốc men chạy chữa mãi mới tỉnh. Tỉnh xong, bả vượt biên. 

   - Vâng. Thế bà Thanh quen hay bà con với chị ?   

   - Bả là bạn học cũ của bà chị mình. Tết, thấy bả một mình tội nghiệp quá, bà chị mình đón về ăn tết.


    Tôi chúc gia đình chị Khang có một năm mới bình an và gác máy điện thoại. Lòng không vui không buồn, tôi nghĩ đến Mai và những tháng năm kinh hoàng khốn khổ mà chúng tôi đã trải qua trong ngôi trường XHCN của chị Thanh. Tôi nghĩ đến buổi tiệc tất niên và tô bún của Mai. Tôi thương Mai quá. Cũng như mẹ con tôi, Mai đi tìm tự do nhưng bến bờ lại xa tầm tay với. Mộng ước của Mai đã bị hải tặc Thái Lan vùi sâu trong lòng biển. 

Tết năm ấy cúng giao thừa, sau khi lễ tổ tiên, tôi đã thắp thêm một nén hương và thủ thỉ với Mai:

     - Mai ơi, em có linh thiêng thì chắc em đã biết chuyện bà Thanh phù thủy rồi chứ. Bà ấy đã và đang trả giá một cách đau đớn cho sự nghiệp cách mạng của bà ta. Mong em tha thứ cho bà. Cầu xin linh hồn em được bình an và siêu thoát.

 

Ngô Minh Hằng  
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 12/Feb/2024 lúc 1:20pm

Tụi Mình Còn Lại Gì 

Xóm Nhỏ Ven Sông tranh Thomas Luong


Xóm tôi ngày xưa là một xóm lao động nghèo, nhà cửa san sát nên tụi tui chơi thân với nhau nhiều lắm.

Khi đất nước đang gặp hồi cơn bình lửa, hàng ngày nghe tin radio trên báo chí tin tức từ chiến trường dội về, có những người ra đi không hẹn ngày trở lại thân xác họ nằm lại nơi chiến trường, kể cả phía bên kia cũng nhiều người đã nằm xuống thật là một cuộc chiến đau thương cho dân tộc mình.

Đến tuổi phải vào lính, đám xây lố cố tụi tui đứa thì vô binh chủng này đứa thì đăng vào binh chủng nọ, cái xóm có mấy chục nóc gia mà nhà nào cũng có người tham gia một sắc lính, phần đông mấy đứa bạn tôi nó đăng vào các binh chủng thứ dữ như Nhảy dù, Thủy quân lục chiến. Biệt động quân, có đứa thì ghi danh vào Nghĩa quân, Địa phương quân để được ở gần nhà, nhằm có điều kiện chăm sóc cho cha mẹ già yếu.


Hôm nay trong khi nằm nghỉ dưỡng bệnh, tui chợt nhớ lại từng khuôn mặt của những đứa bạn ngày xưa, tui sẽ kể lại cho các bạn nghe những hoàn cảnh nào để tụi nó đăng vào những loại binh chủng nêu trên.

Trước tiên là thằng Cu (Dĩ) con của ông Tư Long, Cũ Dĩ tánh tình hiền lành , chơi với chúng bạn trong xóm tui chưa bao giờ thấy Cu Dĩ lớn tiếng hơn thua, tánh tình lại cũng rất “Anh hùng mã thượng” , khi bạn bè gặp hoạn nạn Cũ Dĩ ra tay bênh vực liền một khi.

Lần nọ khi đám tụi tui lên chợ Gò vấp chơi, khi đi ngang cầu hàng xe lửa thì có đám (Du côn) đón đường kiếm chuyện, một thằng trong đám này tuyên bố:

  • Không cho mấy thằng bây đi ngang đây, muốn lên chợ tụi bây phải chui xuống cầu Hang rồi kiếm chỗ nào leo lên hẻm khác mà đi.

Thấy đám quỷ này làm trời làm đất, tui tức không chịu được, tui bèn cự lại:

  • Tụi bay ngang tàng quá, đường sá của công cộng lấy quyền gì không cho tụi tao đi, tụi tao có ghẹo chọc gì đâu mắc mớ gì tụi bây kiếm chuyện.

Tui chưa kịp nói tiếp, có thằng ốm nhách nhào vô thụi vô vai tui một cái, nó nói:

  • Tụi tao thích vậy đó, tụi bây làm gì được, ngon nhào vô kiếm ăn.

Nói xong nó đứng thủ võ như tài tử Lý tiểu Long trên màn bạc đại vĩ tuyến thời bấy giờ.

Cu Dĩ chứng kiến thái độ hống hách của thằng ba trợn nọ, ban đầu nó cố nhịn để dĩ hoà vi quý, thằng ba trợn này tưởng đám tụi tui ngán càng nên lấn tới, nó đâu ngờ Cu Dĩ nhà ta thủ thế và ra đòn nhanh như cắt, khiến thằng ba trợn té lăn cù mèo với gương mặt xanh như tàu lá chuối , hạ gục địch thủ bởi một thế võ do anh Tôn sư phụ trong xóm truyền cho, Cu Dĩ lớn tiếng:

  • Tụi bây còn thằng nào thiệt chì thì nhào vô, tao chấp hết ráo.

Tội nghiệp đám Cao Bồi làng này, thấy Cu Dĩ giỏi võ nghệ nên cả đâm ùa bỏ chạy rút vào con hẻm cạnh đường ray xe lửa, tuy nhiên có thằng ráng vớt vát nói:

-Tụi bay ngon lắm, chờ đó nha tụi tao sẽ trả thù cho coi.

Cu Dĩ nói vói theo :

  • Trả thù cái con khỉ khô họ nè.

Cả đám tụi tui thấy đám du côn chạy trốn như chuột, nên đứa nào cũng khoái chí cười vang, tui đến bên Cu Dĩ nói lời cảm ơn, khi lên đến chợ tui móc hầu bao đãi cả đám một chầu Sâm bổ lượng cho hạ hoả cái nắng của mùa Hè.

Một hôm đang ngồi chơi bên hàng cây Tầm vông nhà bà Hai Đồ chay trong xóm, thằng Cu Dĩ nói:

  • Tao quyết định rồi, Thứ Hai tuần sau tao đi đăng Lính, tụi bây ở lại mạnh giỏi.

Cả đám bạn nghe Cu Dĩ thông báo quá đột ngột chưa kịp phản ứng gì, Cu Dĩ nói tiếp:

  • Tới tuổi quân dịch rồi không tình nguyện thì cũng bị bắt lính, mà bị bắt là quê lâm, dẫu sao tình nguyện thì có tiền thưởng đầu quân cũng đỡ khổ.

Lúc này có đứa hỏi liền:

  • Vậy chứ mầy tính đi lính nào, nếu tình nguyện thì vô chủ lực quân cho nó oai, tao thấy anh Hùng Cường hát bài Lính Dù lên điểm oai ghê.

Cu Dĩ thông thả nói:

  • Có mấy thằng bạn ở xóm Cây điệp, tụi nó rủ tao vô Thủy Quân Lục Chiến, nên tao đăng vô lính này.

Nghe thằng Cu Dĩ quyết định như trên, tụi tui thầm phục thằng này gần dạ ghê, sắc lính này thường ở địa đầu giới tuyến, sống chết vô chừng, nên cả đám hùn tiền lại bao cho nó chầu Cine ở Rạp Cao Đồng Hưng rồi ghé về làm tô Mì Cây gòn cho ấm bụng…


Ảnh minh hoạ: manhhai


Thời gian sau thấy Cu Dĩ mặc bộ đồ Bệt của TQLC oai phong vô cùng, với cái bê rê màu xanh lá, nó vắt ở cầu vai tui thấy Cu Dĩ trưởng thành hẳn lên …

Rồi thằng Răng (lớn) cũng là đứa bạn thân thiết nhất của tui trong xóm, thấy thằng Cu Dĩ oai quá nên bữa nọ nó lén ba má nó là ông Bà Tư trưởng khu để nhào với TQLC, khi ra trường nó đóng quân tận ngoài cửa Việt thuộc tỉnh Quảng Trị, đơn vị nó tan hàng tại đây , nó và một số đồng đội bị bắt làm tù binh tại mặt trận, bên thắng cuộc đưa tụi nó vô vùng rừng núi để học tập cải tạo cho đến ngày 30 tháng 9 mới được cho về nhà.

Riêng Cu Dĩ sau 30.4 về nhà do buồn thời cuộc nó uống rượu liên tu bất tận, nên sau một thời gian ngắn bệnh xơ gan cổ chướng đã cướp đi mạng sống của nó, đám ma Cu Dĩ thật đơn sơ chỉ vài người thân và bạn bè trong xóm tiễn nó về miền âm cảnh. Vậy là tui mất một thằng bạn có nụ cười thật hiền và xả thân vì bạn bè trong mọi hoàn cảnh.

Thằng Răng sau khi được phía thắng trận tha về, nó đi xe lửa từ Quảng trị về nhà.

Thấy bước đi thất thiểu từ phía ngoài đường, trên mình còn mặc bộ đồ Tù sọc trắng nâu hồng, tụi vui mừng chạy ra kéo nó vô quán nước rồi hỏi han, nó kể lại nỗi cơ cực khi lao động hàng ngày trên núi rừng vùng sơn lam chướng khí, mừng mừng tủi tủi tủi vét trong túi đưa cho nó một ít tiền để chi dụng, một thời gian sau hai đứa tụi vô làm một đơn vị xây dựng, thằng Răng vốn hiền lành như cục bột nên nó được kết nạp Đảng, còn tụi có lối sống tiểu tư sản nên cho ra rìa.

Đến nay Răng Lớn đã xa rời nhân thế hơn chục năm rồi, mỗi lần nhớ đến nó tui bùi ngùi vì giữa hai thằng tui nhiều ân tình kỷ niệm khó mà phai nhạt.

Nói về Nhảy Dù xóm tui có vài trự, nhất là hai anh em Đực Lớn và Đực nhỏ, hai người này có tạng người cao ráo như cha mình, Bác Năm vàng dáng người cao to khoẻ mạnh nên Đực nhỏ Đực lớn cũng cao to, tui cũng không nhớ lý do nào mà hai anh em lại chọn binh chủng này, nhưng phải công nhận khi họ mặc quân phục với mũ Bê rê đỏ thật oai phong, nhất là giày Bốt đờ sô bóng loáng khiến mấy đứa con gái trong xóm hay trầm trồ khi thấy hai thiên thần này xuất hiện.

Cũng như những người khác, khi tàn chiến cuộc hai anh em về quê Nội bên An Phú Đông làm nương rẫy, lâu lâu tụi cưỡi xe gắn máy qua thăm, Hai anh em ra vườn, ra ao bắt cá hái rau vô làm món cùng nhau nhậu nhẹt, có lần đang ngồi nhậu ông Đực Lớn nói :

  • Bây giờ buồn quá há Phương, hồi xưa xóm làng anh em mình chơi với nhau vui quá, bây giờ không còn cái tình như ngày xưa nữa.

Tui đáp lời:

  • Anh ở vùng thôn quê mà anh còn thấy vậy, trong thành phố còn hơn vậy nữa, đâu còn cảnh làng xóm í ới mời đám giỗ đám quãy nữa đâu, ở kế bên mà thật xa lạ.

Ông Đực Lớn cũng tạ thế cách đây cũng tròm trèm chục năm, Đực nhỏ còn hay mất tụi cũng chẳng biết, vì đã lâu không còn sức để là cà thăm hỏi chúng bạn ngày xưa.

Riêng lính thần hổ thì xóm tui có 4 người, ông anh Phước người kế tui tử trận đâu ngoài Ban mê thuộc, Trung sĩ nhất Tăng Hoà ( nghe nói đã mất) cũng là người cùng ở chung BCH LD 6 với tụi, anh Hoà lớn hơn tui vài tuổi , anh ở Liên đoàn khá lâu, khi tụi về Liên đoàn gặp anh tui mừng lắm, vì nơi lạ nước lạ cái gặp người quen trong xóm thì như Rồng gặp mây vui sướng nào hơn, anh Tăng Hoà lúc rảnh cũng thường chỉ vẽ cho tui cách sinh sống nơi đơn vì, chính vì vậy tụi thích nghi mau lẹ, bằng không tụi bị sút ra tiểu đoàn tác chiến nhiều khi xanh cỏ rồi không chừng.

Còn về Lính Địa phương quân và Nghĩa quân, có thằng Cảnh con cậu Tư tắc xi, thằng Thành ( Ba lọn) con bà Năm, ngoài ra còn vài thằng nữa đó không chơi thân nên tụi không kể ra đây, nhưng đặc biệt nhất là thằng Lạc Lớn, thằng bạn thân từ nhỏ xíu, hai đứa học chung chơi chúng từ nhỏ, tui thì học dở ẹc, còn thằng Lạc học rất giỏi, tháng nào nó cũng nhảy tót lên bảng danh dự không hạng nhất cũng hàng nhì.

Nó đi Sĩ quan Thủ đức, ra trường nó được đưa về một đại đội địa Phương quân ở Kiên Giang.

Ban đầu tụi nghĩ thằng này nó hiền khô mần sao chỉ huy được mấy ông lính trời gầm, vậy mà qua thư từ tụi được biết nó được vinh thăng thiếu úy trước niên hạn, do nó giỏi giang lập nhiều công trận, nên trước khi tan hàng nó đã là Đại đội trưởng các bạn thấy oai không.


Nãy giờ tụi kể ra những người trên đây hầu hết họ đã hòa mình vào mạch đất quê hương, riêng thằng bạn thân từ nhỏ, thằng Lạc Lớn nó đang sống một vùng quê nghèo trên La ngà Định quán, thỉnh thoảng anh em liên lạc với nhau nhắc lại nhiều niềm vui và nỗi buồn ngày xưa, tuổi già sức yếu nên cuộc sống của thằng bạn tụi có phần eo hẹp, vì vậy lâu lâu tụi nhín nhít gửi chút ít tài vật để giúp cho nó sống lay lắt qua ngày, có hôm tâm sự với nó xong, tụi đặt nó một câu hỏi:

  • Sau cuộc chiến mình còn lại gì Lạc ơi!

Nó im lặng không trả lời, tui chỉ nghe hình như có tiếng nấc nghẹn ngào trong ống nghe.

Kết thúc bài này tui mong ước có phép màu tui cầu xin cho các bạn tui cùng nhau sống lại một thời yêu dấu của tuổi trẻ đã qua.



Hai Hùng SG
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 17/Feb/2024 lúc 1:29pm
 

Cái lỗ vuông vức to như miệng của con khủng long từ từ nhả ra từng chiếc va li vào chiếc mâm đen xì quay vòng vòng trước những cặp mắt lừ đừ của đám hành khách vừa được ném từ trời xuống. Một chân gác lên chiếc xe đẩy, một chân nhúc nhích trong đôi bốt cho bớt tê cứng, Trọng dán mắt vào đám va li đang lũ lượt diễu hành trước mắt. Chiếc mâm quay đều đặn vẽ thành những vòng xoắn ốc trong đầu Trọng. Niềm vui trong anh như được nhấc bổng lên cao. Trọng ưa xê dịch. Mỗi lần đặt chân tới một thành phố xa lạ là lòng Trọng háo hức hồi hộp. Huống chi lần này bước chân anh lại lạc tới một nơi chốn mà anh ao ước từ lâu. Hoàng vẫn ba hoa về thành phố ngụ cư của anh là thủ đô của thế giới. Mày chưa tới được Paris thì có chết cũng chỉ nhắm được một mắt thôi thằng con trai ạ! Trọng mỉm cười nhớ lại cái giọng nhừa nhựa lững lờ làm như chẳng có gì quan trọng nhưng lại cố tạo cho người nghe cái cảm giác thật quan trọng của Hoàng. Anh ngước nhìn lên dẫy hành lang lố nhố những đầu người sau tấm kính che kín mít từ trên trần để tìm Hoàng. Mắt anh lướt qua những khuôn mặt nhỏ như những con búp bê đang chong mắt nhìn xuống. Có họa là mắt thánh mới có thể tìm ra bộ ria mép nhơn nhơn tự đắc của thằng bạn đã 5 năm không gặp. Thây kệ! Chút nữa đằng nào cũng gặp. Phải đập vào vai tên bạn nối khố một phát cho ra trò. Nghĩ tới đó Trọng thú vị cười một mình. Lấy cái va li gấp rồi tính.


Trọng đăm đăm tìm chiếc va li đen có cột sợi dây nịt đỏ. Sợi nịt va li màu diêm dúa mua đại ở một tiệm gần nhà, chỉ còn một sợi chót thế mà được việc. Cái lỗ vuông vừa phun chiếc va li ra là Trọng nhận được ngay cái nịt đỏ chói chang của anh. Anh ung dung đứng chờ nó quay tới trước mặt rồi kéo thốc lên chiếc xe đẩy.

Mấy ông quan thuế ngồi chờ trước mặt. Anh đẩy xe qua chiếc cửa nhỏ có hàng chữ "Không có gì để khai". Rượu không, thuốc lá không. Lại càng không súng ống, chất nổ, cần sa, ma túy. Mặt mũi Trọng tỉnh bơ coi mấy ông tây quan thuế như pha. Anh trao tờ khai, nhận lời cám ơn và thong thả ra cửa. Anh đảo mắt qua một vòng tìm bóng dáng Hoàng. Người đứng lố nhố dương những cặp mắt tìm kiếm vào đám hành khách đang vội vã tuôn ra. Những bàn tay giơ lên những bó hoa, những trái bong bóng màu sắc rực rỡ đón người phương xa, những nụ cười sẵn sàng trên môi. Từng chập vang lên những tiếng la hét mừng rỡ. Những nụ hôn vỡ ra niềm vui hội ngộ. Chẳng thấy bóng dáng Hoàng đâu. Trọng ngơ ngác bối rối. Tên ác ôn sao tự nhiên lại chơi trò đau tim thế này. Phải tìm ngay chiếc điện thoại công cộng. Hướng nào là hướng có điện thoại đây. Trọng đảo mắt nhìn khắp chung quanh. Miệng anh há hốc ra khi thấy bóng dáng một cô gái ôm tờ giấy trước ngực có ghi chữ "Trọng". Chiếc áo đen bó sát thân người đều đặn làm nổi bật tờ giấy ghi cái tên trùng với tên anh viết vội vàng bằng màu mực đỏ chói. Cô gái trông lạ hoắc làm anh nghĩ tới anh chàng Trọng nào có diễm phúc được người đẹp ra đón. Còn anh chắc phải đi kiếm chiếc điện thoại.


Anh khó khăn đẩy chiếc xe lách qua hết những ông tây lại tới những bà đầm dềnh dàng vướng vít. Xứ tây có khác. Toàn là tây với đầm. Chẳng thấy bóng dáng một người Á Đông nào. Đầu anh bỗng như có một lát dao chẻ hai làm lòi ra một ý nghĩ đáng tiền. Trên chuyến máy bay Air France chở anh tới đây cũng chỉ toàn tây với đầm. Vậy thì còn Trọng nào ngoài Trọng đang căng người lên vì hồi hộp này. Anh nhanh nhẹn quay xe tiến tới chỗ cô gái đứng. Từ xa anh đã ngại ngùng trước khuôn mặt tỉnh bơ có đôi môi phớt hồng trề ra như nũng nịu. Nếu không phải thì quê một cục. Cô gái đã liếc nhìn thấy anh. Cặp mắt rộng mở hỏi han. Anh cố lấy điệu bộ tự nhiên tiến tới. Đôi môi mọng nước như mấp máy muốn nói. Anh vội lên tiếng dò dẫm:

- Tôi tên là Trọng.

- Em biết rồi. Anh là bạn anh Hoàng chứ gì?

Giọng nói sao mà như đường như mía. Môi đâu mà lịm tim lịm hồn.

Trọng hấp tấp lạc giọng:

- Thấy cô đứng cầm bảng tên mà tôi không dám chắc là tên tôi.

Cô gái long lanh ánh mắt tinh ranh:

- Anh không nhớ tên anh à? Tên gì đâu làm ôm nặng muốn chết.

Trọng bật cười:

- Kiếp sau tôi nguyện sẽ lấy một cái tên thật nhẹ, nhẹ như mây. Tên Vân chẳng hạn.

Ngón tay trỏ thon hồng lắc lia lịa trước khuôn mặt thanh tú cố làm ra nghiêm trọng:

- Không được! Vân là tên em.

Trọng khẽ cúi đầu hơi kịch một chút:

- Hân hạnh biết cô Vân. Cô là...

Bàn tay Vân chìa ra cùng giọng ướt mềm:

- Em vợ anh Hoàng.

Trọng khẽ nắm bàn tay thuôn thả mát lạnh:

- Cái thằng tệ thật. Có cô em vợ như cô mà không cho anh em biết.

Nói xong Trọng mới thấy mình nói năng lỗ mỗ. Học chung với nhau ở Montréal, ra trường bạn bè tứ tán mỗi tên một nơi. Hoàng bay qua Pháp, kiếm được việc làm, lấy vợ là ở lì luôn. Có ai biết hắn sống ra làm sao nói chi tới việc la cùng làng nước là tôi có cô em vợ. Chỉ tại Trọng khớp trước người con gái duyên dáng nên mới loạng quạng.

Ánh mắt Vân nửa như thương hại nửa như giễu cợt:

- Tới vợ của anh Hoàng anh còn không biết là ai nói chi em vợ anh ấy.

Mặt Trọng đỏ lên. Phải chi ở chỗ vắng vẻ một mình chắc anh chẳng ngại ngùng tự vả vào miệng vài cái cho đã tức. Tự nhiên ôm cái quê một cục vào mình.

Nhìn bộ mặt của Trọng, Vân biết tỏng anh chàng đang ngượng chín người. Trông một tên đàn ông thất thế thấy cũng hay hay. Nàng nhẹ nhỉnh bồi thêm:

- Chẳng lẽ mình cứ đứng đây mãi! Để em dẫn anh ra lấy xe đi về chứ. Mà hình như anh cũng chẳng muốn biết tại sao anh Hoàng không ra đón anh mà lại cử sứ giả đi dùm như thế này nhỉ!

Mặt Trọng ngớ ra. Cô bé trông hiền thục thế mà cũng cay ra phết. Đành chịu xếp ve chứ biết sao bây giờ. Anh khôn khéo lách:

- Chắc anh Hoàng bận việc gì bất thường nên mới phải nhờ tới cô sứ giả khả ái ra đón chứ gì?

Vân cười thầm trong bụng. Kể cũng khéo nịnh đầm đấy chứ. Làm trai mà biết điệu nghệ với phái đẹp thì cũng nên cho điểm đại xá. Giọng Vân pha chút thân mật:

- Nếu bây giờ em nói anh Hoàng không có ở Paris thì anh có ngạc nhiên không?

Trọng quay lại chăm chú nhìn Vân để coi cô nhỏ có tung thêm chưởng nào nữa không. Vân hếch mặt mỉm cười chờ câu trả lời. Trọng lúng túng thăm dò:

- Vô lý! Hoàng hứa chắc sẽ ra đón tôi mà. Làm sao hắn không ở Paris được.

Vân cất giọng bình thản:

- Anh Hoàng hứa nhưng anh Hoàng đâu có ra đón anh. Như vậy có nghĩa là anh Hoàng bị kẹt bất ngờ. Anh không biết anh Hoàng là người nguyên tắc lắm sao?

Trọng phải công nhận là Vân nói đúng. Anh biết tình bạn. Cứ như cái đồng hồ trên tháp Big Ben. Như vậy là phải có chuyện gì quan trọng xảy đến với Hoàng. Anh hỏi dồn:

- Có chuyện gì vậy? Anh Hoàng có sao không? Lạ thật! Sao vậy cô Vân?

Mấy ông đàn ông này tức cười thật. Phổi ông nào cũng như phổi bò hết. Lúc thì chẳng hỏi han gì tới bạn lúc thì cuống lên như gà mắc đẻ. Trông đến lạ! Vân không nỡ ỡm ờ thêm nữa:

- Anh Hoàng có tin buồn. Mẹ anh mới mất tại Đức. Anh chị và cháu nhỏ phải qua Đức gấp sáng nay. Anh ấy có dặn em xin lỗi anh vì đã thất hẹn.

Trọng đứng ngây người vì tình huống bất ngờ này. Anh hạ giọng buồn:

- Để tôi phải gọi điện thoại chia buồn với anh chị ấy liền mới được.

Giọng Vân nhỏ nhẹ không kém:

- Anh khỏi lo. Anh Hoàng sẽ canh giờ tụi mình về tới nhà là điện thoại ngay cho mà coi. Em biết tính ông anh rể em quá mà. Thôi mình đi.


Xe của Vân nhỏ như một chiếc hộp trên xa lộ từ phi trường Charles de Gaulle về Paris. Trọng đã quen mắt với những xa lộ rộng lớn ở Bắc Mỹ nên thấy xa lộ Paris như một đứa trẻ còi cọt. Đoàn xe bò trên xa lộ một cách ngoan ngoãn như đang tham dự một đám rước lớn của nhà thờ. Những chiếc xe cũng nhỉnh nhỉnh một cỡ như xe của Vân. Càng vào gần tới Paris xa lộ càng như nhỏ lại với đám xe cộ đeo nhau nhích từng chút. Vân ra khỏi exit len lỏi trên đường phố Paris. Thành phố già nua được đan dính vào nhau bằng những đường phố xinh xắn tấp nập. Trọng nhìn quanh quất hai bên đường phố. Những tòa nhà cổ kính đậm màu thời gian đứng ngậm câm từ bao thế kỷ trông lạnh lùng xa cách. Vân cắm cúi luồn lách theo dòng xe cộ. Vòng tay lái coi bộ nặng nhọc. Chóp lưỡi hé lộ giữa hai bờ môi tươi mát. Trọng ngơ ngẩn trước vẻ đẹp mộc mạc của vành môi không son như một người mê tranh ngây ngất trước gam màu vừa ý. Vân dừng xe lại trước ngọn đèn đỏ. Nàng nhìn sang Trọng bắt gặp ánh mắt đờ đẫn của anh. Le lưỡi liếm tròn quanh đôi môi, Vân mỉm cười hỏi:

- Coi bộ anh Trọng đang buồn ngủ rồi phải không?

Trọng giật mình lắc đầu lia lịa:

- Đâu có! Lần đầu diện kiến Paris mà ngủ thì coi sao được. Tôi đang say đắm vẻ đẹp cổ kính của thành phố đã nhắm mắt tưởng tượng từ bao nhiêu năm nay.

Vân giả bộ hất mặt lên kiêu hãnh:

- Thành phố của em chứ bộ! Paris của em là nữ hoàng văn hóa của thế giới. Mắt thấy Paris thì tim có bằng gỗ cũng ra văn ra thơ.

Trọng châm chọc:

- Thế thì cô công dân khả ái của Paris đã làm được bao nhiêu bài thơ rồi?

Vân vừa rộn ra cười vừa nói:

- Tim em bằng đá làm sao mà ra thơ được!

Tiếng còi xe thúc giục ở phía sau làm Vân hốt hoảng cho xe chạy. Nàng le lưỡi nhún vai hỏi Trọng:

- Anh thấy lái xe ở Paris dễ sợ chưa?

Trọng gật đầu:

- Trông Vân như một nữ hiệp sĩ tả xung hữu đột giữa trùng trùng điệp điệp địch thủ.

Vân trợn mắt mím môi:

- Anh thấy em võ biền như thế thì chết cái dịu dàng của con nhỏ này rồi!

Vân bẻ lái vòng sát đầu một chiếc xe chạy ngược chiều bên phía tay trái. Vân nhún vai le lưỡi khi nghe tiếng còi cảnh cáo của chiếc xe bị lấn ép. Nàng quẹo vào một con đường nhỏ có hai hàng xe đậu dài theo hai bên lề. Chiếc xe lách trên khoảng đường hẹp như muốn cọ vào hai dãy xe nằm im lìm chịu trận. Vân đảo nhanh mắt qua hai bên bảo Trọng:

- Tới nhà rồi. Kiếm được chỗ đậu xe chắc cũng đỏ con mắt. Để em chạy vòng vòng coi.

Vân cho xe chạy rà rà quanh những con đường nhỏ xíu. Mắt chưa kịp đỏ miệng đã reo lên:

- Thử vô chỗ này coi.

Trọng ngơ ngác nhìn theo tay chỉ của Vân. Khoảng trống nhỏ không nhỉnh hơn chiếc xe của Vân bao nhiêu. Nhưng làm sao Vân có thể bê chiếc xe để vô một chỗ vừa vặn như vậy. Vân lùi xe lại vẻ nhất định muốn vào thật. Trọng ngạc nhiên hỏi:

- Vân định cho xe vào chỗ này thật đấy à?

Vân cũng ngạc nhiên không kém:

- Chứ sao?

- Làm sao mà vào được?

Vân lớn tiếng cười:

- Anh qua Paris muốn làm nghề gì thì làm chứ đừng làm nghề tài xế nghe. Ai mà mướn anh!

Vân thản nhiên đẩy đầu xe vô hích vào đuôi xe trước, de lại đẩy vào đầu xe sau. Loay hoay một lúc chiếc xe đã nằm gọn vào hàng khít rịt không còn một chỗ hở. Trọng há miệng thán phục. Vân hất mặt trêu chọc. Ra khỏi xe Trọng bỏ nhỏ:

- Bây giờ khách phương xa mới hiểu tại sao xe ở Paris cái nào cũng nhỏ xíu.

- À, thế ra từ nay tới giờ chắc anh tưởng Vân không có tiền mua xe lớn hơn phải không? Nói cho anh biết là em có đủ tiền mua xe lớn cỡ xe... buýt cũng được!

Vân phá ra cười tự tán thưởng câu trả lời sắc nước. Tiếng cười còn lùng bùng trong đầu Trọng khi anh đứng trong căn nhà tươm tất của Hoàng. Trọng thèm sự trẻ trung yêu đời của cô gái thông minh. Thời gian là một tên cướp giật từ tốn. Nó lấy của anh từng chút từng chút nhựa sống và chẳng biết tự bao giờ nó dúi vào tay anh một cuộc sống nghiệt ngã tầm thường. Anh nuối tiếc những ngày sinh viên cũ, mảnh ban mai hồng hào của đời người, chuỗi ngày tươi mát rộn ràng.

Tiếng Vân cắt đứt dòng hồi tưởng của Trọng:

- Phòng của anh đây. Một tay em "cải biến" phòng của cu Tý thành phòng của người lớn. Anh vừa ý không?

Trọng đứng ngắm căn phòng. Như toát ra vẻ hài hòa tươm tất. Trên chiếc bàn ngủ, 3 bông hồng đỏ thắm được cắm so le trong chiếc bình pha lê cao ngỏng hình cổ cò làm cho căn phòng ấm cúng hẳn lên. Trọng cảm động:

- Cám ơn Vân. Chu đáo quá!

- Đừng cám ơn em. Chính anh Hoàng tiết lộ cho em biết là anh thích hồng nhung đấy chứ. Mà em cũng thích loài hoa quí phái và thanh thoát này.Thôi, anh sửa soạn đi tắm tẩy trần đi. Phòng tắm ở phía trước đó anh.


Trọng vừa mở được chiếc va li tìm thấy quần áo thì tiếng điện thoại reo. Vân đứng ở cửa phòng, úp ngược chiếc điện thoại vào ngực, nghiêng người vào trong phòng thì thầm:

- Anh phục tài đoán mò của con nhỏ này chưa? Đúng y boong mà. Ông anh rể em muốn nói chuyện với ông bạn vàng của ông ấy. Thật, chẳng chậm trễ lấy 1 phút.

Trọng cầm điện thoại, tay bịt ống nói, giọng khao khao khẽ nói:

- Chịu cô rồi!

Anh đưa điện thoại lên miệng:

- Allo, Hoàng đấy hả?

Tiếng Hoàng oang oang dội vào tai Trọng:

- Anh mày đây! Tiếc quá, tưởng sẽ được đá đít mày mấy cái cho đỡ nhớ ai ngờ tao với mày lại ngàn trùng xa cách như thường. Số mày với tao chắc là số Ngưu Lang Chức Nữ. Tao...

Trọng ngắt ngang:

- Mày vẫn tình nào tật nấy. Nghiêm trang một chút coi có được không? Công việc bên đó ra sao? Cho tao chia buồn với vợ chồng mày. Vừa mới sang nghe được tin bác tao ngơ ngẩn cả người. Bác bệnh gì mà ra nông nỗi thế?

Giọng Hoàng bớt sôi động:

- Cụ tao chẳng có bệnh tật gì. Có chăng là bệnh già. Buổi tối trước khi đi ngủ kêu nhức đầu, sáng hôm sau không thấy cụ dậy, vô phòng coi thì cụ đã đi từ lúc nào chẳng ai hay. Cụ chẳng cho con cháu hầu hạ chút nào cả. Khi còn sống cụ vẫn ước ao được chết an lành không phiền tới ai. Cụ đi như vậy là cụ cũng mát lòng mát dạ. Chắc tao còn phải ở bên này bốn năm ngày nữa. Mày cứ tự nhiên như ở nhà...tao nghe. Cần gì cứ nói với nhỏ Vân, đừng ngại gì cả. Em tao nó hiếu khách lắm.

Trọng nhìn quanh không thấy Vân đâu, vội nói:

- Tao thấy không tiện chút nào nên định hỏi ý mày để ra khách sạn ở. Mày...

Hoàng không để Trọng nói dứt câu:

- Không tiện cái con khỉ ấy! Có thừa tiền thì để đấy cho tao mượn tậu cái xế limousine đi cho nó hách. Tụi chủ khách sạn chúng giàu rồi không cần mày đóng tiền mẻ của mày đâu. Tao thấy mày là con nhà gia giáo bốn đời làm thày đồ, được cái nết nể vợ, lại ngán cái miệng tao nên mới để mày ở với em vợ tao. Không có thì còn khuya. Bộ tao dại gì mà gửi trứng cho ác sao! Ở yên đó, đừng có lộn xộn mà thương tổn tình bằng hữu. Vân nó nội trợ một cây đó. Cái bộ công tử như mày mà cơm đường cháo chợ gì được, lúc nào cũng phải có người săn sóc mới... nên người. Nghe chưa thằng con trai! Thôi, cho tao nói chuyện với Vân một chút.

Trọng kêu Vân nghe điện thoại rồi vội vàng bước về phía phòng tắm.


******

Trọng sánh vai Vân nhàn tản trên lối đi bộ của đại lộ Champs Élysées. Dưới lòng đường xe cộ chạy ngang dọc như mắc cửi, qua Khải Hoàn Môn được viền sáng bằng những dây đèn mờ mờ vàng. Hàng cây hai bên đường rực sáng bằng những ngọn đèn run rẩy đeo dính xung quanh như sợ những cơn gió cuối năm xô té xuống đất. Những cặp tình nhân quấn quít nhau ngả nghiêng trong gió la hét đùa rỡn làm náo động phố phường. Gió mạnh bạo thổi tung tóc Vân, xô đẩy tà áo lạnh mềm mại quẩn quanh bên chân Trọng. Anh cảm thấy như cả thân người nhỏ nhoi của Vân nép sát vào anh ngoan ngoãn. Trời lạnh ngọt ngào. Đã quen với mùa đông sỗ sàng ở Montréal, Trọng thấy mùa đông Paris đáng yêu chi lạ. Cái lạnh chả vừa đủ cho những mảng khói vấn vương trên miệng, cho má môi ửng hồng xuýt xoa, cho những đôi tay quấn quít truyền nhau chút nồng nàn. Tiếng Vân nghe thoang thoảng trong tiếng rít rao của gió:

- Anh có biết là anh đang có diễm phúc được tản bộ trên con đường dành cho khách bộ hành đẹp nhất thế giới không?

Vân nói không ngoa. Người dân Paris vừa có niềm tự hào với con đường tản bộ mới được khánh thành này. Trọng nhìn thấy những kiến trúc nho nhỏ đẹp đẽ dễ thương, những cửa hàng sang trọng hài hòa rực rỡ, và cả những viên gạch dưới chân tinh khôi mỹ thuật. Người đi lên đi xuống chen chúc nhau trong đêm hoa đăng của những ngày vui cuối năm. Trọng nghe thấy những tiếng nói lạ tai rầm rì chung quanh. Paris đang đông đặc du khách từ khắp nơi đổ về nghỉ lễ. Giáng Sinh đã qua nhưng niềm vui còn ở lại chờ đêm giao thừa. Trọng cảm thấy lâng lâng thú vị như vừa được nhấp chút rượu nồng:

- Anh còn có diễm phúc hơn thế nữa ấy chứ!

Vân quay ngoắt qua Trọng. Anh nghe thấy thoang thoảng hương thơm dìu dịu cùng với cái nguýt dài bằng môi bằng mắt:

- Cha chả! Ông anh tôi cũng khéo nịnh dữ! Chắc bà chị tôi ngày xưa cũng đã chết lên chết xuống vì cái miệng ngọt như mía lùi này quá.


Trọng cười oang oang làm mấy cặp tình nhân đi bên cạnh cất tiếng cười theo. Anh lắc đầu nhìn Vân. Cô bé này có cái miệng lanh chanh mau mắn dễ sợ. Hình như Vân luôn luôn rình rập những sơ hở của anh để bất ngờ tặng anh một món quà khó nuốt. Anh nhớ lại vẻ mặt thích thú của Vân mỗi khi có điện thoại của vợ anh gọi qua. Vân trao điện thoại cho anh, mím chặt đôi môi, long lanh đôi mắt, ngón tay trỏ nhịp nhịp, vẻ mặt thú vị dọa anh. Chết anh rồi! 4 năm chồng vợ tạo cho Thùy thói quen chăm sóc anh cẩn thận như chăm sóc một đứa trẻ. Từ manh quần tấm áo, miếng ăn miếng uống đến những điều nhỏ nhặt nhất của cuộc sống thường nhật, Trọng như được bao phủ bởi những tế nhị dịu dàng của Thùy. Tình yêu Thùy dành cho anh như những đợt sóng biển vỗ về bờ cát, không cuồng nhiệt nhưng chất ngất đam mê và miên viễn an bình. Xa anh, mỗi ngày Thùy đều điện thoại cho anh để hỏi han, dặn dò anh đủ chuyện. Làm như thiếu bàn tay của nàng anh sẽ phải ngơ ngác bối rối với những chuyện vặt vãnh hàng ngày. Trọng cảm thấy êm đềm như được nằm trên phiến mây bềnh bồng lãng đãng trôi. Anh khẽ thì thầm vào tai Vân:

- Không phải chị chết lên chết xuống vì anh mà là anh chết lên chết xuống vì chị!

Đến lượt Vân phá ra cười làm vang động một góc phố:

- Tội nghiệp ông anh tôi quá! Người đâu mà lại tự nguyện làm một cuộc tự tử dài hạn nhưng thú vị như thế!

Đầu Trọng ăm ắp hình ảnh của người vợ đang mặn nồng hương lửa. Anh thấy trong Vân có những nét của Thùy. Mấy ngày sống với Vân dưới cùng một mái nhà anh cũng nhận được những chăm sóc tỉ mỉ dịu dàng. Những người đàn bà hiền thục đều có những nét đáng yêu như nhau. Cái tôi của họ chìm lĩm mất hút để chỉ biết lo toan cho những người thân. Trọng nhìn Vân bằng ánh mắt tha thiết biết ơn. Vân bắt được ánh mắt của Trọng. Nàng nói lơ:

- Nhắc tới chị là anh ngơ ngẩn như người mất hồn. Chắc anh chị hạnh phúc lắm!

Trọng nhìn về phía Khải Hoàn Môn. Ánh sáng cắt gọn một góc trời đen thẫm. Anh nói như khẽ thở:

- Hạnh phúc! Anh nghĩ là anh có.

Bước chân Vân khẽ chao đi. Nàng vội níu tay áo Trọng. Một lúc sau tiếng Vân mới hững hờ thoát ra khỏi miệng:

- Anh xứng đáng với hạnh phúc anh có.

Hai người lặng lẽ bước bên nhau.Họ như hai hình nhân cô độc giữa đám đông ồn ào náo nhiệt đi lên đi xuống như đèn kéo quân. Ngang qua một xe bán hạt dẻ rong, Trọng kéo Vân dừng lại. Ánh than hồng phả lên mặt Vân một màu đỏ yếu ớt. Người bán hàng Ả Rập nhỏ thó với hàng ria mép đen cứng ngắc luôn tay đảo mớ hạt dẻ trong chiếc chảo lớn nghe rào rào như một trận mưa nhỏ. Trọng giơ 1 ngón tay. Anh Ả Rập mau lẹ xúc hạt dẻ nóng hổi vào chiếc túi giấy cuộn tròn thành hình chiếc phễu. Trọng đưa gói hạt dẻ cho Vân, móc túi lấy 10 quan ra trả. Vân thành thạo lột vỏ hạt dẻ đưa cho Trọng. Vị ngọt bùi nóng hổi thấm vào lưỡi anh. Trọng cảm thấy ấm áp trong lòng. Vân trong gang tấc nhưng cũng chừng như vạn dặm. Tiếng Vân mỏng manh sương khói:

- Em lạnh!

Trọng đưa Vân vào quán cà phê. Đèn vàng mờ, ghế da nâu đậm, tranh cổ trên vách, hoa hồng trên bàn. Khung cảnh toát ra vẻ ấm cúng. Hai người chọn chiếc ghế đôi dính sát vào tường. Cà phê cho Trọng, kem cho Vân. Anh bồi mũ trắng trên đầu, khăn trắng vắt ngang cánh tay, nụ cười trên miệng, khéo léo bày biện đủ thứ trên bàn trông vừa gọn gàng vừa đẹp mắt. Xong anh vòng một tay ra sau lưng, khoát tay còn lại, người hơi cúi gập xuống điệu nghệ:

- Mời ông bà dùng. Chúc ông bà một buổi tối ấm cúng.

- Cám ơn anh.

Chờ cho anh bồi đi, Trọng ghé tai Vân:

- Bà ăn kem đi cho ấm cúng!

Vân bưng miệng cười ngả nghiêng:

- Anh thiệt! Ngạo em hả? Mà không biết tại sao em thích kem thế không biết. Người lạnh mà vẫn cứ kêu kem.

Trọng tỉnh bơ nói:

- Cái đó người ta kêu là "hội chứng con nít".

Vân đập tay vào vai Trọng:

- Ghét anh! Ngạo em hoài.

Vân làm bộ giận dữ, cúi gằm đầu xuống, lấy muỗng xúc kem ăn. Trọng nhìn Vân gẩy từng chút kem đưa lên miệng. Đôi môi chu ra chậm rãi đón vẩy kem dâu hồng tươi trên đầu muỗng. Anh ngồi chết lặng trước cặp môi sinh động. Anh khuấy ly cà phê cho tan đường đưa lên môi nhấp thử.Chất nước thơm đắng làm tê dại môi anh.

Giọng anh trầm trầm:

- Hôm nay anh làm như điên cho xong công việc ở chỗ tu nghiệp. Mệt muốn chết! Nhưng bù lại ngày mai anh có nguyên một ngày rảnh rỗi. Ngày chót ở Paris. Thế nào anh cũng phải tới Louvre để tận mắt xem nàng Mona Lisa cười. Anh mê nụ cười đó từ lâu lắm rồi. Tính anh đam mê cái đẹp. Mê đậm. Nhiều lúc anh tự hỏi đó có phải là một tính xấu không?

Vân ngước mắt nhìn Trọng:

- Sao anh lại nghĩ vậy? Người biết thưởng thức, đam mê cái đẹp là người nhận được nhiều ân sủng của cuộc sống. Có gì là không hay? Nhưng cái đam mê của anh chắc sẽ được thử thách kỹ vào ngày mai. Anh biết là mùa này du khách đổ tới Paris đông như kiến. Muốn vào được Louvre chắc cũng phải mất tới ba bốn tiếng đồng hồ làm rồng rắn ngoài sân. Anh chỉ có một ngày rảnh rỗi đi ngoạn cảnh, liệu anh có dám hy sinh cho cô nàng Mona Lisa cả một ngày quý báu của anh không? Tiếc quá! Mai nhóm của em phải trình dự án trên trường chứ không em cúp cua đi với anh cái một. Dù sao có cái xe vẫn hơn. Hay là mai em đưa xe cho anh lái nghe!

Vân ngoẹo đầu nheo mắt nhìn Trọng chọc phá:

- Anh có dám không?

Trọng chắp hai tay nói vội:

- Thôi! Anh lạy cả nón. Lái xe ở Paris là không có anh rồi. Mai anh bắt métro cho chắc ăn.

Vân cười sảng khoái. Chất tếu trong người nàng như sống lại:

- Để phải chỉ đường cho anh đàng hoàng chứ ngày chót mà đi lạc không về được với chị tôi thì chết. Máy bay nó không biết chờ đâu. Anh sẽ như cái mền rách, mặt mũi sưng lên một đống. Xí trai phải biết! Lúc đó ai mà thèm nhìn tới anh!

Miệng Vân ba hoa nói giỡn nhưng hình như nàng không cất được tiếng cười. Mới vài ngày trước nàng đón Trọng như đón một người lạ vậy mà mai đã là ngày cuối cùng của một người thân. Vân thấy ghét những gì gọi là cuối cùng. Nó như một dấu chấm hết nghiệt ngã. Vân khẽ thở dài. Nàng cố xua đi những đám mây đen đang vần vũ trong đầu. Đôi tay Vân hấp tấp mở ví lấy cây viết, vơ tờ giấy lau tay trên bàn, giọng ân cần:

- Để em ghi đường tới Louvre cho anh nghe. Từ nhà mình anh lấy hướng La Courneuve, xuống ga Palais Royal đi bộ một quãng là tới. Nhưng thôi, để anh đi bộ thì phiêu lưu quá. Anh chịu khó đổi qua đường số 1 lấy hướng Chateau de Vincennes đi đúng một trạm là tới ga Louvre. Anh còn thích đi đâu nữa không?

- Chắc anh phải đi coi Eiffel ban ngày.Hồi nãy Vân lái xe qua tháp Eiffel lên đèn anh thấy bực mình quá. Cứ như nó đang trình diễn trên sân khấu ấy. Anh phải tới ban ngày để coi cái tháp trần trụi không đèn đóm mới được.

- Vậy thì từ Louvre anh lấy hướng Pont de Neuilly tới trạm Charles de Gaulle - Étoile thì xuống đổi qua đường số 6, lấy hướng Nation tới trạm Bir Hakeim là tới. Anh nhớ là từ Bir Hakeim phải đi bộ một quãng mới tới tháp. Đứng ở Bir Hakeim anh không nhìn thấy tháp đâu. Coi chừng lạc nghe anh. Để em chỉ mánh cho anh. Anh cứ thấy đường nào người ta kéo nhau đi như kiến là đi theo. Bảo đảm là anh sẽ tới tháp. Mà cho anh biết là muốn lên tháp cũng phải xếp hàng cả tiếng đồng hồ đấy nhé. Nhớ đừng có sốt ruột mà leo thang chân nghe. Trời lạnh thế này cặp giò của anh chắc sẽ không đưa anh lên cao được đâu. Đừng có thử mà... tiêu tùng nghe anh!

Vân vừa cười vừa đưa cho Trọng mảnh giấy:

- Cẩm nang đó. Anh nhớ cất kỹ nghe. Cứ thế mà theo. Nếu đi lạc thì ráng đợi tới chiều tối khi em về nhà rồi thì phone về, sẽ có xe... tìm trẻ lạc tới đón.

Vân le lưỡi lấy tay che miệng, co vai, rụt đầu rụt cổ vì câu nói làm bộ như lỡ lời. Trọng đập nhẹ vào đầu Vân:

- Cô bé này hỗn quá nhỉ!Anh phải mách anh Hoàng mới được. Con nít ăn kem đi không kem chảy hết rồi kìa.

Vân nhún vai, rùng mình:

- Em ngán quá! Tiệm này nó tưởng em là hạm kem nên dọn cho em cả một tô thế này. Anh ăn đỡ cho em đi.

Trọng nhìn tô kem dài ngoằng hình một chiếc thuyền. Chiếc bánh quế nâu đậm được cắm thẳng đứng như chiếc cột buồm. Vân rút chiếc bánh đưa cho Trọng. Một người dùng muỗng, một người dùng bánh, hai người vừa ăn vừa nhìn nhau. Trọng chấm bánh vào chỗ kem dư của Vân nhấm nháp từng chút một. Vị kem như có vị môi của Vân. Vân nhìn Trọng nói như reo:

- Anh mắc mưu em rồi. Anh cũng là con nít ăn kem như em rồi nhé. Con nít mà lo bắt nạt con nít! Mà giả dụ chúng mình là hai đứa con nít thật thì vui biết mấy anh nhỉ.Không ràng buộc, không câu thúc, không phiền toái.

Mắt Vân chợt nặng. Giọng Vân hơi rạn nứt. Trọng kín đáo giữ tiếng thở dài. Anh nhìn qua khung cửa kính. Từng đôi từng cặp vẫn tấp nập qua lại. Vân đuổi theo ánh mắt Trọng. Nàng chống tay dưới cằm lơ đang nhìn những bóng người ngả vào nhau ân cần.Trọng khẽ nói:

- Người đâu mà nhiều thế không biết!

Tiếng Vân hờ hững:

- Thấm gì với đêm giao thừa. Cả khu vực rộng mênh mông này không còn một chỗ chen chân. Những người là người. Họ nhảy nhót, hò hét, vui chơi ồn ào chờ giờ giao thừa. Đúng lúc giao thừa nơi đây có một luật lệ bất thành văn. Muốn hôn ai thì hôn. Người bị hôn không có quyền từ chối. Nhiều cô có nhan sắc bị hôn tới tấp không kịp thở.

Trọng nghe máu chạy rần rật quanh thái dương. Người anh bồi hồi khôn tả. Như một mất mát tận cùng. Cảm giác anh đã có một lần khi đứng trong cửa sổ nhìn những hạt mưa phũ phàng bầm dập đóa hồng hàm tiếu đứng lẻ loi trong góc vườn nhà anh. Bông hoa nằm rạp xuống chịu đựng. Anh đứng thừ người vừa thương cảm vừa tức giận sự bất lực của mình.

Dứt cơn mưa anh chạy vội ra vườn nâng đóa hoa màu hồng non lên. Những cánh hoa tả tơi như ứa nước mắt. Đôi môi căng mọng thanh tân trước mặt anh cũng đã bị bầm dập như cánh hoa ngày nào chăng? Anh chăm chăm nhìn Vân mà lòng chĩu nặng ê chề tiếc nuối. Giọng anh run run:

- Có bao giờ Vân ra đây vào đêm giao thừa không?

Vân cúi mặt bối rối. Trọng căng người lên chờ đợi. Vân mỉm cười quét mắt quét nhanh qua khuôn mặt đờ đẫn của Trọng. Anh chàng làm như cháy nhà không bằng. Lửa bùng lên trong bụng Trọng. Người anh nóng ran. Nụ cười của Vân như khơi bùng ngọn lửa lên cao. Hai tay Trọng thừa thãi di chuyển trên bàn. Ngực anh tì vào mép bàn cứng ngắc. Người anh ngả về phía Vân. Câu trả lời chờ đợi không tới làm Trọng càng thêm nôn nóng. Anh nhìn như muốn nuốt chửng Vân. Tay Vân xoay xoay chiếc muỗng trong tô kem. Mặt Vân cúi xuống ơ thờ. Trọng bàng hoàng trước vẻ bối rối của Vân. Anh không kềm được câu hỏi buột ra khỏi miệng:

- Đã có ai hôn em chưa?

Vân ngẩng mặt quắc mắt nhìn Trọng. Mắt Vân như cục than hồng gặp gió. Bùng lên mãnh liệt rồi dịu xuống. Nàng ngoắc anh bồi. Trọng như thoát ra khỏi cơn mê. Tay anh lúng túng lật tờ giấy tính tiền trên đĩa, vứt vội tiền lại trả. Vân đeo bóp lên vai đứng dậy đi ra cửa. Trọng riu ríu bước theo. Đầu óc anh ngầy ngật ngượng nghịu. 


*****

Mưa lất phất giăng giăng như một chiếc lưới mỏng. Bầu trời chùng xuống sũng nước. Mưa Paris như một cơn hờn dỗi. Dai dẳng nhưng nhỏ nhẹ. Chiếc xe của Vân lăn bánh trên xa lộ vắng vẻ. Ngày cuối năm xe cộ rút đi đâu hết cho xa lộ mang vẻ nhàn rỗi thong dong. Hai chiếc gạt nước uể oải nhúc nhích gạt sang bên những chấm nước li ti cố bám trên kính xe. Năm cùng tháng tận là khoảng thời gian làm con người thấy lòng mình se sắt bâng khuâng. Một thoáng mất mát, một chút hụt hẫng trước cái trườn mình của giờ khắc giao mùa. Trọng nghe thấy trong người dâng lên nỗi bồi hồi khôn tả. Anh khẽ tâm sự:

- Anh như có nợ với những ngày cuối năm. Cứ lúc người ta khắc khoải đếm bước chân đi của năm cũ là anh khăn gói di chuyển. Đời anh có không biết bao lần lên đường vào những giây phút tàn tạ này.

Vân chăm chăm ôm tay lái nhìn thẳng trước mặt nói bâng quơ:

- Buồn nhỉ!

Trọng bắt theo lời Vân:

- Ừ, buồn thật. Mà cái buồn hôm nay hình như thấm hơn những lần trước.

Vân cười nhạt:

- Sao vậy?

- Không biết tại sao nhưng anh cảm thấy rõ ràng như vậy.

Vân nhấn mạnh chân ga. Chiếc xe vọt nhanh trên mặt đường trơn ướt. Trọng hốt hoảng:

- Coi chừng đường trơn nguy hiểm.

- Anh sợ chết sao? Dám chết với em không?

Trọng nhìn Vân. Nét mặt nàng thoáng vẻ tinh ranh:

- Rỡn một chút mà mặt anh sao như mất hồn vậy? Ai mà dám rủ anh chết. Phải để anh về với chị tôi chứ.

Trọng ngây người không biết phản ứng ra sao. Anh bâng quơ nhìn những giọt mưa mịn màng lặng lẽ rơi xuống. Đầu óc anh lềnh bềnh nổi trôi. Anh nghe lòng mình trống rỗng. Chiếc xe trườn đi như đang lao vào mặt biển mênh mang vô tận. Những chiếc đuôi máy bay nhấp nhô như những chiếc đuôi cá khổng lồ loáng thoáng lúc ẩn lúc hiện. 

******

Tiếng cô tiếp viên dịu dàng mời hành khách ra máy bay. Trọng bỏ chiếc xách tay xuống đất, hai tay đặt lên vai Vân:

- Anh đi nghe!

Anh hôn từ biệt lên hai má Vân. Mùi thơm dịu ngọt thoang thoảng làm nẫu lòng anh. Đây phải chăng là lần cuối cùng anh được hít thở làn hương ngất ngây này. Trong suốt thời gian mấy ngày ở với Vân anh đã bao lần hôn má Vân. Gặp nhau buổi sáng, tiễn nhau đi học đi làm, chào nhau trước khi đi ngủ, đón nhau đi ăn đi chơi, bao nhiêu lần ngọt ngào gây thương gây nhớ. Anh buông Vân ra mà như hụt hẫng cả người.

Vân bất thần nắm chặt hai tay Trọng. Mắt Vân đờ đẫn:

- Anh hỏi lại em hai câu hỏi mà em chưa trả lời anh trong tiệm cà phê đi.

Trọng mê dại:

- Có bao giờ em ra Champs Élysées vào đêm giao thừa chưa?

Vân lắc đầu. Những lọn tóc mỏng manh quệt ngang má Trọng.

- Đã có ai hôn em chưa?

Vân nhắm mắt lắc đầu. Nàng ngẩng mặt lên, nhẹ nhàng chỉ tay vào môi. Trọng si dại ôm Vân vào lòng. Anh hôn lên đôi môi thanh tân mật ngọt. Môi anh lạc bước vào một vùng cỏ hoa mượt mà thơm mát. Anh xiết chặt vòng tay. Vân đẩy mạnh anh ra. Tiếng nàng thất thần:

- Anh đi đi!

Giọng hoảng hốt của Vân làm Trọng nghe ra như một mệnh lệnh. Anh riu ríu cúi xuống xách chiếc sắc tay quay đi. Bước chân anh chập choạng vượt qua khung cửa gương. Người anh ngả nghiêng như một hình nhân bằng giấy. Tới chỗ quẹo anh quay người lại đứng thẫn thờ giơ tay vẫy. Vân lặng người đứng nhìn lại. Bóng Trọng nhạt nhòa trước mắt Vân. Nàng quay người đi như trốn chạy. Tiếng bước chân lẻ loi vang lên trong hành lang vắng lặng.

 

Song Thao

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 21/Feb/2024 lúc 3:48pm

Tiếng Hót Vành Khuyên


Tối thứ bẩy, đi văn nghệ Chu văn An về, Mai thao thức, trằn trọc mãi. Tới gần sáng, mệt quá, mới thiếp đi trong một giấc ngủ đầy mộng mị. Cũng tại cái bài Trường Làng Tôi, đầy dẫy hình ảnh, gợi lại trong lòng Mai biết bao nhiêu là kỷ niệm...


Mai không biết có phải tại mình sanh dưới chân ông Huỳnh Đế, hay kiếp trước vốn dòng du mục, mà với cái thời gian ngắn ngủi có 6 năm tiểu học, Mai thay tới 5 trường khác nhau. Trong thập niên 50, tình hình dưới quê rất lộn xộn.Quận Cao Lãnh nằm dọc theo con sông Hậu Giang. Ban ngày, quân đội Phật Giáo Hòa Hảo làm chủ tình hình. Đêm Việt minh từ trong đồng về quấy rối. Thỉnh thoảng, lính Cộng hòa từ tỉnh kéo xuống bố ráp. Dân chúng lúc nào cũng phập phòng lo sợ và luôn luôn trong tư thế sẳn sàng nhảy xuống hầm núp!


Ba làm việc trên Saigon. Má, chị Lan và Mai vẫn ở dưới quê với ông bà nội. Năm ba tháng má dắt chị em Mai lên Saigòn thăm ba. Sẵn dịp đem gạo, gà vịt, cá mắm, trái cây lên tiếp tế. Cao Lãnh - Saigòn chỉ cách độ 140 cây số, nhưng phải đi tàu đò xuống Sađéc, rồi ngủ lại một đêm (thường là ngủ trên mui tàu), hôm sau mới lấy xe đò đi Saigon. Mai còn nhớ những chiếc xe đò cọc cạch, khách ngồi chật như nêm, trên mui chở cả trăm thứ. Thỉnh thoảng phải ngừng lại đổ nước cho nguội máy! Còn phải qua bắc Mỹ Thuận mới là gian nan (nhưng bù lại, trong khi chờ đợi, được ăn một dĩa cơm có con tôm càng kho tàu, chan nước mắm mỡ hành, có trộn gạch tôm đỏ tươi, cũng đáng lắm)!... Ở chơi với ba độ 1 tuần,mấy mẹ con lại cụ bị trở về quê. Ngoài những thứ cần cho ông bà nội, cái món không thể thiếu được, là những ổ bánh mì dòn rụm mua tại bến xe. Lần nào má cũng mua 2, 3 chục ổ về biếu bà con lối xóm.


Một buổi sáng đẹp trời, má đánh thức Mai dậy rất sớm.

Bắt con nhỏ tắm rửa sạch sẽ, mặc cái áo đầm sọc caro hồng, trắng. Đầu cài chiếc nơ trắng có chấm hồng. Chân mang đôi săng đan trắng. Tay ôm 2 cuốn vở và 1 cây viết chì. Má dắt Mai xuống đò qua sông, tới trường thầy bảy Tánh xin cho Mai học lớp chót. Thời chiến nên trường cất cũng dã chiến luôn! Chung quanh là những cây cao rợp bóng mát. Suốt ngày tiếng chim hót véo von. Phía sau trường là một rừng cây đủng đỉnh. Nhà nào có đám tiệc cũng tới chặt lá về che rạp. Bông đủng đỉnh màu vàng tươi, kết thành chùm, để trang trí ngoài cửa rạp cho thêm phần mỹ thuật. Trường chỉ có 1 căn duy nhất.

Chiều ngang độ 10 thước, sâu 5-6 thước, ngăn đôi bởi một tấm phên tre, có chừa lối đi. Thầy Tánh kiêm nhiệm 2 lớp nên chạy qua chạy lại như mắc cửi.

Phần lớn học trò nhà quê ăn mặc khá lam lũ. Tuy còn nhỏ xíu nhưng Mai cảm thấy mình hổng giống con giáp nào trong chiếc áo đầm, nên mấy ngày sau nhứt định xin má cho mặc áo quần bà ba như những đứa trẻ khác. Mỗi ngày má đưa Mai ra tới bến đò, đứng đợi Mai qua tới bờ bên kia má mới về. Tan học Mai về một mình. Má không lo, vì ông lái đò chính là "ba nuôi" của Mai. Má kể lúc hơn 1 tuổi, con nhỏ cứ bịnh rề rề, nhiều khi làm kinh, giựt sùi bọt mép khiến cả nhà hết hồn. Cô hai Bạch chị của ba, khuyên nên đem Mai "ký bán" cho 1 người nào đó làm con nuôi. 


Trong làng có 2 nhân vật khá lạ lùng, đó là bác Huế Nhiên và chú Huế Kiên. Tuy chẳng có dây mơ rể má gì tới cái xứ Thần kinh xa lơ xa lắc đó (bác Nhiên người gốc Bình Định và chú Kiên người gốc Bắc kỳ!), nhưng thời đó, trong Nam, nếu không phải là người Nam, thì đương sự chính là người Huế! 2 ông Huế giả hiệu này, không biết trôi lạc xuống làng Tân An từ bao giờ (quên hỏi má), nhưng tứ cố vô thân, nghèo xơ nghèo xác. Sau này, khá lớn tuổi, chú Kiên cưới được cô Mành, vì cô này lật lờ. Phần bác Nhiên được đẹp duyên với cô Chương, lý do đơn giản là trai làng không ai dám đến gần. Cũng bởi xuân thu nhị kỳ, mỗi năm cô tắm nhiều nhứt là 2 lần!

Vậy mà khi lấy chồng cô đẻ sòn sòn năm một. Sản xuất một lèo tới 6-7 đứa. Má kể có lần tới thăm bác gái mới sanh, vừa vén mí mùng lên là má tưởng xỉu cái đùng, vì cái sự "nặng mùi" từ trong mùng xông ra! Cả xóm lăn ra cười cái lần bác bị bà chị ruột lôi sềnh sệch xuống sông bắt tắm. Bác vừa "bị" tắm, vừa khóc, vừa nỉ non:

- Bắt tui tắm rủi tui bịnh ai chịu tiền thuốc đây?

Bà chị vừa kỳ cọ cho bác, vừa la ầm ĩ:

- Mày bịnh tao chịu tiền thuốc. Đàn bà con gái gì mà còn hôi hơn chồn! Tao cũng khá khen cho thằng chồng mày còn ở với mày cho tới ngày nay!

Vậy mà lũ con bác lớn như thổi, mạnh cùi cụi quanh năm. Vì vậy ba má đem Mai ký bán cho bác làm con nuôi. Chỉ khổ thân con nhỏ, mỗi lần gặp ông già nuôi đều bị ổng ôm "hun" một phát lên má! Ai qua đò cũng phải trả mấy cắc, riêng Mai thì miễn phí (con nuôi cũng có khác)! Đó là chưa kể những hôm phát tài, bố cao hứng móc túi cho Mai 5 cắc mua mía ghim. Về nhà bị má la, vì bác nghèo, con đông, không nên nhận tiền của bác tội nghiệp!


Kỷ niệm không thể quên được trong thời gian học lớp chót này là cái chết tức tưởi của thằng Đường. Nó mới bằng tuổi Mai. Một hôm đang ngồi học, cu cậu ôm bụng kêu đau. Thầy Tánh cho nó về. Qua hôm sau không thấy nó đi học lại. Đến ngày thứ ba, thầy nói nó vẫn còn đau nhiều lắm. Trị thuốc bắc hoài không hết, gia đình phải đem nó xuống bịnh viện Cao Lãnh điều trị. Nhưng 2 ngày sau thằng Đường chết. Lúc đó mọi người mới biết nó bị sưng ruột dư. Khi chở xuống bịnh viện đã bể tùm lum, không cứu kịp!.... Thầy Tánh dẫn cả 2 lớp đi đưa đám ma. Thấy má nó lăn lộn khóc, Mai cũng thút thít khóc theo!....


Qua năm sau, lên lớp 5, Mai khỏi phải qua đò, vì chú hai Thuận (em chú bác của ba) mở 1 ngôi trường cách nhà Mai độ 200 thước.Kêu ngôi trường cho nó oai, chớ thật ra nó còn có phần tệ hơn "ngôi trường" năm ngoái, vì chỉ trần sì có một lớp! Trường được cất trên nền đất, xung quanh là vườn cam, quít, bưởi... Sát vách có cây mận hồng đào,trái đỏ tươi, thường xuyên thu hút "nhỡn quan" của đám học trò ham chơi hơn ham học. Chú Thuận vừa là thầy giáo, vừa là thầy thuốc. Đúng ra lúc còn trẻ, chú bị gia đình bắt ép phải khăn gói quả mướp ra tận xứ Huế tầm sư học đạo. Chú được thọ giáo với một danh sư đất thần kinh (lần nầy đúng là người.. Huế 100%). Tuy giỏi về nghề thuốc vô cùng, nhưng chú chỉ thích làm thầy giáo. Cuối cùng chú đành hanh song nghề, trong sự sung sướng của đám học trò. Trường cách nhà có 1 cái sân độ mươi thước. Mỗi lần có khách đến nhà xin khám bệnh, chú giao lớp cho thằng Nam, (vì nó nhiều tuổi và lớn con nhứt lớp), nhưng lại hiền khô, chẳng ma nào sợ, nên lần nào lớp học cũng ồn như cái chợ. Có đứa còn chạy qua đứng trước cửa nhà thầy, khoanh tay cúi đầu rất nghiêm chỉnh:

- Thưa thầy cho em đi... đái! 

Thầy đang tập trung hết tâm trí để bắt mạch cho bệnh nhân, nên phải gật đầu. 10 lần hết 9, nhóc ta chạy ù ra vườn, nhảy tót lên cây mận, hay cây trứng cá, hái đầy nhóc một túi... Chú Thuận trị học trò bằng roi mây. Nhưng hình phạt thần sầu nhứt của chú là nắm mớ tóc mai kéo lên. Kéo tới đâu là nạn nhân nhắm mắt, nhắm mũi cố rướn người theo tới đó. Chừng rướn hết nổi thì chỉ còn nước òa lên khóc !....


Đến giữa năm học, có một chuyện động trời xảy ra làm rúng động cả mái trường (may phước được lợp bằng lá)! bé nhỏ này. Hôm đó trời nắng thật đẹp, không khí trong suốt như pha lê, lại mát mẻ dịu dàng nhờ đám mưa tối hôm trước.Trong vườn chim chóc ríu rít chuyền cành. Trong lớp, đám học trò nhỏ đang để hết tâm trí vào bài toán đố. Chợt có tiếng chim véo von từ ngoài đưa vào. Tiếng hót rất lạ, không giống bất cứ tiếng chim nào hằng ngày Mai vẫn nghe. Mấy chục cặp mắt đồng loạt hướng về phía cây mận sát vách (vách bằng lá chằm, còn chừa phía trên độ hơn thước mới tới nóc). Lủng lẳng trên nhánh mận là 1 chiếc lồng chim, bên trong có 1 chú đang nhảy nhót lung tung, thỉnh thoảng ngừng lại vươn cổ lên hót một tràng. Chú chim rất đẹp, đẹp hơn tất cả những con mà Mai đã được thấy, với bộ lông màu xanh lá cây, chiếc mỏ màu vàng và hình như giữa hai mắt có 1 khoanh tròn màu trắng. Chú Thuận nhíu mày hỏi:

- Lồng chim của đứa nào?

Thằng Tín - con chú - đứng lên khoanh tay:

- Dạ của con.

Chú ngạc nhiên:

- Ủa, ở đâu mày có? Mà giống chim gì coi lạ quá vậy?

Thằng Tín hơi ngập ngừng:

- Dạ của chú Huế Kiên cho con. Chú nói con chim này tên Vành khuyên (nó phát âm Dành khuyên).

Chú Thuận nhíu mày như đang suy nghĩ một điều gì, rồi như chợt nhớ ra, chú cao giọng:

- Có lý nào chú Huế Kiên cho mày. Loại chim này đâu có ở đây mà chú bắt được?

Thằng Tín cặp mắt chớp lia, ấp a ấp úng:

- Dạ, con không biết.

Chú Thuận từ từ tiến tới trước mặt ông con, mặt đằng đằng sát khí:

- Có phải mày đã ăn cắp 5 đồng của má mày để mua con chim này không? Nói mau. Hôm kia má mày kêu mất 5 đồng.

Thằng Tín lắp bắp:

- Dạ không phải con.

Nói chưa dứt câu đã bị lãnh 2 cái tát nẩy lửa. Cu cậu hồn bất phụ thể đành khai thiệt:


Số là cách đây hơn tháng, chú Huế Kiên được ông Tám Sang mướn chèo ghe, chở lúa lên Saigòn bán cho mấy chành gạo. Trong lúc rảnh rỗi, chú theo mấy người bạn lái ghe đi thăm Saigòn, Chợ lớn cho biết. Tới khu chợ bán đủ loại chim, cá, chó, mèo... thấy có bán con chim Vành Khuyên, có lẽ chạnh lòng nhớ về xứ Bắc xa xôi, chú đứt ruột trích ra một món tiền, mua chú chim đem về, chắc mong hằng ngày ngắm nhìn cho đỡ nhớ quê xưa. Không ngờ gặp nhóc tì Tín là người đồng điệu. Tuy mới 8-9 tuổi đầu, nhưng cu cậu rất mê chim chóc. Nó đã từng nuôi 1 con sáo (từ lúc mới ra ràng), bỏ công hằng ngày bắt cào cào, châu chấu cho ăn. Sau đó còn lột lưỡi và dạy sáo ta nói được vài câu. Nhưng 1 hôm bất cẩn, anh chàng bỏ mạng dưới nanh vuốt của mấy con mèo hoang bên nhà bà Sáu Tân (sát hàng rào)! Cu Tín tiếc thương con sáo khóc hết mấy ngày. Từ hôm biết chú Huế Kiên có con chim lạ, vừa đẹp lại hót hay, hầu như ngày nào nó cũng ra nhà chú, ngoài lộ mới, để chơi với con chim. Cách đây 2 hôm, con Lanh, con chú Kiên bị trúng gió (?), trên thổ hạ tả, chú kẹt tiền mua thuốc cho con, nên muốn bán rẻ, vừa chim vừa lồng có năm đồng. Cu Tín mừng rơn, nhưng đào đâu ra tiền?

Suy nghĩ nát óc, sau cùng mê con chim quá, cu cậu đành nhắm mắt "mượn đại" tiền của bà via. Hy vọng bả không khám phá ra. (Ai bảo trai gái khi thương nhau mới mù quáng? Hỉ mũi chưa sạch như thằng Tín, khi mê chim cũng dám uống thuốc liều chớ bộ)! 


Sau khi tặng ông con 2 cái tát gần gẫy cổ, chú Thuận quay ra cho cái đám học trò, đang ngẩn tò te, một bài mô ran: Lợi dụng lúc nhà người ta đang "tang gia bối rối" để mua đồ rẻ như thằng Tín là gian ác! Thay vì ăn cắp tiền đi mua con chim, nó có thể xin chú thuốc đem cho con Lanh nhưng Mai có nghe gì đâu. Vì tuy sóng gió đang ầm ầm xảy ra trong lớp học, ngoài kia, chú Vành khuyên vẫn thản nhiên nhảy nhót và cất tiếng hót véo von. Sau khi tan học, chú Thuận dẫn thằng Tín, cầm lồng chim tới nhà chú Huế Kiên trả lại, 5 đồng cho luôn. Chú Kiên mừng lắm, cám ơn rối rít! Cũng từ đó, tiếng hót và chú chim màu xanh có cái tên Vành khuyên đã thấm sâu vào tâm hồn non nớt của cô nhỏ. 

Nhớ hoài.....


Rồi năm học sau, Mai không nhớ vì lý do gì (thuở đó, ăn, học, đánh chuyền, nhảy lò cò, tắm sông, cất nhà chòi... chiếm hết thì giờ và tâm trí của Mai, còn chỗ nào để nhớ đến chuyện khác?) chú Thuận dẹp ngôi trường nhỏ và chú Sáu Lân, cũng em họ của ba, tốt nghiệp trường "Xách Lu" (tức Ch***eloup Laubat, các bà dưới quê phát âm nôm na là Xách lu cho tiện!) trên Saigòn về, xin phép ty học chánh dưới Cao Lãnh mở một ngôi trường tiểu học (chỉ có 3 lớp).


Trường được cất trên nền cũ của ngôi nhà nền đúc xưa (bị tiêu thổ khang chiến phá từ lâu), vách ván bổ kho, mái tôn đàng hoàng. Tuy mái tôn nhưng không nóng, nhờ núp dưới bóng mát của 2 cây vú sữa tím cổ thụ. Ngoài Hiệu trưởng Lân còn có 2 cô giáo. Cô Bích độc thân, từ tỉnh khác đổi tới, nên cô phải mướn một căn phòng, ăn ở luôn tại nhà bà Sáu Tân. Cô xinh xắn,hiền, dạy lớp 5. Lớp tư do cô Liễu phụ trách. Cô Liễu có gia đình, năm đó đang mang bầu đứa con thứ nhì. Mỗi sáng cô phải đi 7 cây số, từ Cao Lãnh lên Tân An dạy. Học trò đứa nào cũng mê tơi mùi nước hoa từ người cô tỏa ra. Chú Lân dạy lớp 3. Chú đánh học trò còn dữ hơn chú Thuận. Chú không xài roi mây mà xài thước bảng! Làng Tân An nằm cạnh con sông Cửu Long, đất bồi nên cây trái sum suê. Nhiều nhất là xoài và dừa. Ít người làm ruộng. Trái lại xã Mỹ Ngãi nằm sâu trong đất liền, cách Tân An một cánh đồng khá rộng. Đa số làm nghề nông. Đến mùa gặt, cần nhiều nhân công, nên con cái họ đi học thất thường. Nhiều đứa trụ trì một lớp 2-3 năm là chuyện tự nhiên. Trong lớp Mai có 5 đứa bên Mỹ Ngãi qua học. Tội nghiệp, phải đi bộ 3-4 cây số mới tới trường, nên tụi nhỏ phải gói cơm đem theo ăn trưa tại lớp. Chiều, tan học lại phải băng qua cánh đồng rộng mênh mông mới về tới nhà. Còn sức đâu để học bài, nên đứa nào cũng học rất kém, nhứt là thằng Đức. Nó hơn Mai 2 tuổi, mà tháng nào cũng bị cầm cờ đứng chót. Mỗi khi bị thầy kêu đọc bài thuộc lòng là mặt mày nó xanh dờn. Có hôm làm toán sai be bét, bị chú Lân phạt 5 khe. Mỗi lần cây thước bảng quất cái trót xuống bàn tay đen đủi của thằngĐức là Mai lại giật thót người. Nó nghiến răng chịu trận không dám khóc, nhưng cặp môi xám ngoẹt!Có một lần chú oái oăm bắt Mai thi hành bản án, vì Mai được nhiều điểm nhứt lớp. Mai là người từ bi, chớ đâu có gian ác như chú Lân, nên chỉ khẻ nó 1 cái nhẹ hều. Chú giật cây thước, bắt Mai xoè bàn tay bé bỏng ra, rồi quất xuống 1 cái mạnh ơi là mạnh. Đau thấu trời xanh! Đâu có chịu tha, chú bắt Mai tiếp tục thi hành bản án. Lần này, con nhỏ lấy hết sức quật cho anh cu Đức 5 cái.


Hôm sau, Mai đem cho nó trái xoài thanh ca chín vàng lườm, thơm phức:

- Trò đừng giận tui nha.Tui đâu muốn đánh, tại thầy bắt.

Thằng Đức nhận trái xoài, ra vẻ cảm động:

- Tui hổng giận trò đâu. Cũng tại tui học dở thôi! Mà Mai à, trò làm cách nào mà học giỏi quá vậy? Tháng nào cũng đứng nhứt.

Con nhỏ nghệt mặt ra, rồi cười trừ, vì biết phải giải thích cách nào đây? 

Chú Lân còn độc thân lại đẹp trai. Cô Bích xinh xắn, dễ thương, thì chuyện gì đến tất phải đến. 2 người thương nhau. Nhưng Mai nghe mấy người lớn nói gia đình cô Bích không môn đăng hộ đối (Mai đem câu này hỏi con Hải, con chú Thuận, nó hơn Mai 1 tuổi, ai ngờ nó cũng mù tịt, không hiểu gì hết, nhưng ráng làm tài lanh, đóng vai Mao Tôn Cương:

- Chắc nhà cô Bích nghèo, không có nhiều đăng để bắt cá với gia đình mình, nên ông bà Tám Dư đang đi hỏi vợ cho chú Lân dưới Cao Lãnh. 

Cô Thu, con gái ông Hội đồng Tâm, nhà rất giàu. Một trưa chúa nhật, con Hải, thằng Lâm và Mai hẹn nhau đến nhà bà Sáu Tân. Nhà bà cất cách mặt đất độ nửa thước, dưới sàn tối om, có một đám mèo hoang trú ẩn. 3 đứa chui vô sàn để nhìn mấy chục cặp mắt sáng rực, di chuyển trong bóng tối của lũ mèo, đang chạy lung tung vì sợ. Không ngờ phía trên là phòng cô Bích. Tụi Mai nghe tiếng cô khóc nỉ non, rồi tiếng chú Lân dỗ dành:

- Em đừng lo. Anh nhứt định không cưới cô Thu đâu.

Anh thề chỉ thương mình em thôi...

Nghe đến đây 3 nhóc tì bấm nhau rút lui có trật tự, vì lỡ chú biết được, tưởng mấy đứa đi rình thì no đòn! Không ngờ nhỏ Hải miệng bép xép, bật mí cho thiếm Thuận nghe, bả lật đật chạy đến nhà bà Tám Dư "ráp bo" y chang. Cuối cùng, như tất cả những ông anh, bà chị đi trước, chú Lân cũng phải cưới cô Thu, áo mặc không qua khỏi đầu. Cô Bích thất tình, ốm nhom, ốm nhách. Nhưng vì yêu chú Lân cô vẫn ở lại trường Tân An. 2 người cứ lén lút qua lại với nhau, bị thiếm Lân đánh ghen mấy trận.Cô xấu hổ phải xin đổi đi tỉnh khác. (Chuyện này Mai không thấy tận mắt, chỉ nghe con Hải kể lại. Vì lên lớp nhì, Mai theo má và chị Lan qua bên làng Phong Mỹ, cách Tân An 7 cây số).


Trường tiểu học Phong Mỹ có 4 lớp: năm, tư, ba, nhị. Lớp Mai có tới 40 học sinh. Dạy lớp Mai là thầy Hiệu trưởng Lương. Vừa tốt nghiệp Sư phạm là bị đổi xuống cái làng quê xa lơ xa lắc này. Hôm thầy và bà mẹ từ Saigòn dọn xuống, hầu như cả chợ Phong Mỹ túa ra xem, vì lần đầu họ mới thấy một người Bắc chính cống! Bà cụ trạc 50 (thời đó dưới quê, 50 đã là lão lắm rồi!), tóc vấn khăn nhung đen, răng nhuộm đen, người tầm thước. Thầy Lương ốm, cao, trắng trẻo, đúng câu bạch diện thư sinh.Mẹ con thầy mướn căn nhà sát chợ, ngay trước cửa trường. Mọi người không giấu được sự kinh ngạc khi nghe thầy gọi mẹ bằng u. Sau này Mai nghe kể, bà cụ góa chồng sớm. Hai mẹ con dắt díu nhau vào Nam năm 54. Bà buôn tảo bán tần nuôi con ăn học cho khi thành tài. Một mẹ một con nên bà thương và săn sóc thầy một cách quá đáng. Đôi khi làm thầy mắc cỡ đỏ cả mặt, gắt lên:

- U, u, u đừng làm thế!

Má mướn nhà tại chợ cho chị Lan mở tiệm may và cũng là người duy nhứt đã từng sống trên Saigòn nên dễ thân với bà cụ. Có chuyện vui buồn gì cũng kể cho nhau nghe.

Như thường lệ, Mai là đứa nhỏ tuổi nhứt lớp. Bên con trai có anh Dương và anh Sang tới 17 tuổi. Bên gái có chị Lệ Hoa và chị Kim Sa cũng 17. Còn sàng sàng 13-14. Học trò làng Phong Mỹ có phần văn minh hơn bên Tân An, vì phần lớn ở tại chợ. Tuy vậy vẫn không bỏ được thói quen đi chân đất. Mấy ngày đầu còn mang guốc, sau Mai phải lén má bỏ guốc ở nhà. Như vậy mới có vẻ hòa hợp, hòa giải dân tộc!


Chỉ khổ mùa mưa, lũ trùn bò lổm ngổm. Mỗi bước đi phải nhìn trước nhìn sau. Cả tháng đầu nghe thầy giảng bài, lũ học trò ngẩn tò te, vì thầy nói tiếng Bắc. Những tiếng nhé, nhỉ, chưa có đứa nào đã được nghe qua trong đời! Nhưng từ từ cũng quen. Thầy rất hiền, tận tâm, vui vẻ và thỉnh thoảng lại vác cây guitar vô lớp gảy từng tưng cho lũ học trò nghe, nên ai cũng mến thầy.

Qua năm lớp nhì không có gì đáng ghi nhớ. Họa chăng thỉnh thoảng Mai thấy trong hộc bàn có 1 tấm tranh vẽ.

Khi thì vẽ 1 đóa hoa, lúc chỉ là 1 chiếc lá vàng. Tranh nhỏ thôi, nhưng rất đẹp. Không bao giờ có chữ ký, nhưng Mai biết tỏng là của thằng Bằng, vì trong lớp chỉ có nó vẽ đẹp nhứt. Đôi khi vô tình con nhỏ còn bắt gặp cu cậu nhìn lén mình nữa chớ. Những lần bị bắt quả tang, cu ta đỏ mặt lên như con gái!.... 

Thỉnh thoảng cuối tuần, Mai, Kim, Hằng với chị Lệ Hoa đạp xe vào chơi nhà Kim Sa, ở tuốt trong ngọn (con rạch Phong Mỹ, bắt đầu từ sông Cửu long, chạy sâu vào tuốt trong Đồng Tháp Mười. Chỗ giáp sông gọi là vàm, cuối rạch gọi là ngọn. Dân chúng cất nhà dọc hai bên bờ rạch và dùng xuồng nhỏ để di chuyển. Dân quê giặt quần áo, rửa thức ăn, tắm gội, uống nước cũng chỉ với con rạch này. Nên má kể có năm, bịnh đậu mùa hoành hành, dân chúng hai bên bờ chết như rạ).

Nhiều lần tụi Mai đụng đầu với thầy Lương ở nhà Kim Sa. Thầy có vẻ hơi lúng túng, nhưng cô nàng chẳng những rất tự nhiên mà có phần hơi... kênh kênh! Cũng từ đó Mai để ý thấy thầy Lương gọi cả lớp bằng trò, trừ Kim Sa thầy gọi bằng em ngọt sớt! Lũ nhóc cà nanh, nói hành nói tỏi, không ngờ tới tai thầy. Một hôm thầy la tụi Mai một trận giữa lớp. Tụi con trai được trớn, giờ ra chơi bu lại mắng thêm, nói bọn con gái nhiều chuyện. Thằng Luyện còn dám xỉ vô trán Mai nữa chớ! Cả đám tức mình khóc hu hu... Nghĩ lại tại bọn Mai thấp cổ bé miệng, chớ một lần đang chơi nhà nhỏ Kim, cách nhà thầy Lương có 1 căn (mẹ thầy về Saigòn thăm bà con). Chính mắt tụi Mai thấy Kim Sa vô nhà thầy. Mấy phút sau cả đám tới gõ cửa. Thầy ra mở, nhưng không đóng cửa lại mà mở toang, cho cánh cửa dựa sát vách. Tụi Mai làm bộ hỏi bài, nhưng cặp mắt đảo chung quanh. Không thấy bóng dáng "Mụ Dạ Xoa", (từ hôm bị thầy rầy "oan", tụi Mai tức mình bèn đặt biệt danh này cho Kim Sa để trả thù!), mấy nhóc đành chào thầy. Ra ngoài, nhỏ Hằng thì thầm:

- Tao nghe rõ ràng có tiếng thở phía sau cánh cửa.

Chắc chắn là Mụ Dạ Xoa núp ở đó. Tức quá chời!....

Thời gian trôi nhanh, Mai lên lớp nhứt. Thầy Lương càng ngày càng "lậm" và cuối cùng chuyện này cũng tới tai bà cụ. Mẹ thầy không thích Kim Sa, bà nói con bé có cặp mắt lẵng lơ quá (đó là lời cụ tâm sự với má Mai). Nhứt là bà đang ngắm nghé chị Bạch (chị thằng Đức học cùng lớp Mai).Chị đẹp dịu dàng, tánh tình thùy mị, đảm đang, cả chợ ai cũng mến. Bà nhờ má Mai đứng ra làm mối. Thầy Lương cũng bằng lòng. Hai bên định ngày làm đám hỏi. Thứ bảy, học trò chỉ học buổi sáng. Sau khi tan học, mẹ con thầy sẽ cùng với má của Mai đem lễ vật tới nhà chị Bạch. Bên nhà gái chuẩn bị tiệc tùng từ hôm trước. Không ngờ, học trò vào lớp được khoảng nửa giờ, bên Hội Đồng Xã cho người qua mời thầy Lương đến trụ sở có việc. Thầy tỉnh queo trong khi đám học trò ngơ ngác nhìn nhau. Thầy dặn không trò nào được rời khỏi lớp trong lúc thầy vắng mặt. Nhưng nhứt quỉ nhì ma thứ ba là học trò mà! Thầy vừa qua tới trụ sở Xã thì thằng Triết (lí lắc nhứt lớp), cũng đã nhảy qua cửa sổ, chạy theo núp phía sau để dọ thám. Độ 15 phút sau, nó hớt hải chạy về báo một tin động trời: Gia đình chị Kim Sa thưa thầy Lương về tội... dụ dỗ gái tơ và khủng khiếp hơn nữa là cô nàng đang mang bầu! Lúc đó bộ tam sên Kim - Mai - Hằng vênh mặt lên:

- Thấy chưa? Năm ngoái đứa nào nói tụi tao nhiều chyện?

Phía con trai nín khe... Ngồi trong lớp mà đứa nào cũng như ngồi trên đống lửa. Cuối cùng chịu hết nổi, cả đám rủ nhau qua trụ sở.Lúc đầu còn sợ sợ, núp núp, lén lén. Lát sau thấy hấp dẫn quá, quên cả sợ, đám học trò chen chúc nhau xem. Thầy Lương và bà mẹ đứng trước mặt Ban Hội Đồng (trong đó ngài phó Chủ Tịch là bác của "nạn nhân". Điệu này thầy thua là cái chắc)!

Kim Sa ngồi cúi gằm mặt, bên cạnh là bà dì. Gia đình họ bắt thầy Lương phải nhận cái bầu và làm đám cưới ngay. Mẹ thầy đâu chịu đầu hàng dễ dàng, bà nhất định không công nhận Kim Sa và đặt một câu hỏi to tướng về tác giả cái bầu nọ!?

Trước mặt đám học trò, thầy Lương mắc cỡ đỏ mặt tía tai, quên tuốt luốt công lao dưỡng dục của bà mẹ, lớn tiếng quát:

- U im đi. U biết gì mà nói!

Không ngờ ông quí tử có thể đối xử với mình một cách phủ phàng như vậy, bà cụ oà lên khóc, kể lể tùm lum. Những tiếng "ối giời ôi.." cụ vừa khóc vừa rên lên khiến mọi người cũng cảm thấy não lòng! Thầy Lương xin phép dẫn mẹ về rồi sẽ trở lại. Thầy lôi tay, cụ nhất định trì lại, sau cùng vì yếu sức hơn, bà đành theo con ra về. Hôm sau, những lễ vật thay vì được đem đến nhà chị Bạch, lại phải trực chỉ hướng nhà Kim Sa!

Sau này, tụi Mai mới biết chính thầy Lương "khả kính" có dự phần trong cái "âm mưu" đi kiện này. Thầy dư biết nói suông không đời nào bà cụ chịu cho thầy cưới Kim Sa, nên mới đồng ý dựng vở tuồng này. Tuy xấu hổ một chút, nhưng kết quả 100%! Chỉ tội nghiệp chị Bạch vỡ mộng làm bà Hiệu trưởng và gia đình chị bữa đó chờ đàng trai dài cả cổ cũng chẳng thấy đâu! Vậy mới biết khi đã vướng vào lưới tình thì sẵn sàng tung hê hết. Cả danh dự lẫn tình mẫu tử đều phải cuốn gói đi ra chỗ khác chơi! Bà cụ chỉ còn nước cắn răng khóc thầm.


Lên trung học Mai theo má lên Saigòn ở luôn, nên biệt tin cả đám bạn cũ. Nhưng từ khi bỏ nước ra đi, rất thường, trong mơ Mai thấy mình sống lại y hệt cái thời thơ ấu đó.

Cũng những mái trường làng rợp bóng cây xanh. Cũng giòng sông hiền hòa, mà hầu như ngày nào bọn Mai cũng nhảy xuống tắm, đến khi mặt mũi tái xanh vì lạnh mới chịu lên. Cây sung già thân thể sần sùi tại bến đó. Núp dưới bóng mát đó, chị Hạnh tươi cười mời những khách bộ hành qua lại mua những chùm mía ghim ngọt ngào, những chén bánh lọt chan nước dừa mát rượi và nhứt là tiếng hót của chú chim Vành khuyên màu xanh, mỏ vàng, nhảy tung tăng trong lồng, cặp mắt đen nhánh lúng liếng nhìn qua nhìn lại...


Sáng hôm sau dậy trễ, Mai ra bếp đã thấy Tiến đang ngồi nhâm nhi ly cà phê phin bốc khói thơm lừng, vừa đọc báo. Thấy vợ ra, Tiến buông tờ báo xuống hỏi:

- Làm gì mà đêm qua cứ lăn lộn hoài vậy nhỏ? 

Mai bưng ly cà phê của chồng uống một hớp:

- Nghe bài Trường Làng Tôi, em nhớ tới những mái trường xưa dưới quê lúc còn nhỏ. Nhớ muốn chết luôn!

Tiến giả bộ hốt hoảng:

- Ấy ấy, nhớ thì cứ nhớ nhưng đừng chết. Bỏ tui cu ky một mình tội lắm à nha!

Mai xì một tiếng:

- Người ta nói vậy thôi, chớ bộ ngu sao chết! Còn anh nữa, sao không bao giờ em thấy anh nói nhớ về miền Bắc?

Tiến lấy giọng bi thảm:

- Ối giời, bà xã yêu quí, bộ bà tưởng ông chồng bà có trái tim bằng sắt hay sao chứ? Nhiều khi tui nhớ da nhớ diết cái xứ Hưng Yên. Nhất là vào mùa hè, mỗi khi bà mua nhãn về ăn, là lòng tui đứt ra từng đoạn (?!) vì nhớ tới mấy cây nhãn ngon không thể tả trong vườn nhà bà ngoại ngày xưa...

Mai ngắt lời, dài giọng:

- Thơ mộng dữ hôn! Nhớ gì không nhớ, chỉ nhớ mấy cây nhãn!

Tiến cười hà hà:

- Cưng ơi, cổ nhân có phán rằng: có thực mới vực được đạo. Chà, nói đến đây anh lại cảm thấy đói bụng. Thôi đi hâm nồi bún riêu đi cưng.

Mai vừa mở tủ lạnh vừa nói:

- Thưa ông tướng có ngay. Trong khi chờ đợi, gọi dùm mấy nhóc tì dậy ăn luôn.

Tiến đứng lên cái rụp:

- Xin tuân lệnh bà nội tướng!

 

Tiểu Thu
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 23/Feb/2024 lúc 12:34pm

CON ĐƯỜNG NÀO EM ĐI của Trần Quang Thiệu, diễn đọc Cẩm Thu&Nam Phong <<<<<<

CON%20ĐƯỜNG%20NÀO%20EM%20ĐI%20của%20Trần%20Quang%20Thiệu,%20diễn%20đọc%20Cẩm%20Thu&Nam%20Phong%20-%20%20YouTube


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 23/Feb/2024 lúc 12:36pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 24/Feb/2024 lúc 12:52pm

Bóng hình năm cũ

vinhlong

... Hello darkness, my old friend

I've come to talk with you again

Because a vision softly creeping

Left its seeds while I was sleeping

And the vision that was planted in my brain

Still remains

Within the sound of silence

In restless dreamI walked alone... (1)

 

Tiếng hát khàn đục, nghẹn ngào của người ca sĩ da đen phát ra từ chiếc loa nhỏ, cũ kỷ tình cờ ở một góc đường thành phố New York. Họ là những ca sĩ đường phố, hát lang thang đây đó để bán những đĩa hát của mình. Đôi mắt nhắm nghiền, những vết nhăn nhún trên khuôn mặt đen sạm nắng bụi thời gian, tiếng hát chừng như đang dỗ dành, kể lể với thân phận của chính mình. Tiếng hát như níu chân trái tim của bạn lại. Tiếng hát như mời mọc tâm hồn bạn với khoảnh khắc một đời người. Vậy mà bao nhiêu người vẫn thản nhiên đi qua, dửng dưng như trong không gian chung quanh không hề có một âm vang vọng lại. Tiếng hát chấm dứt như một tiếng thở dài không dứt.Tôi đã nghe rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát bài nầy, nhưng đây là lần tôi xúc động vô cùng với giọng ca của người ca sĩ đường phố. Tiếng hát đẩy tôi thật xa, thật xa trong vùng tận cùng của ký ức, trong một khung trời của dĩ vãng ngỡ chôn sâu... 
    Khoảng hơn mười giờ, chuyến xe dừng lại bến phà Mỹ Thuận. Tôi ló đầu ra cửa, điệu này chắc phải cả tiếng đồng hồ mới qua được phà. Hai mươi tám Tết, không khí thật ồn ào, nhộn nhịp. Tiếng còi xe, tiếng rao hàng, tiếng mời gọi nức vang dọc theo dãy hàng quán bên đường. Trong cảnh rộn ràng của những ngày cận Tết, không khí chiến tranh cũng không lắng dịu chút nào. Những đoàn xe nhà binh che đậy bít bùng, từng đoàn đang chạy vội vã, vang dậy tiếng còi inh ỏi, thúc dục. Cảnh sát, lính địa phương từng tốp xuôi ngược theo dòng người dọc hai bên đường, mắt gườm gườm, quan sát sẵn sang cho mọi bất trắc. Gói mười ổ bánh mì Sài-gòn, được tôi treo cẩn thận trước khi quảy chiếc túi vải xuống xe. Đây là món không thể thiếu mỗi lần tôi về thăm nhà.Bánh mì ở đâu cũng có, vậy mà phải là bánh mì Sài Gòn mới được.Quà cho nhà, cho bà con chòm xóm. Mẹ tôi nói, bánh mì Sài Gòn ăn không cũng ngon. Tôi thì không thấy như vậy. Bánh mì Sài Gòn hay bánh mì Vĩnh Long, Cái Bè tôi ăn cũng thấy như nhau! Mẹ và bà con quê nội nói, chắc tại tôi ăn bánh mì Sài Gòn mấy năm nay nên quen miệng, không thấy khác. Chứ thật sự, bánh mì Sài Gòn rất đặc biệt, có mùi thơm và độ giòn rất là Sài Gòn, chỉ có bánh mì Sài Gòn mới có. Tôi tin mẹ và bà con quê nội nói đúng. Ly cà-phê và cái bánh tiêu hồi sáng sớm vẫn còn no bụng. Thôi thì đợi trưa tới Vĩnh Long ăn luôn trước khi xuống đò về nhà nội... Những chuyến xe về quê cuối năm người đông như nấm, đi bộ phải lách phải luồn mới không đụng vai chạm tay. Dưa hấu màu xanh thẳm, bóng lưỡng chất đống dọc hai bên đường.Rồi thì mứt, đủ loại đủ màu, bày cùng khắp trong bọc, trong những hộp bao giấy kiếng thật đẹp và bắt mắt. Tiếng mời mọc, nỳ nèo giá cả, tiếng cười nói rộn ràng một không khí Tết gần kề. Đó là chưa kể mùi hủ tiếu, cháo lòng, mùi thịt nướng thơm lừng... quyện kín cả vùng. Tôi thương vô cùng không khí cuộc sống hai bên bờ phà Mỹ Thuận, bận về cũng như bận đi. Có cái gì đó bịn rịn quê nhà khi sang phà, trước khi vào Sài Gòn. Có cái gì rộn ràng cho nửa đoạn đường gần quê nhà hơn, khi bước chân lên chuyến phà qua bên kia bờ chờ đợi. Tôi sẽ thấy hình dáng của mẹ gần hơn.
    Tiếng còi xe vang dậy, kềm theo từng đoàn người tất bật ngược dòng. Chắc phà vừa cập bến. Tôi thấy hơi khát, định ghé vào mua một bọc nước mía cầm theo. Chợt đâu văng vẳng trong tiếng ồn ào, náo nhiệt của bến phà vang lên tiếng đàn với nhịp điệu quen tai. Tôi khựng người, lắng nghe. Tiếng đàn gần, gần dần và quyện trong tiếng hát giọng nữ ngọt buồn:
 
“... Mưa ơi! Mưa ơi!
Mưa gieo sầu nhân thế
Mưa nhớ ai,
biết người thương có còn nhớ hay quên
Riêng ta vẫn u hoài
Đêm đêm tiếp đêm nhớ mong người
Đã cách xa...”  (2)
 
Người con gái dáng gầy gò, chiếc áo màu xanh đậm bạc màu, một tay cầm chiếc nón lá rách vành, tay kia cầm chiếc gậy theo sau là người đàn ông ôm đàn thùng, đeo kiếng sậm đen. Tiếng hát ngân dài dịu vợi, bơ vơ  trong tiếng ồn ào, nhộn nhịp bao cuộc đời xuôi ngược chung quanh. Vài người khách bộ hành dừng lại nhìn cô gái, rồi bỏ vội vào chiếc nón lá rách vành những tờ giấy bạc vô tình. Âm vang cuối cùng của bài hát đã dứt, khoảng lặng yên như xô đẩy dòng người dòng đời náo nhiệt hơn lên. Tiếng từng phím đàn lại rão lên một bài hát khác. Người con gái ngẩn mặt lên, dưới mái tóc bồng bềnh biếng chảy là đôi mắt, đôi mắt u hoài như chẳng nhìn ai, sao xé thịt da người. Đôi môi tuổi xuân thì, cũng phơn phớt hồng cất giọng, bất chấp gian truân hằn sâu trên khóe mắt: 
 
“Mưa rừng ơi, mưa rừng!
Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên
Phải chăng mưa buồn vì tình đời
Mưa sầu vì lòng người
Duyên kiếp không lâu...”  (3)
 
Tiếng hát thơ ngây sao vọng nỗi u hoài trong không gian rộn rã vây quanh. Tiếng hát như bóp chặc mỗi nhịp đập tim tôi, giữa mùa gió trở. Tiếng còi xe bất chợt kéo tôi về thực tại. Chuyến xe tôi đang chuyển bánh về phía bến phà. Tôi móc vội những tờ giấy bạc trong túi, những tờ giấy bạc dành dụm suốt năm dạy kèm trong đáy xách vải. Đi nhanh về phía tiếng hát, tôi bỏ tất cả nắm giấy bạc và cả tấm lòng mình vào chiếc nón lá rách vành. Tiếng hát bất thần im bặt giữa nhịp đàn. Dưới đôi chân mày đen rậm, ánh mắt ngưởi con gái thoáng kinh ngạc, chút bừng vui.  Tôi quay đi nhanh, chạy theo chuyến xe hướng về phía trước. Trong bước chân vội như trốn, tôi chợt ngoái đầu lại tự dưng, để bắt gặp lại đôi mắt thoáng hiện nụ cười cuối khóe nhẹ tênh... Chuyến phà rời bến, thổi hơi nước trong khứu giác tôi rộng mở. Tôi muốn la to lên niềm hạnh phúc vỡ bờ. Tôi cũng quên mất, trong người tôi trống rỗng, không còn gì cả. Không tiền để ăn trưa, không tiền cho chuyến đò về nhà nội. Mà cần gì, trong tôi đang căng đầy hạnh phúc; căng đầy mọi nỗi niềm, đầy ấp ánh mắt, bóng hình của người con gái hát dạo ở lại bên kia bến phà Mỹ Thuận.   
 
***
 
Rất nhiều năm, nhiều năm sau nầy, trên chuyến xe về thăm lại quê nhà, tôi nói với người lái xe dừng lại dưới chân cầu Mỹ Thuận. Thời gian không ngừng lại chờ ai. Cuộc sống không ngừng trôi trong mọi kiếp người hữu hạn. Tóc tôi đã bạc màu năm tháng. Đất nước, quê hương tôi vẫn đang thay đổi "chóng mặt" từng ngày. Trước mắt tôi là hiện tại. Những gì tôi nhớ, tôi muốn tìm là quá khứ, là những vùng ký ức chìm sâu. Dọc hai bên đường là những công trình đang xây cất, là những tấm bảng quảng cáo đầy màu sắc của hôm nay. Thỉnh thoảng có vài tán dù bày bán những chai nước uống, bánh trái lẻ loi. Chân cầu Mỹ Thuận đã hiện ra phía trước. Chiếc xe chậm lại, người tài xế trẻ quay qua tôi:
    – Đây là điểm gần nhất em có thể dừng xe cho chú.
    Đó là một trạm xăng Petrolimex. Bên hông trạm xăng, phía ngoài là một quán ăn nhỏ. Chiếc xe dừng và tắt máy trước cửa quán. Tất cả lục đục xuống xe, bà xã tôi nói:
    – Mọi người vào quán uống nước, để ông ấy đi chụp vài bức ảnh.
    Quá quen tính bốc đồng, cũng như những cảm xúc riêng tư, bà xã rất tôn trọng giây phút “một mình” của tôi. Đi dọc theo lối cỏ ven đường, tôi đã nhìn thấy những sợi cáp treo của cầu Mỹ Thuận. Đã thấy xa xa mặt nước sông Tiền nâu sậm và mùi hơi nước thoảng trong gió lùa. Cảnh vật không còn chút gì để nhận ra, nhưng bầu trời vẫn xanh với từng cụm mây trắng lơ lững như ngày nào. Và hương vị, cái hương vị của quê tôi cũng không hề thay đổi. Mùi hanh hanh của nắng, mùi ngây ngây của hương đồng cỏ nội, mùi hơi nước nồng tênh phả vào từ phía ven sông. Mùi vị mà không bất cứ vùng đất nước nào tôi đã sống, đã đi qua có được. Mùi vị của quê hương tôi! Mỗi bước chân tôi như đang đi ngược về quá khứ. Ánh mắt tôi như chợt nhạt nhòa những hình bóng của ngày xưa. Những chuyến phà ngang, những dòng đời xuôi ngược và... một ánh mắt. Ánh mắt của tiếng hát một đời tôi cứ hệ lụy, cưu mang. Họ là ai? Người con gái hát dạo ngày đó là ai? Tên gì? Hay cũng chỉ là một cái tên trên đường đời muôn vạn nẽo. Về đâu, hởi người con gái một lần tôi gặp giữa trời miên viễn? Họ còn hay mất, có ai nghĩ đến, đoái hoài? Người con gái ngày nào có còn nhớ đến tấm lòng, tôi đã bỏ lại trong chiếc nón lá rách vành một chuyến qua sông? Buổi chiều rơi nhè nhẹ, như vẳng lại đâu đây tiếng hát mơ hồ, hư thực.Tiếng hát của ai? Tiếng hát tôi tâm tưởng hay tiếng người con gái hát dạo ngày xưa của bến phà Mỹ Thuận: 

 

“... Mưa rừng ơi! Mưa rừng

Tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa

Mỗi khi mưa rừng về muộn màng

Bóng chiều về dần tàn

Lòng thương nhớ nào nguôi...”  (3)

 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

(1)  The Sound of Silence – Paul Simon

(2)  Lạnh Trọn Đêm Mưa – Huỳnh Anh

(3)  Mưa Rừng – Huỳnh Anh


Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 27/Feb/2024 lúc 9:58am

Cội Nguồn Tìm Thấy 

1.

Con nhỏ Marie là một đứa dễ ghét. Nó vẫn âm thầm hậm hực ghen tức với tôi. Mà làm sao nó ghen cho được. Cái gì tôi cũng bỏ nó xa lắc xa lơ. Ở trong lớp sức học của tôi như một trái bóng bay nõn nà vươn lên tít tắp tận trên cao trong khi nó lẹt đẹt như một trái bóng xì hơi luẩn quẩn là đà trên mặt đất. Mặt mũi tôi nhẹ nhàng khoảng khoát bao nhiêu thì mặt nó dày dặn nặng nề bấy nhiêu. Ấy là chưa kể tới mái tóc nhạt nhòa như những sợi râu bắp và cặp lông mày lông mi như nằm lẫn lộn chìm lỉm trong nước da đầy tàn nhang. Đứng xa xa một chút người ta không thể nhìn thấy tóc của nó nên cái mặt trông giống như một hình nhân trong tiệm bán mũ mà người ta quên đội cho cái mũ trên đầu. Như vậy mà nó lại cứ õng ẹo với thằng François, cái thằng bảnh trai và học giỏi nhất lớp mới lạ chứ. Đôi mắt của thằng François sáng như hai cái đèn pha thì làm sao mà nó có thể nhìn người lộn được. Nó cứ lờ tịt đi chẳng thèm đoái hoài tới con Marie. Con Marie càng cay thì lại càng sỗ sàng hơn khiến thằng François sợ né tránh nó như tránh tà ma yêu quái. Chuyện của chúng nó thì thây kệ chúng nó tôi chẳng để ý làm chi. Ngặt một cái là thằng François lại cứ theo sát tôi như hình với bóng. Tội nghiệp cho thằng François. Nhè tôi mà tính chuyện lăng nhăng thì quả là... trật địa chỉ! Tôi ít khi chịu mất thời giờ vì những chuyện lẩm cẩm đó. Mấy cái boom đời nào có mặt tôi. Mấy cái disco thì lại càng không có bóng dáng... nàng. Họa chăng vài cái party sinh nhật của mấy con bạn thân thì tôi còn đến. Sao tôi thấy không hợp được với cái lối sống ào ào mê mải của lũ bạn. Chúng nó như một đám thủy triều dồn dập nhảy nhót huyên thuyên chẳng cần biết tới cái tan nát vỡ vụn khi va người vào những tường đá đầy dãy nơi bờ biển. Những ý nghĩ trật chìa đại loại như vậy đã mang đến cho tôi cái danh hiệu “bà già”. Tôi mỉm cười tự tin khi được gọi bằng cái hỗn danh không mấy mỹ miều đó. Bà già nào mà có được cái bản mặt hồn nhiên thanh thoát, cái dáng vẻ trẻ trung nhanh nhẹn như tôi. Thằng François đã chẳng lăng xăng xoay quanh cái bà già dễ thương này đó sao?


Chính vì thằng François mà con nhỏ Marie đối với tôi như chó với mèo. Nó tìm đủ cách để hạ tôi. Mặc kệ, tôi đâu có ngán. Tôi đâu có tranh hơn thua với nó làm gì. Nhưng tôi không thể làm ngơ được khi nó rủ một lũ bạn của nó đồng thanh gào thét vang sân trường: “Lêu lêu con Chinoise!” Tôi lịm người đi. Nơi vùng quê cách xa Québec cả trăm cây số này người ta không chấp nhận một giống người nào khác giống dân bản xứ. Ngay mấy người gốc Anh mặt mày chẳng có gì khác dân ở đây mà cũng bị dè bỉu xa lánh. Nói gì tới người Trung Hoa xa lắc xa lơ. Mặt tôi bừng đỏ trước sự sỉ nhục bất ngờ này. Cơn giận cuồn cuộn ập vào đầu tôi rồi lan ra khắp người như một ngọn sóng thần hung hãn. Những cái miệng la hét đang ngoạc ra như múa trước mặt tôi. Tôi thấy xót xa trong mắt, gờn gợn nơi cổ, tê dại tay chân. Người tôi hụt hẫng như đang bị ném xuống một bờ vực thăm thẳm tối đen. Cơn bực bội kéo vài giọt nước mắt lăn xuống má tôi. Tôi giơ tay quệt nỗi căm hờn hiển hiện, bất ngờ tạt mấy lọn tóc qua mắt. Tôi sững sờ thoáng thấy ánh đen nhạt của tóc tôi. Chẳng có lẽ nào con Marie nói đúng. Những sợi tóc của tôi đen hơn, cứng hơn tóc của tụi bạn. Tôi vội chạy ra khỏi sân trường về thẳng nhà.


Mẹ tôi đi làm chưa về. Tôi mang nỗi bực dọc vào phòng tắm. Nước giúp tôi lấy lại được bình tĩnh. Tôi lặng ngắm tôi trong chiếc gương lớn. Người tôi thon thả, ngực tôi vừa phải, đùi tôi săn cứng, nước da tôi không được trắng lắm lại thiếu mịn màng. Tôi giơ tay vuốt mặt. Mũi tôi không được cao, mắt, tóc, lông mi, lông mày hơi đen, mi mắt rõ ràng nhưng hơi hum húp vun cao. Lần đầu tiên tôi nhìn kỹ tôi và thấy xa lạ với chính mình. Cái con nhỏ đứng trần truồng trong gương có phải là con Sylvie vẫn ngày ngày cắp sách tới trường học hành, đùa rỡn rong chơi với lũ bạn không? Tôi ngây dại trong ý nghĩ mình như tách rời ra khỏi khung cảnh thân quen chung quanh. Như một viên sỏi nằm cô độc bên đường cam chịu nỗi ngậm ngùi lạc lõng. Tôi rùng mình nổi gai khắp người. Những lỗ chân lông như chui từ trong thịt ra xô giạt làn da làm nước da tôi như đậm màu thêm. Tôi cảm thấy cô đơn đến hoảng hốt cả người.


Chưa bao giờ tiếng mở cửa của mẹ tôi lại khiến tôi thấy dễ chịu như vậy. Tôi quấn vội chiếc khăn tắm chạy ra đón mẹ. Nụ hôn của mẹ xoa ấm cõi lòng tôi. Tôi ngước nhìn khuôn mặt mẹ. Tôi ngơ ngác khi chợt thấy mình không giống mẹ. Màu mắt, màu tóc tôi đâu có như vậy. Mẹ tôi thoắt trở nên xa lạ. Bà như thuộc về cái tập thể vừa chối từ tôi. Những giọt lệ trên mắt tôi đẩy mẹ tôi vào một cõi nhạt nhòa chập choạng mù khơi. Tôi thổn thức cho sự lẻ loi cô quạnh của tôi. Chẳng còn một chỗ nào cho tôi trên cõi đời này. Mẹ tôi sửng sốt ôm chặt lấy tôi, lay lay đôi vai rung động của tôi cuống quít hỏi:

- Con làm sao vậy?

Câu hỏi của mẹ làm nước mắt tôi rào rạt thêm. Người tôi run lên như một con mèo tội nghiệp. Nỗi tủi hờn khóa chặt miệng mồm tôi khiến tôi chẳng thể thốt nên lời. Mẹ tôi ôm chặt tôi vào lòng dỗ dành:

- Con có chuyện gì cứ nói cho mẹ hay. Con gái lớn rồi mà còn khóc như con nít vậy. Bình tĩnh lại đi con. Giấy đây, con hãy lau mắt đi này. Hay là để mẹ lau cho con nghe? Con tôi hư quá. Cao bằng mẹ rồi mà còn làm nũng.

Tôi lịm đi trong tiếng vỗ về của mẹ. Tâm hồn tôi như dịu lại. Tôi muốn được thu nhỏ hình hài trở về những ngày ấu thơ được mẹ ấp ủ bao bọc. Những giọt nước mắt của tôi nhòe nhoẹt trong bàn tay của mẹ. Mẹ ghì riết người tôi như muốn truyền qua tất cả tình thương yêu đang dạt dào trong lòng. Phải khó khăn lắm tôi mới nói được bằng một giọng sũng ướt:

- Tụi nó bảo con là Chinoise!

Đôi tay mẹ tôi khẽ rung lên xúc động. Bà bóp chặt hai má tôi nâng mặt tôi lên nhìn thẳng vào mặt bà và nói:

- Con là con của mẹ mà! Để ý làm gì đến những điều lũ bạn con nói.

Cặp mắt xanh trong của mẹ thoáng vẻ bối rối. Có điều gì bất thường nằm trong đó mà mẹ muốn giấu tôi. Tôi lắp bắp trong nỗi lo sợ đang dấy lên trong lòng:

- Nhưng... con không giống mẹ!

Vòng tay mẹ xiết lại quanh tôi như muốn chứng tỏ tôi là một phần của mẹ, cái phần dấu yêu chẳng bao giờ rời xa mẹ lấy một ngày. Mẹ khẽ thì thầm vào tai tôi, giọng mẹ nhẹ nhàng quấn quít, môi mẹ mấp máy chạm trên vành tai tôi:

- Ít nhất con cũng giống mẹ một nửa chứ.

Tôi sửng sốt bắt lấy khuôn mặt bất động của mẹ. Mẹ đang thả hồn vào một cõi xa xôi nào đó. Tôi chợt thấy xa cách mẹ quá đỗi. Giọng tôi như níu kéo:

- Con muốn hoàn toàn giống mẹ, hoàn toàn là con của mẹ!

Mẹ như không nghe thấy câu nói tội nghiệp của tôi. Vẫn với cái giọng vô hồn lạnh tanh, bà hỏi tôi:

- Con có biết cha con là ai không?

Tôi trả lời không chút ngập ngừng:

- Thì ba Vincent chứ ai.

Mẹ tôi khẽ lắc đầu:

- Con chẳng có liên hệ gì tới cái ông Vincent đó cả. Cha con là một người Việt Nam tên Phan.


Như có ai tung tôi lên lơ lửng giữa trời làm tôi chới với từng cơn. Ruột gan tôi rối bời thảng thốt. Điều tiết lộ bất ngờ của mẹ như một tảng đá đè nặng lên tôi làm tôi ngộp thở khó chịu. Đầu óc tôi quay cuồng đến chóng mặt. Tôi ôm mặt khóc rưng rức. Con nhỏ Marie nói đúng. Tôi không thuộc về nơi chốn mà tôi đang sống. Tôi là một kẻ đứng bên lề bị mọi người ruồng bỏ lánh xa. Chắc tôi chết trong nỗi cô đơn quạnh quẽ. Làm sao tôi có thể chịu được sự lẻ loi hiu hắt này. Cha tôi không phải là ông Vincent đã sống với mẹ tôi ngày tôi còn nhỏ mà là một người lạ hoắc ở một phương trời xa xăm nào đó. Đời tôi sao lại rắc rối khổ sở thế này.

Tay mẹ tìm tay tôi khẽ bóp nhẹ trìu mến. Mẹ chờ cho cơn xúc động của tôi dịu bớt mới khoan thai bảo tôi:

- Mẹ vẫn có ý định một ngày nào đó khi con lớn khôn mẹ sẽ kể cho con nghe cuộc tình ngang trái của mẹ mà con là một chứng tích dấu yêu suốt đời nhắc nhở mẹ tới những ngày yêu đương hoang dại đó. Mẹ gặp ba con khi cả hai cùng đang theo học Đại học ở Montréal. Sau một thời gian quen biết, mẹ và ba con sống chung trong một căn phòng nhỏ tại một khu bình dân gần trường. Ba con là một người thông minh, tốt bụng, hiền hòa và yêu mẹ hết mực. 2 năm sống với ba con là thời gian sung sướng nhất đời mẹ. Ba con qua đây học bằng học bổng của chính phủ Việt Nam nên khi tốt nghiệp bắt buộc phải trở về nước. Tuy nhiên nếu lúc đó ba chính thức cưới mẹ thì ba sẽ được Sở Di Trú Canada cho phép ở lại. Thời gian trước khi ba con tốt nghiệp là thời gian khó nghĩ cho cả ba lẫn mẹ. Ba con là người có trách nhiệm nên muốn trở về sau khi đã được hưởng đặc ân của đất nước. Hơn nữa ba con còn mang nhiều hoài bão muốn thực hiện nơi quê hương của ba con, một nơi mà ba con bảo là còn chậm tiến, nghèo khổ cần đến những người có chuyên môn như ba con. Ba con bảo mẹ sinh ra ở đây lớn lên giữa một xã hội dân chủ, giàu mạnh, mẹ không thể hiểu được là những gì mà ở đây coi như một điều dĩ nhiên thì nơi quê hương của ba người ta phải tranh đấu tới đổ máu cũng chưa có được. Mẹ hiểu tình yêu của ba con đối với mẹ nhưng mẹ cũng hiểu con người ba, ba chẳng bao giờ có thể là một kẻ trốn tránh. Mẹ có nghĩ tới chuyện theo ba con về Việt Nam nhưng ba con bảo mẹ chưa sẵn sàng để có thể nhập vào cuộc sống khác biệt ở bên đó. Cuối cùng ba mẹ cứ tạm đồng ý chia tay rồi sẽ tính sau. Lúc đó mẹ chưa biết là mẹ mang thai con. Mẹ cũng không báo cho ba con biết trong những thư mẹ gửi sau đó vì mẹ nghĩ rằng chỉ thêm khó nghĩ cho ba con, chờ tới lúc thuận tiện sau này cũng chưa muộn. Thời gian mang thai con là thời gian mẹ sống trong một tâm trạng hết sức cam go nửa như kiêu hãnh với sự hy sinh của mình nửa như hờn tủi với nỗi cô đơn đang gánh chịu. Khi sanh con ra mẹ khóc vùi tới mấy ngày trong lẻ loi cô quạnh. Tâm hồn mẹ nhiều khi yếu đuối khiến mẹ cảm thấy như hụt hơi giữa những ngọn sóng trùng trùng điệp điệp của biển cả mênh mông. Giữa lúc đó quê hương của ba con rơi vào tay Cộng sản. Tới bây giờ mẹ cũng không hiểu lúc đó mẹ đã thực sự xúc động như thế nào. Mẹ ngơ ngẩn như đã đánh mất hồn mình. Chẳng còn một cánh cửa nào mở ra cho niềm hy vọng của mẹ. Mẹ lịm đi trong nỗi tê tái héo úa. Sau đó mẹ gặp và lấy ông Vincent như muốn tìm một bấu víu vào cuộc đời. Nhưng mẹ đã lầm. Cái bóng của ba con đã bao trùm nhốt kín cõi lòng mẹ. Mẹ còn gì đâu để chia sẻ với ông ta. Đành phải chia tay. Mẹ cảm thấy quá mềm yếu nên đã gửi một lá thư qua địa chỉ cũ của ba con. Mẹ kể lể dài dòng về cuộc sống của mẹ và nhất là về con. Ngày qua ngày mẹ trông mong thư hồi âm nhưng lá thư chờ đợi hình như chẳng bao giờ tới. Mãi về sau mẹ mới nhận được thư của một người lạ. Ông ta tự giới thiệu là bạn thân của ba con và cho biết là ba con đã bị Cộng sản bắt và giam cầm qua nhiều trại tù. Chính ông ta là người đã nhận được thư của mẹ và thông báo cho ba con. Sau đó ba con đã vượt ngục và trốn khỏi Việt Nam. Chuyến đi không được may mắn và ba con đã mất tích ngoài biển khơi. Mẹ cứ nghĩ rằng hình ảnh cuối cùng mà ba con mang theo phải là hình ảnh của mẹ con mình. Mẹ thấy....


Mẹ bỏ lửng câu nói bằng những tiếng nghẹn ngào vỡ vụn càng lúc càng nhỏ dần. Mắt mẹ đầm đìa nước mắt. Những giọt nước mắt của tôi cũng bương bả chảy xuống nhòe nhoẹt đôi má. Tôi lặng người nghĩ tới người cha chưa hề gặp mặt. Sợi dây tình cảm đang đan kết trong hồn tôi mang tôi lại gần ông, buộc chặt tôi vào những ý nghĩ dịu dàng về ông. Tôi nhìn bàn tay tôi và như thấy rõ giòng máu của ông đang dào dạt trong tôi. Tôi cảm thấy tay tôi nóng ấm.

Mẹ đi về phòng để tôi ngồi bất động như một pho tượng buồn phiền. Một lát sau mẹ trở ra đưa cho tôi một tấm hình nhỏ. Người đàn ông trong hình nhìn tôi sao mà trìu mến. Tôi thấy loáng thoáng đây đó những mảnh vụn của khuôn mặt tôi trong hình. Người tôi xôn xao như những miếng đất được lưỡi cày dựng đứng dạy tở mở reo vui. Tôi đã bắt được nguồn gốc của tôi nơi con nguời đã cho tôi sự sống. Động lực nào tiềm ẩn trong con người tôi đã xô đẩy tôi về bến bờ quê nội đằm thắm thân thương.

Tất cả những gì liên quan đến cái xứ sở xa xôi đó đã được tôi chú ý đến: một mẩu tin trên báo, một chương trình truyền hình, một vài dòng chữ rải rác trong các sách sử địa, một vài tấm hình trên các tạp chí..Tôi rối rít đón nhận chúng như đón nhận những người thân quen.


Dần dà tôi đã biết Việt Nam nằm ở chỗ nào trên quả địa cầu và tôi đã rung động với phong cảnh, con người trong hình, đã hiểu tại sao có những người bị cầm tù, tại sao người ta đổ ra biển ào ạt trên những con tàu mong manh bất an, tại sao người ta bỏ mạng sống trên biển như ba tôi... Tôi xót xa như chính tôi bị ném vào những bất hạnh khốn cùng đó. Tôi thấy những người da đen cũng xót xa cho phần số lưu lạc của họ. Họ sờ soạng dắt díu nhau tìm về nguồn. Những chiếc áo thun có chữ Roots trên lưng trên ngực như một nhắc nhở ngày đêm về cái nguồn gốc dào dạt thương yêu của họ. Tôi cũng như họ nhưng tôi cô đơn hơn họ. Tôi lẻ loi trên đường tìm về nguồn của mình. Tôi cũng mặc chiếc áo thun có chữ Roots trên ngực, chữ Roots đỏ chói chang như tấm lòng tôi nhiệt thành trở về với máu mủ của ba tôi. Tôi nghĩ rằng những người chết tức tưởi như ba tôi thường lẩn khuất trở về bên cạnh người thân yêu. Tôi tin tôi là giọt máu vất vưởng mà ba tôi muốn vỗ về âu yếm. Tôi xin mẹ tấm hình ba tôi và đặt trên mặt tủ cao trong phòng tôi. Tôi hỏi mẹ và biết rằng ba tôi rất thích hoa hồng, thứ hồng nhung đỏ sậm đặc quánh nồng nhiệt. Tôi chăm sóc chẳng bao giờ để cho bông hồng kịp héo bên tấm hình ba tôi.

Những gì xảy ra trong đời tôi sau này hình như có bàn tay dẫn dắt của người cha mà tôi cảm thấy như thể đã từng thực sự sống bên tôi.


2.

Cả một cái gym lớn như một chiếc tàu biển được dùng làm nơi ghi danh. Chỉ nguyên nhìn thấy người đi qua kẻ đi lại cũng đủ mệt con mắt, chóng cả mặt. Người nào người nấy cố nói thật nhỏ cho khỏi ồn ào mà căn phòng quá khổ này lúc nào cũng có tiếng rầm rì như cả một bầy ong vò vẽ tụ họp về làm tổ. Đồng hồ đã chỉ 3 giờ mà hàng người xếp hàng trước bàn tôi vẫn còn dài ngoẵng. Tôi liếc nhìn qua các bàn khác. Cũng chẳng kém. Mỗi chiếc bàn giống như đầu một con trăn kéo theo cái thân mình uốn khúc rồng rắn là hàng người nối đuôi nhau đứng chờ. Tụi bạn tôi ở các bàn khác giơ tay vẫy chào. Tôi vẫy trở lại miệng cố nở ra một nụ cười héo hon. Chúng tôi đang học năm chót và được nhà trường mướn với giá rẻ mạt ngồi ghi danh cho các cô các cậu mới bước chân vào Đại Học. Lương tiền không được bao nhiêu nhưng được cái vui nhìn ngắm, trò chuyện với các em bé tươi rói tấp nập tới ngồi trước bàn. Ông anh tôi du học bên này từ năm nảo năm nào là người cẩn thận số một. Tối qua ngồi ăn cơm với cả nhà ông cứ dặn đi dặn lại tôi là đầm chỉ để nhìn thôi chứ đừng có lạng quạng mà thân bại danh liệt đấy. Tụi bây phải nhớ nằm lòng “danh ngôn” của cô nàng Yvette làm trong phòng tao như thế này: chuyện vợ chồng cũng giống như coi ti vi, chán đài này thì đổi qua đài khác giản dị như bấm nhẹ vào cái télécommande là xong.

Tôi sắp xếp tập hồ sơ vừa làm xong, gọi người kế tiếp mà chẳng thèm ngẩng mặt lên. Cái bóng người trước mặt tôi khoan thai khép nép ngồi xuống ghế như một cơn gió thoảng. Tôi nhìn lên và bắt gặp một nụ cười hiền dịu cùng đôi bàn tay trịnh trọng đưa tập hồ sơ cho tôi. Em đầm này lễ nghĩa gớm! Tôi kiểm soát các giòng chữ điền trong hồ sơ, xét các giấy tờ đính kèm thấy đâu đấy đều gọn gàng ngăn nắp chẳng sai trật một ly nào cả. Đầm mà “công dung ngôn hạnh” dữ à! Tôi vừa định phán chữ parfait để kêu người khác thì cô bé lên tiếng hỏi:

- Anh là người Việt Nam phải không?

Tôi gật đầu cười cười. Con rồng cháu tiên ở cái trường này học hành thường ăn trên ngồi trốc thiên hạ nên cái gật đầu của tôi hơi dũng mãnh kéo theo cái mặt hơi vênh lên một chút. Cô bé cúi mặt nói nhỏ nhẹ:

- Em cũng là người Việt Nam!

Tôi ngạc nhiên nhìn kỹ con người trước mặt tôi. Phải tinh ý lắm mới nhận thấy nét Việt Nam ẩn hiện trên khuôn mặt nặng vẻ tây phương. Anh tây nào “sản xuất” ra em chắc phải có cái gène mạnh lắm mới vẽ ra được cái mặt đậm nét đầm như vậy. Tôi nói bằng tiếng Việt:

- Vậy hả? Cô có nói rành tiếng Việt không?

Cô bé ngồi ngớ ra một giây rồi vội vàng nói:

- Em không hiểu!

Cái miệng cười thật xinh. Đôi môi nằm dài ra thoải mái phơi bày hai hàm răng thẳng tắp đều đặn như những hạt bắp thơm tho. Không nói được tiếng Việt cũng chẳng là chuyện lạ. Nhiều đứa em của bạn tôi cả cha lẫn mẹ giòng giống Lạc Hồng trăm phần trăm hẳn hoi mà cũng có nói được câu tiếng Việt nào đâu. Huống chi cô em lại chỉ Việt Nam có 50 phần trăm. Không, mặt mũi nặng phần đầm hơn, phải tính còn lại có 30 phần trăm thôi. Tôi vội cho điểm nhan sắc trong đầu. 8 trên 10. Thuộc loại khá. Tôi nở một nụ cười tiễn đưa kẻo cái em đầm to như một con voi đang đứng đợi tới lượt mà nổi giận lên thì phiền phức lắm. Cô bé đứng dậy, với tay ra sau vuốt thẳng nếp áo quần rồi cười tít mắt lại nói: “Chao!” Tôi ngẩn ngơ tự hỏi tiếng Việt hay tiếng Ý đây. Thôi, cứ cho là tiếng Việt cho cuộc đời có một tí hạnh phúc vậy!

Tôi vừa huýt sáo vừa nhảy tâng tâng xuống cầu thang ra về thì bắt gặp cô bé ôm tập bìa trước ngực, đứng dựa lưng vào tường, một chân co lên thoải mái. Mái tóc đen bao quanh nụ cười tinh nghịch như thầm bảo bắt được quả tang cái phần con nít trong ông rồi đó nghe! Tôi hơi ngượng ngượng, mặt mũi tai miệng như cái lò sưởi vừa được đốt lên. Lấy hết chí nam nhi coi nụ cười chế riễu như pha, tôi lớn tiếng hỏi:

- Cô bé chưa về sao?

Cái miệng mím lại, hàm răng trên cắn chặt môi dưới làm hồng lên cái màu mộc mạc không son. Cái đầu lắc lắc, mấy lọn tóc trước trán đong đưa nhí nhảnh:

- Dạ chưa. Em muốn chờ anh hỏi chút chuyện.

Tôi khẽ nhếch miệng gật đầu như khuyến khích. Cô bé nói một hơi như một học sinh tiểu học vội vàng trả bài sợ quên mất nửa chừng:

- Tên em là Sylvie, chắc hồi nãy coi hồ sơ anh đã biết rồi. Xin lỗi anh, hồi nãy em có nhìn bảng tên trên ngực anh thấy chữ Phan. Tên họ ba em cùng là Phan!

Tôi sững sờ thấy mình đoán sai bét. Hóa ra em có bố Việt mẹ đầm. Tôi nhận họ hàng cho vui vẻ:

- Thế thì mình có chung một ông tổ rồi! Nhưng...

Tôi ngần ngừ không muốn nói tiếp, linh cảm thấy có điều gì không ổn nơi “lý lịch” của Sylvie. Mặc kệ, cứ thấy sao nói vậy cho được tiếng là thành thật:

- Hồi nãy tôi có liếc qua tên họ của Sylvie mà không thấy chữ Phan đâu cả.

Mặt cô bé xịu xuống như một chiếc cửa sổ vừa buông màn. Đôi mắt mau lẹ thấm ướt chắt chiu nhả ra từng giọt nước long lanh tròn trĩnh:

- Em chưa bao giờ gặp ba em!

Tôi muốn giơ tay đập vào miệng mình mấy cái để trị cái tội vô duyên ăn nói không giữ gìn ý tứ. Tay chân tôi luống cuống thừa thãi chẳng biết chúng được sinh ra để làm cái gì. Miệng tôi ấp úng:

- Xin lỗi Sylvie tôi vô ý quá.

Cô bé mở cái sắc đeo toòng teng bên người, lấy ra một tờ giấy phẳng phiu thơm ngát khẽ chậm chậm lên mắt. Cử chỉ dịu dàng dễ thương. Tôi rủa thầm trong bụng. Chắc bố em cao chạy xa bay cho mẹ em một mình ôm cái bụng dở dang oan nghiệt. Tôi điên khùng vớ vẩn nhận họ nhận hàng cho cái mặt bây giờ khó nói chuyện. Tôi còn đang tiếp tục tự xỉ vả thì Sylvie như một bà tiên hiền dịu cứu vớt tôi ra khỏi bể trầm luân:

- Em không được mang tên họ của ba em nhưng em luôn luôn quí trọng và thương mến ông. Ông đã chết ngoài biển trên đường vượt biên đi tìm gặp em. Chuyện nhiều rắc rối lắm, có dịp em sẽ kể cho anh nghe sau.

Lúc đó mà có một chiếc máy chụp hình trước mặt tôi thì chắc là tôi đã có một tấm ảnh để đời. Tôi nhớ là cặp mắt tôi quả có trợn trừng lên, miệng tôi quả có há hốc ra và mũi tôi quả có thun lại như một cái vòi voi nho nhỏ. Tôi ngạc nhiên và mắc cở quá sức. Cứ như vừa mới chửi bới một người vắng mặt bỗng dưng thấy ông ta đường bệ đứng sừng sững trước mặt nhìn mình bằng con mắt nửa tha thứ nửa thương hại làm mình muốn độn thổ cho rồi. Sylvie như chẳng thấy cái mặt sượng của tôi, cô bé tiếp tục nói bằng cái giọng nghẹn ngào cố làm ra vẻ bình tĩnh:

- Em không biết phải nói thế nào cho anh hiểu. Hồi nãy nhìn thấy cái bảng tên của anh em mừng quá, giống như bắt được một cái gì thân thuộc lắm. Nó gợi em nhớ tới ba em, cái chết của ông, tình thương của ông, cuộc đời của ông. Em thấy như gần gũi lắm cái gốc Việt Nam của em. Câu tiếng Việt anh hỏi em mà em không hiểu làm em thấy khó chịu bứt rứt trong người, cái cảm giác kỳ cục của người biết mình có điều gì thiếu sót. Thành ra em muốn anh dạy tiếng Việt cho em có được không?


Đề nghị của cô bé làm tôi bất ngờ nhưng sao thấy nó thuận lý và dễ thương chi lạ. Có là người thép chắc cũng phải mềm nhũn ra chứ kể chi cái thứ người rạt rào tình cảm động một chút là rớm máu trong lòng như cái thằng tôi. Thôi cũng coi như có một cơ hội thú vị để củng cố lòng yêu nước vốn vẫn âm ỉ trong tôi từ ngày bỏ nước ra đi. Nói cho to chuyện vậy chứ nguyên cái việc có một cô học trò cỡ này cũng đủ ham rồi. Tôi oai dũng gật đầu giơ nắm tay có thò ngón tay trỏ làm thành một cái ngoéo ra trước mặt. Cô bé mặt rạng rỡ giơ ra một cái ngoéo trắng hồng móc vào tay tôi. Hai đứa cười phá dẫn nhau xuống cantine làm lễ... khai giảng!


Một thầy một trò xấp xỉ tuổi nhau làm nên một lớp học lưu động không giống ai. Giờ giấc không nhất định, cứ hai đứa rảnh lúc nào là mở lớp lúc nấy. Lớp học giống như một con chuồn chuồn thích đâu đậu đó chẳng cần qui củ phiền phức. Lúc thì cà phê cà pháo ở Dunkin' Donuts, hamburger với khoai chiên ở McDonald, cơm canh Việt Nam ở ông Cả Cần, phở phiếc ở Hòa, khi thì ngay tại thư viện, ngoài hành lang của trường hoặc những bữa đẹp trời thì tại ghế đá công viên có lá vàng bay lả tả. Ông Rousseau mà biết được trên đời này có một lớp học như vậy chắc là sẽ sống lại ngồi dậy cười một cái rồi nằm xuống chết tiếp. Không biết vì lớp học thoải mái hay vì lòng ham học của trò và thú ham dạy của thầy mà chữ nghĩa của thầy kéo ào ào qua trò như một cây hoa thiếu nước lâu ngày bỗng được dịp hút vội vàng từng vạt nước mát rượi.


Chỉ trong vài tuần lễ cô bé đã nói được những câu tiếng Việt thông thường, đặt được những câu hỏi giản dị và... thưởng thức được những món ăn Việt Nam. Cái mục ẩm thực này là kết quả...bên lề của lớp học nhưng lại là kết quả thú vị nhất. Bàn tay cầm đũa vụng về lúc đầu đã trở nên nhuần nhuyễn cùng lúc với sự mê say hương vị của một tô phở tái sách có thêm ớt, thêm tiêu, thêm nước mắm và đủ thứ rau giá bày trên bàn. Ông thầy đã phải vất vả trăm đường mới có thể làm cô học trò hiểu tại sao lại có thứ sách đầy chữ nghĩa nằm ở trên bàn và thứ sách dòn tan ngon lành nằm trong tô phở. Nghĩa của một chữ nằm ở chỗ này loạng quạng sang nằm ở một tiếng khác như vậy làm ông thầy mệt phờ... lông măng. Cái miệng xinh xinh bắt được hương vị của một tô phở cũng là cái miệng uốn éo cố gắng đến tội nghiệp để phát âm cho đúng những chữ lên bổng xuống trầm uốn lượn qua 5 dấu như 5 nốt nhạc khó tính bắt cái đầu cô bé ngẩng lên hạ xuống khi sắc khi nặng. Lối nói tiếng Việt nặng nề lên xuống như một chiếc cần cẩu siêng năng biến đi lúc nào mà cả hai thầy trò đều không hay biết. Một buổi sáng đẹp trời giữa một công viên hoa lá rực rỡ muôn màu, tôi tự nhiên nhận ra vẻ ung dung tự tại của thứ tiếng Việt nói với một nụ cười thoải mái trên khuôn mặt được thắp sáng bởi từng vạt nắng dịu dàng thanh thoát. Tôi ngây dại ngắm nhìn hạnh phúc trong tầm tay. Lòng tôi chơi vơi như một cụm mây hồng dịu. Con bướm trên môi tôi khẽ đậu xuống đài hoa trên môi cô bé. Hai bờ môi quấn quít nhau nồng nhiệt như ngọn lửa trại một ngày se lạnh. Cô bé nép vào ngực tôi tìm một chở che vững chắc êm đềm. Tôi ôm chặt cô bé, vòng tay như biết nói lời yêu đương. Tình yêu đã biến lớp học thành những cuộc hẹn hò rong chơi, biến ông thầy thành một kẻ hạnh phúc và biến cô học trò thành một con bướm vàng có đôi mắt biết cười. Nó đã nâng Sylvie đứng dậy như một đứa trẻ tự mình đứng dậy tập đi. Chỉ vài ba bước dò dẫm đã đủ cho một cuộc làm người chạy nhảy tung tăng thỏa thích. Sylvie nói và đọc tiếng Việt trơn tru dễ dàng, ném mình vào các buổi họp mặt ca hát chơi đùa của bạn bè Việt như một người vừa tìm lại được con người đích thực của mình. Cô bé Sylvie đã trở thành Xuân Vi, cái tên do tôi phiên âm tặng nàng. Xuân Vi của tôi đã mang lại cho tôi cả một mùa xuân dịu dàng ấm cúng. Tôi ôm mùa xuân vào cuộc đời tôi để biến nó thành một mùa xuân miên viễn. Khi chúng tôi quyết định sống với nhau trọn đời thì Xuân Vi muốn có họ Phan trong tên nàng. Tôi tham lam xiết kín vòng tay kéo sát thân hình bé bỏng vào người khẽ nói:

- Anh bằng lòng cho em mượn họ của anh đó.

Xuân Vi háy mắt, quệt ngón tay vào đầu mũi tôi:

- Xí ai thèm mượn họ của anh, họ của ba em chứ bộ!

Tôi châm chọc:

- Của anh!

Nàng giả bộ cong cớn, hai tay chống nạnh, mặt ngẩng lên thách thức:

- Của em!

Hai đứa tranh nhau nói của anh, của em như hai đứa trẻ háo thắng muốn chiếm phần hơn. Nhịp điệu “cãi nhau” tăng dần làm hai cái miệng uốn éo tròn vo như hai cái bánh cam biến hình. Tôi chụp hôn lên miệng nàng khẽ ậm ừ:

- Ờ thì của em!

- Nụ hôn kéo theo nụ cười thỏa mãn trên bờ môi ngon như một chiếc kẹo mút. Xuân Vi ôm chặt tôi vào lòng hỏi bằng một giọng xa vắng thẫn thờ:

- Anh có tin là người chết có thể trở về đưa đường dắt lối cho người ruột thịt của mình được không?

Tôi gật đầu không nói, cằm tôi xiết mạnh trên mái tóc thương yêu. Mùi hương quen thuộc đưa tôi trôi nổi bồng bềnh. Cuộc đời sao lại có lúc dành cho người ta những giây phút tuyệt vời như vậy!


Song Thao

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 29/Feb/2024 lúc 3:41pm

Ra giêng anh cưới em…

 


ann-phong-nang-am
Tranh Ann Phong - Nắng Ấm.
 
Sau cái ngày mắc dịch 30 tháng 04 năm 1975, tôi bị tống cổ khỏi trường trung học ở Sài gòn vì chạy giặc trước đó và khai hộ khẩu ở ngoại thành sau hoà bình nên phải về học ở ngoại thành. Đúng là trời bắt phong trần phải phong trần/ cho thanh cao mới được phần thanh cao… Mẹ tôi dụng câu Kiều để an ủi tôi hay chửi xéo: Mày ăn ở làm sao mà ra nông nỗi? Thôi thì ý trời biết đâu mà cãi, lòng mẹ bao la như biển Thái bình, chắc mẹ thương cảm mình đó! Nên từ đó tôi yên tâm được biết cây lúa, con trâu… và Thùy.
  
Ở cái trường Chuồng bò mái tranh vách đất nhìn y như cái chuồng bò của người dân tộc trên cao nguyên, nhưng an ủi phần nào khi học sinh ở Sài gòn như tôi cũng khá đứa bị tống cổ về quê làm trò cười cho bạn bè dưới quê. Chúng tôi là những đứa trẻ lõ mắt nhìn con trâu đen xì, đi chung đường làng với nó nên không dám rời mắt khỏi hai cái sừng cong cong và nhọn, không rời mắt để sẵn sàng chạy khi nó tấn công. Con bò thuộc loài nhai lại nhưng chỉ là học trong sách giáo khoa thôi. Bây giờ mới tận mắt thấy con bò nằm nhai lại mớ cỏ nó đã ăn vào bụng từ trước đó… Thấy chiếc xuồng dưới sông như chiếc lá trên dòng sóng dữ lúc trời mưa giông, nhưng hú tim hú vía cho người chèo xuồng thì nó vẫn không chìm dù vừa chèo vừa phải tát nước mưa từ trời trút xuống, tát nước sông do sóng ập vô chiếc xuồng con…
  
Nhưng rồi sớm quen thôi vì tuổi nhỏ dễ thích nghi hơn người lớn, theo bạn bè đi mò cua bắt ốc riết cũng quen; tới mò trong vũng bùn mà bắt được con cá thì móng chân đã vàng phèn, hai bàn chân trắng như bột mì vì mang giày bata suốt khi còn ở Sài gòn đã thành quá khứ.
 
Tôi còn nhớ từ đó về sau, khi bạn bè muốn qua Sài gòn là rủ tôi theo vì hang cùng ngõ hẻm nào tôi cũng biết, Sài gòn Chợ lớn đã đời lưu manh như thơ Bùi Giáng là tôi, kẹt xe đường lớn thì đi đường hẻm cũng tới đích muốn đến, có tôi đi cùng thì không sợ lạc đường nên bạn bè chừa cho tôi chút hỉnh mũi - con chuột nhắt của Sài gòn.
  
Nên tết tới năm học lớp mười, bạn bè rủ nhau đi chơi tết bên Sài gòn cho biết. Tôi vui như trở về nhà, niềm vui đền đáp được cho bạn bè dạy tôi đi chân không trên bờ ruộng lúc trời mưa thì nghéo ngón chân làm sao, bấu ngón chân xuống đất trơn trợt làm sao cho không bị chụp ếch; bạn bè dạy tôi trèo cây dừa khác trèo cây me, dạy chèo ghe, giăng lưới, quăng chài... Tôi vui cơ hội được dẫn đường cho bạn bè bên Sài gòn đèn xanh đèn đỏ để trả ơn họ dạy tôi đã nhiều. Nhưng đám bạn do mê sơn đông mãi võ bán thuốc lang băm, không theo kịp tôi làm hoa tiêu dẫn đường. Nhìn lại còn mỗi tôi với Thùy, tôi dắt cái xe đạp len lỏi trên đường Lê Lợi, Thùy không nói một lời, cứ nhìn xuống đất, không nhìn ai vì sợ, cứ chốc chốc lại nắm cánh tôi ghị lại chứ cũng không nói, “đi chậm lại, chờ tôi với…”
  
Đường Lê Lợi thì tôi lạ gì vì đã từng làm học trò không sách vở cầm tay trước ’75 nhiều rồi, nhưng với Thùy thì tất cả lạ lẫm nên tuy sợ chỗ đông người nhưng vẫn muốn xem kỹ mọi thứ. Tôi biết rồi nên chậm lại cho Thùy mãn nhãn lần đầu du xuân Lê Lợi, cũng đổng thời đợi bạn bè phía sau vì chúng cũng như Thùy, thích xem kỹ hết mọi thứ mới thấy lần đầu.
  
Đến gian hàng của người vẽ tranh bằng bút điện trên gỗ thông thì Thùy mê mẩn nên tôi kiên nhẫn chờ. Cuối cùng Thùy chọn miếng gỗ thông cắt vạt như lát bánh mì, sơn bóng dầu thông vàng vàng, trên ấy người ta vẽ hình ngôi nhà lá rất quê, sau nhà là bụi tre lúc chiều tà, bước ra ngõ trước có cây mai vàng nở rộ, cái cầu ván nhỏ xuống sông, để xuống chiếc ghe đang neo đậu… những nét vẽ đơn sơ, tượng trưng thôi nhưng rất có hồn. Thùy thích vì nó hệt cảnh nhà thật của Thùy đang sống cùng gia đình, thích câu thư pháp như phượng múa rồng bay, “Chiều Xuân quê ngoại…”
  
Thùy nhờ tôi hỏi mua xem bao nhiêu? Tôi không còn nhớ giá bán chính xác, nhưng vẫn nhớ giá tiền chừng hai ly nước mía lúc bấy giờ. Thùy không mua vì mắc quá! Nhưng tôi người Sài gòn mà, liền đẩy đưa với người bán. Nghe chú nói giọng Huế, người chú cao gầy, da hơi ngăm, tóc dài dợn sóng, đội cái kết nỉ rất lãng tử như người Đà lạt. Tôi nói, “chú rất giống nhạc sĩ Trịnh Công Sơn…” tôi khen chú trước để lấy lòng nên chú cười hiền. Còn gì nữa mà không tấn công luôn, tôi nói tiếp, “Chú rất giống Trịnh Công Sơn khi cười…” thấy chú tôi lên mây rồi nên tôi gút giá nhanh lúc người ta lâng lâng, “… Nhưng tụi con là học sinh, chú bán cho tụi con nửa giá thôi chú. Tụi con đâu có nhiều tiền…” Chú ấy gật gù, dí ngón tay lên trán tôi trách yêu, “lanh quá đi…” Tôi móc tiền túi ra trả và tặng luôn cho Thùy, nhất định không lấy tiền Thùy gởi lại cho tôi.
  
Đám bạn mê sơn đông mãi võ ở phía sau đã lên đến, chúng tôi nhập bọn và đi chơi tiếp. Đi chơi tết mà, không ít thì nhiều, các bạn gái cũng mua được vài món quà theo túi tiền có được. Bọn con trai nghèo từ thời Adam cua bà Eva đã hết vốn nên chả mua gì, chỉ giỡn phá lung tung… Hồi quay về Phở Hoàng Diệu theo kế hoạch mà tôi đã tính toán trước vì phở ở đó ngon mà lại rẻ. Ăn xong uống nước trà không tính tiền rồi về cầu Tân Thuận uống nước mía cho ngon và cũng rẻ, có gió sông mát rượi…
  
Bạn bè vừa uống nước mía vừa khoe nhau những gì mua được. Mọi người hỏi đến Thùy thì Thùy trả lời là không mua gì, nên ai cũng thắc mắc là không mua sao có quà trong túi xách tay? Thùy không trả lời ai hết, và cái uy của Thùy trong lớp cũng đủ để mọi người không hỏi nữa. Nhưng học trò là nhóm đứng thứ ba sau qủy với ma nên chúng nháy mắt nhau ra chiêu…
  
Thế là thằng Đạo chích của lớp ra tay, nó trộm từ trong túi xách của Thùy được gói quà gói bằng giấy báo. Nó lén mở ra xem nhưng khi mở ra thì nó la làng, nó trình làng luôn… “Bà con ơi… Bà con ơi! Ra Giêng Anh Cưới Em… Ra Giêng Anh Cưới Em… Ra giêng, chúng ta được ăn đám cưới rồi… vui quá… vui quá…”
  
Đàn ong vỡ tổ bên bờ sông Sài gòn, tranh nhau xem, tranh nhau nói, tranh nhau cười, tranh nhau hỏi không biết bao nhiêu câu hỏi, hỏi không cho người được hỏi nói câu trả lời. Tôi chỉ thấy mặt Thùy nghiêm lại, không đanh, chỉ nghiêm lạ thôi. Cách nghiêm mặt của Thùy trong lớp thì tôi quen rồi vì Thùy hiền lành, tốt bụng với bạn bè, học giỏi, được cô chủ nhiệm lớp chọn làm phó lớp học tập là quyết định đúng đắn nhất và duy nhất của cô giáo ngoài bắc vào vì làm cô giáo nhưng không lo dạy học, chỉ lo trồng rau muống dưới sông và nuôi heo trên bờ. Cô chủ nhiệm lớp giao cho Thùy nhiệm vụ giúp đỡ tôi từ việc học tới đạo đức nên tôi bị Thùy nghiêm mặt với tôi hoài. Lúc Thùy nghiêm mặt là lúc tôi thích nhìn thẳng vào mặt Thùy nhất vì rất đẹp, nhưng Thùy hiểu sai là tôi chống cự, đối kháng, không phục…Tôi tin có ngày Thùy hiểu ra thôi, tôi rất ngoan, và hơn thế nữa… Nhưng lần nghiêm mặt này lạ ngộ với hai dòng nước mắt thả xuống hư không… làm bạn bè im hết.
  
Đường về hết vui vì mỗi xe lặng lẽ đạp, cứ con trai thì chở con gái như hồi đi, những cô bạn nhỏ chòi chân lên đạp phụ đường về, là quê hương đem theo cho đời lưu lạc. Đám thứ ba sau qủy với ma hết nói chuyện chung, nhưng từng xe nói chuyện riêng với nhau không cần đoán cũng biết chủ đề. Thùy vẫn ngồi sau xe tôi là điều tôi nể phục tới giờ vì lẽ ra con gái khi mắc cỡ, khi giận thì đã sang xe người bạn khác để chở về, đâu thèm đi chung xe với tôi nữa. Nhưng Thùy, là câu hỏi lớn nhất đời tôi!
   …
  
Hết năm lớp mười, thêm hai năm lớp mười một với lớp mười hai, cả trường biết chuyện: ra giêng anh cưới em... Cứ hễ rảnh rỗi là bạn bè lại lôi ra chọc ghẹo tôi với Thùy, thậm chí thầy thể dục thể thao khi đi tập banh với đội banh của trường cũng ghẹo tôi là anh hùng vì chính thầy cũng không dám làm thế với bạn gái của thầy, trước mặt bạn bè, thanh thiên bạch nhật… Ông thầy vui tính hơn học trò của tôi.
  
Mùa hè năm lớp mười, một người bạn trong lớp tôi ghé nhà, cô ấy nói tôi đến nhà cô ấy, mẹ cô ấy có việc nhờ tôi. Tóm tắt là cha cô ấy đã đi ra nước ngoài từ ba mươi tháng tư nên bây giờ mới có tiền đô gởi về cho vợ con. Mẹ cô ấy muốn chia cho em chồng là cô ruột của bạn tôi vài trăm đô để sinh sống, làm ăn. Mẹ bạn tôi nhờ tôi chở bạn tôi lên chợ Hóc môn để giao tiền cho cô vì đường xa, mẹ bạn tôi sợ…
   
Tôi đồng ý vì bác gái là bạn của mẹ tôi, tôi cũng đồng ý luôn vì bác gái hào phóng quá, cho tôi tiền đi thay hai cái vỏ xe đạp mới, thay ruột xe luôn nha con cho an toàn… Chúng tôi lên đường từ sớm hôm sau để về trong ngày, nhờ lộ phí đường xa bác cho cũng nhiều, hai đứa ăn hủ tiếu tới bốn tô nên đạp sung. Tới chợ Hóc môn cô lại cho ăn cơm sườn bì chả no cành hông, cho tiền uống nước, ăn vặt thả ga nữa mới sướng…
   
Chúng tôi về tới Sài gòn trời chưa tối vì năng lượng tràn đầy. Tôi ghé lại chỗ hôm trước tết tôi với Thùy đã mua miếng gỗ thông viết chữ “Chiều Xuân quê ngoại” nhưng không hiểu sao mở ra lại là hàng chữ “Ra Giêng anh cưới em…” Tôi mua không cần gói giấy báo để chắc chắn bỏ nhờ vô giỏ xách của bạn đi cùng là hàng chữ “Chiều Xuân quê ngoại”. Tôi nói với bạn đường, “bà làm chứng cho tôi là tôi mua hôm nay nhưng tôi đợi tới khi nào chúng ta học hết lớp mười hai tôi mới gởi tặng cho Thùy. Tôi sẽ viết thơ giải thích kèm theo vì ra trường là khó có cơ hội gặp lại nhau…”
  
Người bạn hay chọc ghẹo tôi nhất đã tin tôi thành tâm tâm sự với cô ấy. Tôi không lường gạt Thùy, tôi không đủ gan để đùa giỡn chuyện người lớn, tôi mua tặng Thùy món quà Thùy rất thích lại vừa túi tiền tôi có cũng là một may mắn hiếm có trong đời tôi chẳng mấy khi có tiền. Tôi thật sự muốn trả ơn Thùy đã giúp tôi nhiều trong việc học, không phải tôi học dở nên cần giúp mà là tôi ham chơi nên lơ là việc học. Rồi Thùy bị cô chủ nhiệm lớp cằn nhằn hoài cũng vì tôi chứ bản thân Thùy là gương mẫu của cả lớp mình rồi… Còn việc gói hàng lộn, trao hàng lộn cho khách mua tôi chỉ nghĩ ra được sơ sài... Trước hết phải nói tới việc hàng bằng kích cỡ nhau thì đồng giá. Miếng gỗ có hàng chữ Chiều Xuân quê ngoại với miếng Ra Giêng anh cưới em cùng kích thước, bằng giá, vậy người bán gạt tôi làm gì? Hơn nữa có đáng để lừa gạt không, bà cũng đã gặp chú nghệ nhân ban nãy rồi đó, chú không phải loại người lường gạt, nhất là lường gạt trẻ nhỏ như bọn mình. Vậy sự nhầm lẫn là vô tình của người bán chứ không phải tôi. Bà có tin tôi không là tôi không cố ý vì tôi hoàn toàn không cố ý, ngay ý không có trong tôi thì làm sao cố…
  
Bạn tôi là con gái, mà con gái bằng tuổi con trai thì con gái khôn hơn nên bạn tôi nghĩ… Chợ tết có mấy ngày, ai cũng mua những miếng gỗ có chủ đề tết như: Chiều Xuân quê ngoại, Xuân đã về, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa, Xuân kỷ niệm, Xuân này con không về… Chú nghệ nhân làm sao vẽ kịp để bán, trong khi những miếng gỗ mang chủ đề mùa hè, mùa thu thì ai mua? Nên tôi nghĩ là gói nhầm cố ý cho khách hàng lơ là. Ông được miếng gỗ Ra Giêng anh cưới em là may rồi và cũng có hơi hướm tết chứ bộ, chỉ là tụi mình còn nhỏ quá nên chuyện trở thành mắc cười, thành chuyện cười…
   …
  
Tôi làm đúng điều tôi đã nói với bạn tôi. Cuối năm lớp mười hai, tôi viết gần hết cuốn tập mới năm mươi trang để giải thích với Thùy. Bỏ trong phong bì lớn chung với miếng gỗ thông “Chiều Xuân quê ngoại” Tôi đến nhà Thùy tối hôm trước thì sáng hôm sau chúng tôi có bữa tiệc nhỏ chia tay trong lớp. Tôi chọn thời điểm trao quà theo suy nghĩ riêng, không giải thích với cô bạn đồng minh nên trong bữa tiệc chia tay, ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu… lại là tôi.
  
Cho tới hai năm sau, tôi tình cờ gặp lại Thùy đang tung tăng với bạn học ở khu trường Trung học Sư phạm Sài gòn. Tôi mời Thùy và mấy người bạn đi uống nước, họ rất dễ thương và tế nhị vì khi uống nước xong, họ liền cáo từ về trường, nói Thùy ở lại trò chuyện với tôi vì bạn cũ đã mấy năm không gặp, phần buổi học chiều đó cũng không quan trọng. Nhưng Thùy là người có biết trốn học bao giờ nên cô ấy tạm biệt tôi chứ không chia tay bạn học.
  
Tôi muốn gặp người bạn đồng minh hết sức, nhưng cô ấy đã đi bảo lãnh sang Mỹ, không còn ở Việt nam. Nhiều năm sau, tôi được ngồi ở patio nhà cô bạn đồng minh bên Cali, nhắc chuyện xưa như mới hôm nào khi đã có tóc bạc. Tôi đã nghĩ là bạn tôi đúng khi nghĩ về những người bán quà vặt trên đường Lê Lợi, họ vì miếng cơm manh áo mấy ngày giáp tết nên phù phép gói nhầm cho khác mua lơ là như tôi. Bạn tôi cũng tin tôi không đùa giỡn nên chúng tôi nhớ lại, tìm hiểu thái độ của Thùy ngay hôm đi chơi tết với nhau, thái độ từ đó tới hết lớp mười hai ra trường, thái độ hôm gặp lại tôi cũng là lần cuối…
  
Tôi lấy hết cam đảm để nói thật lòng mình với người bạn mà tôi tin tưởng từ nhỏ. Thật lòng tôi cũng có rất nhiều tình cảm với Thùy, nhưng hoàn cảnh tôi lúc bấy giờ không có từ bạn gái trong tự điển vì tay trắng mộng đầy, tương lai mù mịt… Ngay khi còn trong trung học đã có cảm tình, và tình cảm ấy không phai lợt sau mấy năm không gặp, tình cảm đậm đà hơn sau lần gặp lại nhưng tôi vẫn dặn lòng là không ghé nhà Thùy vì tương lai vô định trước mắt tôi quan trọng hơn, chuyện cần giải quyết nhất, nếu không thì tôi phải đi Campuchia đánh Pôn Pốt. Tôi không muốn.
   …
Tết rồi bạn Cali của tôi về Việt nam, về thăm bạn bè chơi thôi vì đại gia đình của cô ấy đã sinh sống ở nước ngoài hết rồi. Có bạn bè ở nước ngoài về thì nhóm bạn cũ còn trong nước, cón bao nhiêu cũng mở tiệc chung vui. Tôi trò chuyện với Thùy mà cứ ngỡ gặp lại bà ngoại của Thùy khi còn đi học,
   “Thùy vẫn khoẻ chứ?”
   “Ơn ông. Tôi còn sống tới bây giờ là nhờ ông đi chứ ông còn ở Sài gòn thì chắc tôi chết lâu rồi…”
   “Thùy chết thì chung ngày đám giỗ với tôi là cùng vì bên đây hễ gặp khó, nhức đầu là tôi nghĩ đến Thùy, không cần bác sĩ, thuốc men cũng sẽ qua mọi chuyện. Thôi bây giờ mình nói chuyện bạn bè trông mong đã mấy chục năm rồi… Con giặc Cali nó về thăm bạn bè lần này, nó bắt tôi phải bắt điện thoại để ba mặt một lời…”
   “Tôi có gì để phải ba mặt một lời? Với ai? Chuyện gì?”
   “Thùy lên chức bí thư chưa? Tôi chỉ muốn gặp lại Thùy của lớp tôi năm xưa. Thùy của…”
   “Trời sinh ông ra vô duyên từ lọt lòng mẹ hay sao…?”
   “Ơn Thùy tôi mới sống tới hôm nay. Thần chết mẻ búa vì Phật bà không cho bửa…”
   “Muốn nói chuyện gì thì nói nhanh lên. Tôi lên tăng xông là cúp phôn đó.”
   “Thùy còn giữ miếng gỗ… Ra Giêng anh cưới em không?”
   “Nghe thôi đủ sôi máu. Tôi giữ mấy chục năm để phải trả lời liền câu hỏi của ông?”
   “Thùy ơi! Thùy không có tuổi…”
   “Đừng lầm. Thùy khờ hồi xưa chết rồi. Thùy đầu bạc đang hiện nguyên hỉnh trêm màn hình laptop của ông đó!”
   “Tôi kèm nhèm rồi nên thấy ngoại trên màn hình. Tôi thương ngoại tới chết không quên. Thắp dùm tôi nén hương trên mộ ngoại nha Thùy…”
   “Lẻo mép…”
   “Ngoại giận tôi thì ngoại cũng chừa cho tôi đường về vì ngoại hiểu tôi còn hơn tôi. Thùy nhớ hông, tôi được lòng ngoại nhất đó nha…”
   “Tui nói không lại. Hết đời này cũng nói không lại. Muốn biết còn không thì về đây mà xem…”
   …
   Bạn bè đồng ca… ra giêng anh cưới em… ra giêng anh cưới em…
   …
  
Ngoài kia mây trắng bay như tóc Thùy gặp lại trên màn hình, nhớ bài bolero gì hay nghe trên YouTube, ‘giờ hai người tóc bạc như nhau’ Tôi không đủ can đảm nhìn màn hình nữa vì Thùy lại khóc… Chứng minh cho cố vấn, đạo diễn, biên kịch nào cũng đã sai khi cho Thùy đối thoại với tôi bằng người thật nhưng không phải Thùy, người tới chết cũng không nói lời khó nghe với ai bao giờ…
 
Phan
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 01/Mar/2024 lúc 11:49am

Hoa không có chủ | Truyện ngắn Sáng tác  <<<<<<


Chùm%20hình%20ẢNH%20ĐỘNG%20ấn%20tượng%20của%20những%20bông%20hoa%20đang%20khoe%20sắc


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 01/Mar/2024 lúc 12:37pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 190 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.889 seconds.