Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Thơ Văn
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Văn Học - Nghệ thuật :Thơ Văn  
Message Icon Chủ đề: TRUYỆN HAY CHỌN LỌC Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 93
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 10786
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 13/Jan/2018 lúc 8:26am
RỒI XUÂN CŨNG TRỞ VỀ



   Đăng lần bước một cách nặng nề đến cửa ra vào, dù ngoài mặt vẫn gượng gạo giữ vẻ vui tươi với những người “bạn già” ở đồng cảnh tù, nhưng trong tâm hồn chàng đang dâng lên một nỗi buồn vô hạn.  Bao nhiêu năm chàng từng đi ngang cái nhà tù này, chàng từng thấy đàn bà trẻ con ngồi la liệt dưới những gốc cây, để đợi giờ vô thăm chồng, thăm cha, nhưng lúc đó chàng có để ý, có tìm hiểu những điều gì đã xảy ra bên trong đó đâu. Chàng hoàn toàn không biết gì về cảnh buồn vui, về đời sống của những người tù, một phần bởi vì hàng rào thật cao với đầy lô cốt lính đã ngăn chận trong và ngoài; một phần là do tâm hồn chàng trai trẻ tên Đăng đang hăm hở, hân hoan tiến bước trên quãng đường học trò. Chàng chẳng có gì phải bận bịu với cuộc sống trên trong vòng rào ấy. Giờ đây đang đứng trước những chấn song sắt của cửa nhốt tù để nhìn ra ngoài sân của khám đường, trống trải, vắng hoe, trong buổi chiều nắng đã tắt, chàng chỉ thấy tâm hồn mình đang lửng lơ giữa hai trạng thái vui buồn. Phía sau lưng tiếng lục đục bếp nồi, với mùi thơm của hương trà, của cà phê đã tỏa ra ngào ngạt. Trong góc phòng đám người bu lại đánh cờ tướng còn la inh ỏi những tiếng “chiếu, chiếu”, “bí rồi”, hòa lẫn với tiếng bàn bạc, tiếng cười nói của các bác ủng hộ hai bên. Sân của khám đường vẫn yên tĩnh, như nó chẳng biết gì những rộn ràng trong những căn phòng nhốt tù nằm chung quanh nó. Sân đất đầy sỏi đá con con màu xám nhạt. Vài con chim sẻ từ trên những nóc nhà tù bay xà xuống đất tìm những hạt gạo rơi rớt chung quanh hội trường, mắt đôi khi lại ngó dáo dác về những khung cửa sắt khi thấy những cái đầu lấp ló, hoặc những ánh đèn cầy, những ánh sáng của diêm quẹt vừa bật lên. Rồi lúc nào sợ hãi thì nó bay lên nóc hội trường để dò xét chung quanh, một lúc lại trở xuống. Cứ như thế nó làm đi làm lại nhiều lần. Bọn nó đâu có biết, những con người tù đang ở sau cánh cửa sắt sẽ không bao giờ có thể ra ngoài để bắt nạt hay giết chết chúng nó được. Một cặp chim lại đùa giỡn với nhau như đôi trai gái đùa giỡn tình yêu của mình.
Khi Đăng quay lại thì đèn cầy trong phòng tù đã được thắp sáng đều. Cứ vài ba thước lại có một cây đèn cầy đã được thắp lên. Các bác, các chú, các anh ngồi quây quần với nhau để nói chuyện, để than thở, để uống trà, không khí như thế cứ càng khuya lại càng vắng bớt, và đến lúc mưòi giờ đêm, khi có tiếng kẻng báo ngủ, trong phòng trở nên yên lặng hoàn toàn.


   Sáng hôm sau khi kẻng đánh thức, trong phòng tự nhiên ồn ào lên như chuẩn bị phiên chợ sáng. Chiếu mền được tất cả sắp xếp lại cho gọn ghẽ ở mỗi chỗ nằm, và đến khi vị cai tù mở cửa phòng thì tất cả đều nhanh chân đi ra ngoài để chuẩn bị hứng nước súc miệng rửa mặt.
Quanh cảnh ở các phòng tù khác ở chung quanh đối diện phòng Đăng cũng tương tự như thế. Cũng mỗi người tù với ca, với ly, với bàn chải đánh răng để chuẩn bị làm vệ sinh sáng chung quanh vòi nước. Những phòng tù đều bị cách ngăn nhau bởi một cái hàng rào kẽm gai, nhưng các sinh hoạt vẫn y chang, vẫn cười nói rộn ràng sau một đêm trong tù, giờ chuẩn bị một ngày tù mới.
Đúng đàn bà là những đóa hoa tô điểm cho cuộc đời! Dù là cuộc đời tù tội! Ở khu giam đàn bà, dù thường phạm hay chính trị phạm, đều bị một hàng rào bằng tường xi măng che khuất với khu nhà giam của đàn ông con trai, nhưng cái cửa để ra vào lấy nước, lấy đồ ăn, làm tạp dịch, lại nằm trước cái sân của đám tù đàn ông. Vì thế cứ mỗi sáng thức dậy, súc miệng rửa mặt xong, khi ngồi đợi cháo ăn sáng thì tất cả các người tù đàn ông con trai đều đổ dồn mắt về một bóng hồng nào đó, nếu bóng hồng đó đang đi ngang qua phòng mình. Nhưng nếu không nhìn bóng hồng thì cũng không có gì để mà nhìn, mà ngắm. Cái hội trường trước mắt vẫn đứng trơ ra đó, ngày này qua ngày khác. Lá cờ vẫn phất phơ trong gió, cột cờ vẫn đứng vững vàng như muôn thuở. Những cục đá cục sỏi nằm trên sân... Tất cả những cảnh và vật ấy hằng như cố định, không thay đổi, không biến chuyển thành những hình ảnh xinh tươi hơn nữa được. Chỉ có những bóng hồng lướt qua trước các trại tù đàn ông mới làm thay đổi cảnh trí trước mắt các người tù này mà thôi.
Dù ở tù nơi đây ngắn hạn hay dài hạn; dù ở tù nơi đây là thường phạm, quân phạm hay chính trị phạm, thì một điều không chối cãi được là “tình yêu tù tội” vẫn xuất hiện đều đều trong nhà tù này. Bị bắt nhốt ở trong phòng tối, người tù vẫn tiếp tục tìm cách thân thiện nhau, yêu nhau. Bị cai tù la ó hăm dọa um sùm họ vẫn thư từ trao đổi với nhau, hẹn hò với nhau, ngay cả những người có tuổi, đã có vợ có con, hoặc có chồng có con đang tần tảo bên ngoài để nuôi sống gia đình, vậy mà ở bên trong nầy họ vẫn yêu đương người khác! Do đó, khi mới mười bảy tuổi đầu Đăng cũng khám phá ra được sự “nhiệm mầu” của tình yêu, sự mê say của đường tình ái trong vòng tù tội. Khổ họ vẫn yêu, nhục họ vẫn yêu, trong bất cứ tình huống nào!
Mấy anh tội thường phạm (xì ke, ma túy, đâm người, trộm cướp) thì yêu các chị tội thường phạm (đĩ điếm, buôn bán lậu...). Các anh các bác tội chính trị phạm thì yêu các chị các cô tội chính trị phạm. Đến giờ này ngoài những mối tình học trò cỏn con ở dưới mái học đường. Đăng chưa biết rõ ràng tình yêu có sức mạnh như thế nào. Nhưng ở trong tù chàng đã thấy một bác Năm đã trên năm mươi tuổi đầu mà bị nhốt cát-xô vì tội lén đến phòng phụ nữ ban đêm mà trò chuyện yêu đương. Bác làm trưởng đội nấu bếp, lợi dụng chức vụ đó ban đêm bác đi thăm tình nhân! Bác là người đã có vợ có con ở bên ngoài, cứ mỗi tháng bác Năm gái đều đến thăm nuôi bác thật đầy đủ và đàng hoàng, ấy vậy mà trong tù bác lại ngoại tình! Không biết bác đã lén đi thăm tình nhân bao nhiêu lần rồi, nhưng lần bác bị cai tù bắt nhốt ở cát-xô thì bạn tù ai cũng giật mình, cát-xô lại nằm ngay đường đi qua lại của tù, nên đi ngang nhìn vô thấy mặt bác buồn xo.
Rồi một chuyện khác, chú Chín, cũng đã lớn tuổi, là dân lao động chài lưới ở bên ngoài, cũng đã có vợ con, lại đi yêu một thím cũng đồng trang lứa, cũng bị tội phạm chính trị. Chú không có điều kiện như bác Năm để hôn hít người yêu qua khung cửa sắt, chú phải nhờ cái lỗ để nước dơ ở cống rãnh chảy ngang qua bức tường chia đôi hai khu nam nữ mà trò chuyện. Chú bên này bức tường, thím bên kia bức tường, cùng nhìn xuống rãnh nước mà trò chuyện. Muốn trao nhau cái gì, cho nhau cái gì, thì cứ thò tay qua cái lỗ! Muốn càng nói rõ cho nhau nghe thì càng cúi gần xuống cái lỗ! Cái lỗ cống đó là ân nhân của tất cả các cặp tình nhân trong tù. Chỉ có vậy thôi chớ rờ rẫm gì được, hôn hít gì được trong cái hoàn cảnh tù tội!
Nhưng không biết các ông lo về cải huấn tù tội có tính toán gì không hay là vô tình, mà cứ đến ngày chủ nhật là ngày mấy bà mấy cô tội phạm được đi lượm thóc ở trong cái hội trường. Đó là ngày vui nhất cho các ông tù! Nhưng không! Có lẽ đó cũng là ngày vui nhất cho các bà các cô tù! Cứ một chị một cô đang ngồi lượm thóc thì có một anh một chú đứng kè kè một bên để nói chuyện. Như bác Năm trai thì kè bên “bác Năm” gái; chú Chín thì kè bên “thím Chín”. Các anh thường phạm kè bên các chị thường phạm. Họ vừa nói chuyện vừa ngó chừng mấy ông cán bộ trực. Nếu mấy ổng làm lơ thì họ sáp lại gần nhau; nếu mấy ổng đến kiểm soát thì bọn tù rút về vị trí ngay ngắn của mình. Y như chơi trò cút bắt! Nhưng quá lắm là nắm tay nắm chân mà thôi. Rồi tất cả đều phải chờ ngày mãn hạn tù, ở bên ngoài rồi họ mới muốn làm gì thì làm.
Dù mười bảy tuổi, nhưng nhìn qua những tình trạng yêu đương lén lút như thế, trong lòng Đăng vẫn thấy vui vui. Vui khi thấy cái táo bạo của bác Năm. Vui khi thấy cái sợ sệt, mặt mày dáo dác của chú Chín ở cống nước. Vui khi thấy một anh quân phạm tỏ tình chọc một chị tội mãi dâm đi ngang qua hàng rào. Cái vui vui như khỏa lấp được phần nào những trống vắng và phiền muộn khi Đăng nghĩ đến những sinh hoạt của bạn bè và gia đình hiện tại đang ở bên ngoài. Nhưng có một điều chắc ai ở tù cũng phải công nhận là đời sống tù tội đỡ nhàm chán hơn, đỡ thấy tù túng hơn, thậm chí ở một vài trường hợp còn thấy vui hơn đó là nhờ bóng dáng đàn bà. Trong đó nhất là các nàng tù bên thường phạm. Có nàng rất còn trẻ, vì tội mãi dâm bị bắt nhốt vào đây. Có nàng vì buôn bán lậu, xì ke ma túy cũng bị bắt vào đây. Nhưng khi vào tù các nàng vẫn mặc những bộ đồ bông hoa thật đẹp dù chỉ không được ủi cẩn thận mà thôi. Ngược lại thì các chị các thím bên tù chính trị phạm thì thường bên ngoài là những người đàn bà làm ăn lương thiện, nên khi vào tù thì cách thức sinh hoạt và ăn mặc vẫn giản dị như bên ngoài. Cũng áo bà ba trắng, bà ba màu xám; cũng quần dài đen, loại vải thường vải xấu. Nhưng cũng như các cô gái mãi dâm, buôn bán lậu là đối tượng cho các anh tù thường phạm, quân phạm, thì các thím các chị lại là đối tượng cho các chú các bác sồn sồn ở tù về chính trị. Như bác Năm, chú Chín chẳng hạn.
Những buổi sáng, sau khi súc miệng và ngồi chờ cháo để ăn sáng, nhìn những cô thường phạm thật trẻ đi ngang qua hàng rào; các cô đẹp và hồn nhiên không thua gì các cô con gái trong một gia đình hiền lành tử tế, nhưng vậy mà là những nàng đã sành sỏi trong việc bán phấn buôn hương, trong việc lấy Mỹ ở ngoài thị xã Vũng Tàu. Nhìn những người con gái đó cứ ngày này qua ngày khác, dần dần Đăng cũng tìm ra được một hình ảnh cho riêng mình: Cô gái tên là Huyền.
Trong một buổi chiều, khi đang đứng bên trong cửa sắt của nhà tù mà nhìn ra ngoài, Đăng nhìn thấy một cô gái vừa mới vào tù, đang bị giám thị tù dẫn về phòng giam của các nữ can phạm. Nàng vừa đi vừa cúi đầu khi ngang qua một lô năm sáu phòng giam của đàn ông. Đăng đã lặng người khi bắt gặp gương mặt nàng, lúc nàng ngẩng mặt lên nhìn về phía cửa sắt của chàng đang đứng. Trong một giây Đăng nghĩ là cô là một tội phạm về chính trị, còn nếu là một tội hình sự nào khác thì tất nhiên không phải là tội mãi dâm như cái dáng dấp của các cô mãi dâm khác.
Mấy hôm sau Đăng gặp lại Huyền, cô nàng mà mấy hôm trước trong một buổi chiều đã làm chàng buồn một cách bâng quơ nơi khung cửa sắt. Giờ nàng đã hòa vào cái đám chị em tội phạm trong cái nhà giam này. Nàng mặc áo trắng sát cánh, quần dài màu đen loại vải xấu, nhưng nàng không đi công tác chung với các chị chính trị phạm, mà lại đi chung với các chị các cô thường phạm. Nhưng tội Huyền là tội gì Đăng vẫn chưa biết.
Cái cảm tình yêu thương cô Huyền xa lạ đó cứ tăng dần, tăng dần theo những ngày sau đó trong lòng Đăng, cậu bé mới mười bảy tuổi. Nếu so sánh với Huyền thì Đăng xem ra trẻ hơn nàng cũng phải đến một hai tuổi. Huyền có cái nét đẹp già giặn, dù nàng vẫn còn cái dáng e ấp, thẹn thùng, khi đi ngang qua hàng rào của những tội phạm đàn ông. Nhưng mặc kệ về sự khác biệt về tuổi tác, Đăng vẫn thấy yêu Huyền càng ngày càng sâu đậm, lòng cứ càng ngày càng ray rứt với hình bóng của nàng. Chàng không biết cô Huyền tội phạm kia mắc tội nặng hay nhẹ, và bao giờ mới được ra tù, vì thế chàng lo sợ vu vơ, sợ nay mai đây Huyền bỗng nhiên được thả ra, rồi mất biệt. Chàng lo sợ bâng quơ, sợ mất mát Huyền thật vô duyên cớ.
Và tình yêu cũng đã đến. Niềm mong muốn được chuyện trò với người đẹp cũng đã xảy ra trong một dịp. Hôm đó, ngày chủ nhật. Thường cứ chủ nhật thì các cô tội phạm hay được phép ra hội trường để lượm thóc, để có gạo sạch cho tù ăn. Hôm đó Huyền cũng được phép ra. Nhóm lượm thóc của Huyền gồm chung nữ tội thường phạm và chính trị phạm. Và đám tội phạm đàn ông chung cũng có dịp mon men lại gần. Đám đàn bà giờ như khối nam châm thu hút “đám sắt” đàn ông từ từ lại gần, chỉ khi nào có giám thị trực nhà giam đến thì “đám sắt” ấy mới chịu nhả “khối nam châm” mà thôi. Đăng trong hôm đó cũng tự biến thành cục sắt nhỏ để bị hút vào cái khối nam châm đàn bà, và chỗ hút đến là chỗ mà Huyền đang ngồi. Lúc đó Huyền ngồi một mình trong một góc ở hội trường. Nàng ngồi thu mình lại như con chim ủ rủ trong chiếc lồng. Nàng không nhìn lên để xem những bóng người qua lại, những cảnh vật bên ngoài, nàng chỉ chăm chú vào công việc lượm thóc của mình, và nàng như đang ngồi suy nghĩ một điều gì mà chỉ có mình nàng biết mà thôi. Vì thế khi Đăng đến đứng bên nàng, nàng vẫn chưa hay biét. Câu đầu tiên để bắt chuyện làm quen với Huyền, Đăng đã gọi nàng bằng chị. Chàng giả bộ:
- Xin lỗi được hỏi thăm chị một chút! Chắc chị mới vô đây! Vì lâu nay tôi không thấy.
Cô gái nhìn lên, bắt gặp “cậu bé” đứng cạnh mình chỉ cách một bức tường xi măng xây cao đến bụng. Nàng ngạc nhiên vì đã không để ý đến sự hiện diện của một “cậu bé” từ nãy đến giờ.
- Ừ, tôi mới vô đây trong mấy ngày nay, còn... anh... chắc ở đây lâu rồi?
Trời ơi! Nàng kêu mình bằng anh. Đăng không biết làm sao tả hết nỗi sung sướng đang có trong lòng. Chàng đã nghĩ thế nào nàng cũng gọi mình bằng cậu hoặc bằng em ngọt ngào, không ngờ lại gọi bằng anh. Huyền chắc không thể nào biết được những diễn biến trong lòng cậu bé này trong ngày đầu tiên mà cậu đã gặp nàng.
- Tôi ở đây mới gần một tháng.
Tự dưng Đăng thấy như mình phải có bổn phận an ủi cô gái mới vô tù này:
- Vô đây chắc chị buồn lắm phải không?
Huyền vừa trả lời nhưng vừa cúi đầu lo lượm thóc:
- Ngày đầu thì buồn nhưng đến hôm nay thì bớt nhiều rồi. Nhất là ngày chủ nhật được ra đây lượm thóc như vầy thì vui hơn một chút. Chớ ở hoài trong phòng chán lắm! Còn anh, anh có thấy buồn không?
Khi hỏi lại Huyền ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Đăng. Huyền còn đẹp lắm! Dù thân nàng không có ốm yếu mảnh mai như nhiều cô gái khác. Nàng có da có thịt, mặt mày hồng hào và đều đặn, chỉ có cặp mắt nàng sao mà buồn quá, cặp mắt e thẹn và như đang giấu giếm một nỗi buồn mà không bao giờ có thể giải tỏa được. Nụ cười nàng cũng gượng gạo và e ấp làm sao! Đăng chìm đắm say mê nhan sắc của cô gái trong ít giây rồi mới trở về câu hỏi của nàng:
- Cũng như chị vậy, lúc đầu cũng buồn, nhưng bây giờ thì quen rồi. Tôi chắc cũng sắp được thả thôi, vì không có tội gì cả.
Sau khi cúi xuống lượm vài hột thóc, Huyền lại ngước mặt lên nhìn Đăng với vẻ mặt ngạc nhiên:
- Không có tội mà sao ở trong này? Nhưng anh ở tù nào? Thường phạm hay chính trị phạm?
- Tôi bị bên chính trị phạm.
Mặc dù biết mình không có tội gì cả, chẳng qua chính quyền bắt buộc phải giam để điều tra, đó là vì trong một lần gác của Đăng trong đơn vị Nhân Dân Tự Vệ chàng đã ngủ quên, để ai đó (có thể là Việt Cộng) lén vào lấy súng của một người bạn đang ngủ, vì thế chàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về vụ này. Nhưng bên Huyền bây giờ chàng không thích kể dài dòng về chuyện của mình. Thời giờ bên Huyền hiện tại là vàng bạc, chàng thích nghe những chuyện từ nàng hơn. Tuy nhiên hỏi gì thì gì chớ Đăng vẫn không dám đá động đến nguyên nhân vì sao mà nàng bị tội. Chàng tìm một câu hỏi khác:
- Xin lỗi chị tên gì, để có dịp gọi!
Huyền không có gì ngần ngại, nàng trả lời liền:
- Huyền! Còn anh tên gì? Rồi nàng cười. 
Để có gặp còn biết tên mà gọi.
- Tôi tên Đăng. Trương Văn Đăng.
Huyền trề môi chọc Đăng:
- Chà tên đẹp quá ha!
Đăng khen lại:
- Tên chị cũng đẹp vậy!
Thoáng xa xa thấy ông giám thị mặc áo vàng từ nhà trực đi tà tà đến hội trường, nên Đăng nói nhanh với Huyền để rút lui:
- Ông giám thị đến, chào chị nha, chút nữa rảnh tôi sẽ trở lại để nói chuyện với chị cho vui.
Huyền cười mà không nói một lời nào. Khi ấy các người đàn ông đang đứng gần các người đàn bà cũng từ từ tránh xa nơi khác, trước khi ông giám thị trực bước vào hội trường.

   Thế là sau ngày đó Đăng quen “chị” Huyền thật sự. Cứ khi thấy “chị” Huyền ra ngồi lượm thóc ở hội trường là Đăng đến gần để chuyện trò. Những chuyện vu vơ của đất trời, những chuyện về gia đình của Đăng và Huyền được hai người tâm sự nhiệt tình.
Thường lúc tù nhân được phân công đi xách nước cho cầu tiêu trong buổi sáng. Đăng hay theo dõi bóng dáng Huyền. Cứ ngày nào Huyền phải làm nhiệm vụ này, đó cũng là ngày mà Đăng có dịp đứng cạnh bờ rào kẽm gai để nhìn nàng đi qua đi lại trong vài lần. Dù chỉ được nhìn nhau trong vài lần, chỉ được bắt gặp nhau qua ánh mắt cũng đủ làm Đăng vui sống trong những ngày tù tội.
Để có dịp ở gần Huyền nhiều hơn. Đăng đã xin vô đội làm nhà bếp. Thật vậy, những ngày sau khi đã làm trong đội nhà bếp, khi chủ nhật có vụ lượm thóc của các cô, Đăng hay la cà bên cạnh Huyền mà không còn sợ giám thị như trước nữa. Vì công tác lấy gạo (sau khi đã lượm thóc) để về nhà bếp nấu cho tù ăn là công tác thường trực mỗi ngày, và đội nhà bếp và các cô lượm thóc tới lui gần gũi là chuyện thường, miễn đừng lộ liễu và quá đáng mà thôi.
Từ hôm Huyền vô tù đến nay gần hai tháng, chưa bao giờ Đăng thấy Huyền có người thân đến thăm. Đăng không dám tìm hiểu rõ nhưng tự nhiên thấy mình cũng buồn cho hoàn cảnh của Huyền. Chàng để ý thấy Huyền chỉ có ba bộ đồ thay đổi trong hai tháng tù. Chiếc áo trắng sát cánh với chiếc quần sài đen là một bộ. Còn lại là hai bộ đồ ngủ màu hồng và màu xanh lá mạ. Tù thì dĩ nhiên là nghèo rồi, nhưng ở Huyền, Đăng thấy nàng còn nghèo hơn các chị em tù khác. Nàng chỉ có một điều hơn các nàng khác dưới mắt Đăng là: cốt cách của nàng. Cốt cách của nàng tỏ ra một điều gì thật hiền hậu, nhân từ. Nàng đẹp một cách hiền hòa. Hiền như áng mây chiều trên đồng lúa, như dòng sông với những đám lục bình, như con chim đẹp nhưng đầy nhút nhát sợ sệt.
Rồi những ngày qua lại trong tù Đăng cũng biết Huyền ở tù vì tội gì. Nàng bị tội mãi dâm! Nhưng không phải vì biết Huyền bị tội như vậy mà Đăng trở nên lạnh nhạt và không muốn gần Huyền nữa, ngược lại chàng lại càng si tình ở cô gái làm mãi dâm này. Chàng càng mong hơn ở mỗi buổi sáng cổng tù mở lẹ lẹ để chàng thấy mặt nàng. Dù gặp để chuyện trò trong vài phút; dù gặp chỉ bằng ánh mắt mà thôi. Rồi khi tình yêu ấy lên đến tột độ, chàng đành phải thú thật tình yêu ấy với Huyền. Nhưng chàng cũng không dám tự mình để tỏ tình trực tiếp với nàng, chàng chỉ gởi lời tỏ tình qua trung gian một người bạn gái ở tù chung với nàng. Cách tỏ tình xưa như trái đất: một bức thư! Có lẽ vì ở trong tình trạng tù tội cô đơn nên Huyền chấp nhận lời tỏ tình của Đăng ngay, chấp nhận một cách nhiệt tình. Điều nàng làm Đăng một chút hơi ngỡ ngàng. Chàng lại còn nghĩ đến sự từng trải trong tình trường của Huyền, sự từng trải về xác thịt của một cô gái ra đời quá sớm, mới đưa nàng đến sự quyết định thật nhanh chóng về lời tỏ tình của chàng. Nhưng nói gì thì nói, nghi gì thì nghi, khi nghe Huyền chấp nhận lời tỏ tình của mình, Đăng cũng đã mất ăn mất ngủ mấy ngày, chỉ vì sự vui sướng của chàng trai mới lớn đã có người đáp lại tình yêu.
Những ngày cuối tuần sau đó, khi Huyền ra khỏi hội trường ngồi lượm thóc, Đăng đến gần, giờ hai người là đôi tình nhân mà hầu như cả nhà tù đều biết. Huyền dạn dĩ bắt nạt Đăng trước:
- Huyền bị tù như vậy, anh không ngại sao mà vẫn muốn làm quen?
Đăng thấy Huyền không ngại một chút nào khi đề cập đến đời mình. Nói về đời nàng Đăng còn thấy ái ngại, còn thấy cảm động, vậy mà nàng như không ngại chút nào.
- Tù nào cũng vậy. Tôi không nghĩ đến chuyện tù vì tội này tội kia.
Khi Đăng kể lể về chuyện của chàng, chuyện của Huyền, nàng vẫn nhìn xuống cái mâm bằng nhôm, trong đó có một nắm gạo trộn lẫn đầy thóc, nàng chăm chú lượm mấy hột thóc ra nhưng tai cũng lọc lựa từng lời nói, từng lời tỏ tình, từng câu văn bóng bảy của Đăng đang rỉ rả bên tai nàng. Đăng vẫn miên man:
- Tôi cũng trông mau ra tù để còn về đi học lại. Trễ mấy tháng coi như trễ nửa năm học. Còn ở tù ngày nào ông bà già ở ngoài còn khổ ngày đó! Còn nhà Huyền ở dâu? Sau này khi ra tù mình có thể gặp nhau không? Tôi rất mong sau này mình gặp nhau lại ở ngoài!
- Anh lo gì! ở ngoài nếu mình muốn gặp lại nhau thì đâu có khó! Chỉ sợ anh không muốn gặp lại Huyền nữa thôi.
Đăng đứng cạnh Huyền, chỉ cách một bức tường bằng xi măng xây ngang đến bụng, chàng nhìn được rõ cả bàn tay búp măng của nàng đang lùa qua lùa lại trên những hạt gạo. Mái tóc đen của nàng chạy dài xuống đến sóng lưng như bờ suối nước đen trên bộ đồ vải màu hồng cũ quen thuộc của nàng. Nàng nghèo đến nổi không có một cái kẹp để kẹp những sợ tóc đang phủ lòa xòa trên má nàng! Đăng thèm muốn đưa tay lùa những sợi tóc ấy về đằng sau, nhưng ngại ngùng nên chàng vẫn giữ bàn tay ghì chặt trên bức tường để ngăn chận sự ham muốn hàm hồ.
- Tôi chỉ sợ không thể gặp Huyền nữa thôi. À, sau này khi ra tù Huyền ở đâu?
- Huyền sẽ về Sài Gòn ở với gia đình. Má và mấy em Huyền đang ở Sài Gòn. Huyền từ nhỏ đến lớn ở Sài Gòn chớ không phải ở đây. Từ ngày đi làm nghề này mới ra đây.
Đăng thấy vui:
- Như vậy sau này nếu tôi được về Sài Gòn học thì mình sẽ gặp nhau dễ dàng chớ gì?


   Dần dần theo ngày tháng càng lâu trong tù thì tình yêu giữa Đăng và Huyền càng đậm đà. Dù trong ngày hai người đã có dịp nói chuyện nhau, nhưng cứ khi chiều xuống là cả chàng lẫn nàng đều đến bên song sắt của nhà tù để nhìn nhau, và chuyện trò bằng những ngón tay như ra hiệu lệnh. Có lúc Đăng đứng cả giờ ép mặt vào song cửa mà hướng mắt về phòng của Huyền, chàng nóng lòng và bực bội vì với một khoảng thời gian như vậy mà Huyền vẫn chưa ra cửa để hai người nói chuyện bằng mắt như mỗi ngày, nhưng khi khuôn mặt của Huyền hiện ra nơi khung cửa thì cái buồn bực trong lòng chàng cũng tan biến ngay. Ngược lại thì Huyền cũng thế, chiều chiều, khi cửa phòng tù đóng lại, nàng cũng đến bên khung cửa sắt để tìm gương mặt Đăng, tìm ánh mắt chàng. Nếu Đăng không có đứng đó sẵn nàng cũng có đôi chút hờn giận, nàng đi đi lại lại trong phòng tù mà thấy không một chút nào vui, nhưng khi đã thấy Đăng xuất hiện thì mặt nàng tươi vui lên ngay và miệng cười thật tươi, từ xa Đăng đã thấy hàm răng trắng đẹp đang cười nói của nàng.
Rồi từ sự thương yêu đậm đà đó Huyền thấy không còn nên giấu giếm những thầm kín của đời nàng, cùng những ý nghĩ của mình. Nàng còn đổi cả cách xưng hô trong một lần nói chuyện:
- Em cho anh xem tấm ảnh này. Sau khi xem xong em sẽ cắt nó làm hai. Anh giữ một nữa, em tặng anh đó, còn một nửa em xé bỏ trước mặt anh luôn.
Huyền nói như thế trước khi đưa tấm hình mà nàng đang cầm trên tay ra trước mặt Đăng. Tấm hình lấy cảnh ở biển Vũng Tàu, trong đó Huyền đứng cạnh một người Mỹ cao hơn nàng đến một cái đầu. Nàng mặc chiếc áo dài màu trắng hồng và cách trang điểm y như một người tình kiều diễm. Trang điểm thêm tấm ảnh màu là những cánh hoa màu sắc sặc sỡ đang nở chung quanh hai người. Nàng giải thích thêm:
- Đó là hình trước đây của em ở Vũng Tàu, ngoài bãi Ô Oắn, đường đi ra Bãi Sau. Giờ coi như thuộc về quá khứ! Anh xem kỹ đi rồi đưa lại cho em. Em sẽ cắt nó làm hai. Anh giữ hình của em để làm kỷ niệm. Còn hình của ông Mỹ thì em xé tại đây luôn.
Nàng ngừng một chút, rồi chọc Đăng:
- Hay là anh không muốn em xé hình ông Mỹ?
Đăng hơi xúc dộng vì sự thành thật quá mức của Huyền, người con gái đã có một quá khứ xấu xa. Tại sao nàng không dấu đi những tấm hình như thế? Tin tưởng chàng đến thế nào mà nàng dàn trải lòng mình, đời mình ra như vậy. Nàng không sợ chàng buồn, chàng cảm thấy bị xúc phạm, rồi chàng tìm cách xa lánh nàng sao? Đăng mải mê nhìn ngắm nhan sắc Huyền trong tấm ảnh màu một lúc lâu, rồi từ từ trả lại cho Huyền trong nỗi vui buồn lẫn lộn. Chàng vui vì nhìn được hình ảnh tươi đẹp của nàng trước đây, vui vì tấm lòng thành thật của nàng; còn buồn là vì quá khứ của nàng đã lộ liễu qua tấm hình này, một quá khứ không tốt đẹp về người con gái mà chàng đã yêu! Tấm hình bị Huyền cắt đôi ra, dù khéo léo khi cắt nàng vẫn dể mất một mảnh vai của nàng. Có lẽ nàng không muốn trong nửa tấm còn lại để tặng cho Đăng còn một mảnh vai của ông Mỹ. Xong nàng trao cho Đăng:
- Anh giữ nửa tấm hình này, trong đó có em, khi nào về Sài Gòn tìm nhà em, rủi lúc đó em chưa ra tù, thì anh cứ đưa hình này ra, má cà các em của em sẽ nhận ra ngay.
Đăng nhận tấm hình, nhận luôn cả địa chỉ của nhà nàng ở Sài Gòn mà nàng đã ghi sẵn phía sau. Chàng ngạc nhiên:
- Ủa, vậy sao em không viết thư báo cho gia đình em biết là em ... đang ... bị ... ở ... đây?
Huyền buồn:
- Báo làm gì anh! Báo rồi để gia đình buồn thêm à! Em chỉ còn bà già và mấy đứa em thôi. Ba em là lính chết trận, sau khi ba em chết nhà em trở nên nghèo túng, em phải bỏ học và nói với má em là em xuống Vũng Tàu này để tìm việc làm và nuôi cho mấy đứa em được ăn học tiếp tục, chớ em đâu có dám nói là em làm ... nghề ... này... đâu! Thôi ráng khoảng ba tháng em sẽ ra tù, rồi về nhà thì mọi chuyện sẽ êm xuôi, đâu vào đó thôi. Em đi ... làm. .. đã đễ dành được một số tiền rồi, giờ về Sài Gòn lo buôn bán làm ăn. Gia đình mà không biết gì về em cả, thì em thấy đỡ khổ hơn.
Â`, té ra gia cảnh nàng cũng khó khăn quá! Nàng đi làm gái mãi dâm lấy Mỹ từ một nguyên nhân thật đáng thương hơn đáng trách. Đăng thấy lòng rung động và cảm thông cho những lời trần tình của Huyền.
Huyền tiếp tục dặn dò Đăng:
- Còn anh, anh phải nói nhà đem vô cho em một tấm hình của anh nha! Rủi sau này ra tù mà anh không đến tìm em, thì em cũng còn tấm hình anh để làm kỷ niệm trong những ngày mình quen nhau ở đây. Chớ đi tìm anh chắc là em không dám rồi!
Sau hôm tặng hình đó khoảng chừng một tháng thì Đăng được ra tù. Lúc tiễn Đăng ra khỏi cổng tù Huyền đã khóc. Nàng không khóc lớn, nhưng trước mắt tất cả mọi người, kể cả các giám thị, thì những giọt nước mắt đã làm ướt đẫm gương mặt nàng. Nàng nghẹn ngào:
- Anh về mạnh giỏi. Có về Sài Gòn học thì ghé lại em! Khoảng hai ba tháng nữa anh đến nhà em ở cái địa chỉ mà em đã cho, khi đó chắc em đã ra khỏi nhà tù rồi. Rủi là em chưa ra thì anh chờ một hai tháng sau rồi đến lại. Nhớ lời em dặn, và ráng học nha!
Rồi Huyền như không còn sợ giám thị trực nữa, kề miệng vào tai Đăng mà nói nhỏ: Ráng học, em về em đi buôn bán để nuôi cho anh ăn học.
Đăng cũng vậy, chàng không còn sợ giám thị trực nữa, chàng nắm tay Huyền, xiết chặt, trong lòng cũng thấy xúc động tột cùng:
- Thôi, anh về trước, em ở lại ráng đừng buồn. Rồi chắc em cũng sẽ về nay mai. Anh về Sài Gòn sẽ tìm đến em, em đừng lo, đừng buồn nha! Ráng cố gắng, mình sẽ gặp nhau ở bên ngoài mà, thôi anh đi!
Đăng xách túi quần áo nhìn quang cảnh sân tù, những phòng tù lần cuối, chào Huyền rồi lách mình qua khung cửa sắt mà tâm hồn đang chứa đầy hình bóng Huyền. Con chim bấy lâu đi nhốt trong chiếc lồng, giờ đã được thả ra để trở về với đồng ruộng bao la.


* * *
Đăng đã thất hứa! Chàng không trở lại tìm Huyền, dù chàng đã về Sài Gòn để học. Huyền được ra tù, về Sài Gòn, âm thầm chờ đợi Đăng. Nhưng nàng đâu có biết Đăng đã quên tất cả, kể cả thời ở tù khổ cực, kể cả người con gái mãi dâm mà chàng đã nói tiếng yêu trước, và cũng nhờ hình ảnh của cô gái mãi dâm này mà chàng đã có được những ngày “hạnh phúc” thật ngắn ngủi trong nhà tù.
* * *


   Đến mùa Xuân năm 1975 Đăng đã trở nên phong trần như bao nhiêu người thanh niên như chàng, chỉ vì là người lính chiến. Trong một chuyến xe di chuyển từ Biên Hòa về Sài Gòn, khi mọi người đang chen chúc nhau trên chiếc xe đò cũ kỹ, ọp ẹp đang chạy thì Đăng gặp lại Huyền! Đăng đứng ở phía trước xe. Huyền đứng phía sau xe. Khi nhận ra Huyền, dù thời gian đã vô tình làm tàn phai nhan sắc của nàng, nhưng lòng Đăng lại thổn thức như ngày nào ở trong tù khi gặp nàng lần đầu. Đăng lẩm nhẩm: “Trời, chẳng lẽ lại là Huyền!” Thật Huyền đó! Người đàn bà chỉ vừa đến tuổi hai mươi lăm, nhưng do buôn bán làm ăn, do thời gian vô tình đã làm cho người đàn bà với lứa tuổi đó đã xem già đi hơn rất nhiều. Còn Đăng, đang giữa tuổi hai mươi ba cũng không còn nét trẻ trung tươi đẹp. Hơn bốn năm lăn lộn trong quân ngũ. Hơn bốn năm miệt mài trong chiến tranh, trong những mối tình quá vội, giờ xem chàng cũng đã già hơn cái tuổi mình rất nhiều. Nhưng cũng may, nhờ cuộc đời lính nay đây mai đó, nhờ tính tình vẫn ham bay nhảy nên đến ngày nay chàng vẫn chưa lập gia đình, chưa bị ràng buộc trong một mái nhà. Sau hơn sáu năm không gặp lại Huyền, kể từ ngày ở tù ra, giờ tại sao trong lòng chàng lại muốn gặp lại Huyền ngay. Chàng nôn nóng được đối diện lại với nàng. Khi xe buýt đến bến xa cảng miền Đông thì Huyền xuống. Đăng không chần chờ cũng xuống xe và chạy theo gọi lớn:
- Huyền... Huyền...!
Huyền quay lại. Thời gian qua không lâu, nên Huyền nhận ra Đăng ngay:
- Anh... Đăng!
Đăng chồm tới nắm chặt đôi tay Huyền, như người chồng nắm tay người vợ sau một thời gian dài không gặp mặt. Đôi mắt chàng thẹn thùng khi nhìn nàng.
- Đi với anh một chút vô quán để nói chuyện đi em! Em có bận gì phải đi ngay không?
Huyền lắc đầu, đôi mắt vẫn còn ngạc nhiên nhìn Đăng châm bẩm, không có vẻ gì giận dỗi trách móc. Một chiếc xe Honda ôm chạy ngang qua, phà khói đầy vào mặt hai người. Đăng vẫn để yên, Huyền quay mặt đi nơi khác để tránh khói, khi quay lại đôi mắt nàng như bị ai thấm nước.
- Em đi giao hàng. Xong rồi, giờ định trở về nhà.
Khi đã gọi hai ly nước xong, nhìn xe qua lại trên đường. Đăng vẫn chưa biết bắt đầu câu chuyện như thế nào. Vẫn như ngày xưa, Huyền lại bắt đầu trước:
- Trông anh lúc này già giặn quá! Ốm và đen. Không còn là... cậu ... học sinh như ngày trước. Cha, lúc này là trung úy ngon quá ta! Mà lính gì vậy?
Không biết trong lòng Huyền vui hay buồn khi nói ra câu này, chỉ thấy miệng nàng đang chúm chím cười. Còn Đăng qua câu nói của Huyền lòng chàng lại thấy tái tê.
- Anh đi lính Sư đoàn 18. Đã bốn năm rồi.
Huyền không còn nét đùa giỡn, lại âu yếm:
- Sao, anh có vợ con gì chưa?
Đăng trả lời ngay, không cần phải suy nghĩ:
- Chưa! Còn em?
Huyền trả lời như trách móc:
- Ai mà chịu lấy em, như em đã có lần nói với anh!
Đăng lấy hai tay mình vuốt trên đôi bàn tay Huyền an ủi:
- Thôi bỏ qua hết đi Huyền! Anh hỏi thật mà! Em có chồng con gì chưa?
Huyền rút một bàn tay của mình ra khỏi lòng bàng tay Đăng, cầm ly nước chanh của mình, không uống, nhưng bóp mạnh:
- Có. Nhưng đã thôi rồi! Cách đây hai năm lận. Giờ em rất sợ đàn ông! Chỉ ở vậy đi buôn bán nuôi con. Em có một đứa con trai bốn tuổi rồi. Còn anh chưa vợ hay là... thôi vợ? Lại ... phụ người ta rồi chớ gì?
- Không, anh nói thật! Vì đi lính nên anh chưa có vợ con.
Huyền trở về thực tế của đời sống hiện tại:
- Bây giờ anh đang đóng ở đâu?
Trời mùa xuân tươi mát! Trên mui của những chiếc xe đò, xe lam chạy theo đường chở đầy những giỏ càn xé dưa hấu và những cành mai: dấu hiệu của ngày Tết! Còn mấy ngày nữa là Tết đến, trong cái không khí chiến tranh đang sôi sục trên quê hương, làm trong lòng người lính nào cũng thấy trĩu nặng. Nhưng Đăng bên cạnh Huyền bây giờ vẫn tìm lại được những dư âm nồng nàn của ngày vừa mới biết yêu.
- Đơn vị đóng ở Long Khánh, nhưng tiểu đoàn anh biệt phái về Biên Hòa để giữ an ninh trong mấy ngày Tết. À, mà ăn một chút gì cho vui không em?
- Em ăn rồi, không đói. Anh đói bụng thì ăn đi!
- Ừ, nhưng ăn với anh cho vui, ăn một mình buồn lắm!
Huyền gật đầu. Đăng gọi chị bồi bàn lại kêu hai tô hũ tiếu. Lúc đang ăn Huyền hỏi Đăng:
- Còn bây giờ anh đi về Sài Gòn chi đây?
Anh được cho đi phép vài ngày trước Tết. Vì Tết cấm trại 100%. Anh định về Sài Gòn mua mấy món đồ để về làm quà cho ông bà già và mấy đứa em.
- À, gia đình anh vẩn còn ở...?
- Ừ, gia đình anh vẫn còn ở Vũng Tàu.
Hai chữ “Vũng Tàu” gợi lại cho Huyền những kỷ niệm ngày xưa: vui có, buồn có, và tù tội, và đã gặp Đăng. Xúc động khi nghe lại địa danh này, nên một lúc nàng mới trở lại câu chuyện:
- Nếu Tết này có buồn vì bị cấm trại thì đến nhà em chơi. Sáng đi chiều về. Chớ ở trong đơn vị suốt cả ngày thì buồn chết! Hay là em sẽ đến thăm anh?
Trời nắng lên, thật quang đãng, Đăng thấy y như trong lòng mình:
- Cám ơn em trước. Ngày ... xưa ...
Huyền khoát tay:
- Thôi bỏ hết đi anh! Giờ mình nên nói chuyện hiện tại.
Nét mặt Đăng vẫn còn ngượng ngập, vụng về:
- Ừ. Thôi. Giờ nên nói chuyện hiện tại thì tốt hơn.
- Rồi bao giờ anh mới về Vũng Tàu?
- Anh định là ngay chiều nay.
Đăng lại ngập ngừng:
- Mà Huyền, giờ anh có được phép đưa em về nhà em không? Anh muốn ghé thăm nhà em một chút.
Huyền tự nhiên:
- Được chớ có sao đâu anh! Nhà em bây giờ ở nơi khác rồi. Không còn ở chỗ cái địa chỉ mà em đã cho anh ngày trước.
- Anh muốn ghé cho biết, để có dịp anh sẽ ghé thăm. Ầ, mà em đang rảnh không? Nếu có thì đi với anh về Vũng Tàu chơi vài ngày. Cho biết nhà anh luôn.
Huyền gật đầu vui vẻ:
- Dạ. Em cũng muốn lắm! Nhưng khoan đã, về hỏi bà già để gởi nhà trước đã. Nếu bà chịu, em sẽ đi, nhưng mà em dẫn con em theo với nha?
Đăng tự nhiên:
- Ừ! Chuyện con cái đâu có gì quan trọng! Dẫn con em cho nó xuống tắm biển ở Vũng Tàu. Còn mình thì ... cũng tắm biển luôn.
Huyền cười:
- Thôi bây giờ đi về, nói vòng vo nãy giờ hơn hai tiếng đồng hồ. Anh còn đi mua quà cáp gì nữa chớ bộ!
- Em không nói chắc anh cũng quên. Gặp lại em rồi anh quên hết! Để anh trả tiền rồi mình đi nha. Trễ rồi!
Ra khỏi quán, trời đã hơi xế bóng. Hai bóng người, một người lính, một đàn bà, in trùng nhau trên nền đất.  Gió Bấc thổi hây hây.


VŨ NAM
(Germany)


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 13/Jan/2018 lúc 9:05am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 10786
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 15/Jan/2018 lúc 8:37am

Nghĩa Tình Thuỷ Chung


Ở xứ sở phương nam này, không có những đợt gió lạnh cắt da như mùa đông xứ bắc, lại càng không có những cảnh tuyết trắng ngập đường như ở Bắc Mỹ hay trời Âu xa xôi. Tuy nhiên, trong mấy ngày gần đây, trời bỗng nhiên se lạnh. Nhiều người dân Sài thành đã bắt đầu diện thêm cho mình những bộ áo mới, dầy hơn, ấm hơn để chống chọi lại với thời tiết bỗng trở nên biến đổi thất thường như thế.

Những ngày cuối cùng của tháng 12, tôi đi tìm kiếm những vị khách mời đặc biệt cho một buổi tiệc mừng tất niên năm Dương lịch.

Những vị khách đặc biệt, không phải là những ông hoàng bà chúa, không có xe hơi, nhà biệt thự lộng lẫy đắt tiền, không địa vị xã hội, không quyền không thế và lại là những người tôi không quen biết. Ở đâu đó, trong góc tối của một con đường, trong một góc công viên, dưới gầm những cây cầu lớn trong thành phố, họ nằm ngủ dưới nền đất lạnh lẽo, đối diện với những con gió lạnh căm với độc một bộ đồ cũ kỹ mặc cho những con gió lạnh lẽo thổi qua và những cái nhìn miệt thị, không mấy quan tâm của người đời. Nơi đó, họ chỉ có những con muỗi và côn trùng làm bạn. Giữa sự phồn vinh của Sài Gòn hoa lệ, họ sống như những chiếc bóng vật vờ, như những viên sỏi nhỏ lặng câm bên vệ đường vì đã bị xã hội, đồng loại tàn nhẫn loại ra ngoài.

Và tôi đã gặp hai người khách đặc biệt trong một đêm đầy sương gió như thế…

Con đường về khuya vẫn còn tấp nập người qua kẻ lại, tiếng kèn xe chốc chốc lại vang lên giữa màn đêm. Bên dưới những cây cầu lớn thường là nơi tá túc, che nắng che mưa của một số người nghèo khổ, sa cơ lỡ vận và ở chỗ cây cầu lớn này cũng không ngoại lệ. Một người đàn ông gầy gò đang lui cui bế một phụ nữ từ chiếc xe lăn và nhẹ nhàng đặt xuống manh chiếu rách. Sau đó, ông lấy ra từ trong cái túi đồ đã bạc thếch một cái mền nhỏ màu trắng với những vết bẩn loang lổ và đắp lên cho người phụ nữ. Từ từ, ông lấy ra một cái áo, cuộn lại làm thành một cái gối và kê vào bên dưới đầu. Xong đâu đấy, ông mắc một cái võng và nằm lên, mắt nhìn xuống người phụ nữ đang nằm bên dưới và dường như hai người đang cười với nhau. Khi tôi quay xe lại thì cả hai đã yên vị đâu đó và có vẻ như đã sẵn sàng cho giấc ngủ đang đến.

-- Có chuyện gì không hả cháu? Người đàn ông ngước mắt lên nhìn tôi, tay đang cầm cái mũ màu đen đầy cáu bẩn.

- Dạ không ạ! Tại thấy chú nằm ngủ ở đây nên cháu đến hỏi thăm chút thôi ạ. Đây là mẹ của chú à?

- Ha ha! Vậy à? Ai cũng hỏi như vậy hết! Không phải đâu! Đây là vợ chú đấy!

Tôi đã lầm! Người phụ nữ đang nằm kia có mái tóc bạc trắng, da nhăn nheo và đôi tay gầy guộc gân guốc như que củi. Nhưng hoá ra, đó là một người phụ nữ mới 55 tuổi. Nghe có tiếng động, bà mở mắt ra nhìn tôi, đôi môi nở một nụ cười méo mó rồi nhắm mắt lại. Đôi mắt kia ánh lên một nét gì đó rã rời, cùng kiệt.

Và rồi, người đàn ông bắt đầu kể lại cho tôi nghe câu chuyện cuộc đời chú bằng một giọng điệu trầm buồn…

Chú là Hoàng, hơn vợ 4 tuổi. Chú vốn là người Bạc Liêu, đã từng có một gia đình đàng hoàng, vui vẻ. Cô chú từng có một đứa con trai, nhưng năm lên 4 tuổi, cháu bị ung thư máu. Bao nhiêu tiền bạc trong nhà cứ lần lượt đội nón ra đi. Cô chú làm lụng được bao nhiêu cũng đều dành cả để lo thuốc thang cho con với ước mong cháu bé có thể sống thêm được lúc nào hay lúc ấy. Ban đầu, gia đình có một mảnh vườn trồng cây ăn trái, cộng thêm nghề thợ may của cô nữa nhưng vẫn không đủ tiền thuốc thang cho con. Mảnh vườn cuối cùng phải sang lại cho người khác nhưng bệnh tình con trẻ vẫn không mấy khả quan. Và rồi, cuối cùng vào một buổi chiều mưa định mệnh, cậu bé đã ra đi trong sự tiếc thương và đau xót của cha mẹ và người thân. Sau đó không bao lâu thì cô lại bị chứng tai biến mạch máu não và bị bại liệt luôn. Thương vợ, chú bán hết tất cả tài sản trong nhà để chạy chữa thuốc thang và đi làm nghề chạy xe ôm. Bà con, bạn bè giúp mãi rồi cũng chán, phàn nàn lời ra tiếng vào nên chú quyết định không dám nhờ vả, xin xỏ gì ai nữa. Nghề xe ôm cũng vắng khách và rồi đến lúc xe hư, chú không có tiền sửa. Ít lâu sau, chiếc xe cũng được thanh lý với cái giá chẳng được là bao. Vợ chồng chú phiêu bạt đó đây, lưu lạc lên đến đất Sài Gòn hoa lệ. Chú xin đi làm thợ hồ và bốc vác thuê. Đi đâu, chú cũng mang cả cô theo cùng. Ban đầu, người ta còn thuê mướn, nhưng về sau, thấy chú lúc nào cũng kè kè theo sau người vợ bệnh hoạn, tật nguyền, kể cả những khi ra ngoài công trường, người ta đâm sợ bị liên luỵ, phải gánh thêm trách nhiệm nên không thuê mướn nhiều nữa.  Nhưng chú có thể gởi vợ ở đâu bây giờ? Để ở vỉa hè một mình không thể được! Ai lo chuyện ăn chuyện uống? Ai lo chuyện tắm giặt, vệ sinh? Nào ai có thể giúp chú được đâu, còn nếu bỏ vợ ở lại một mình thì chú cũng không thể an tâm làm việc được! Thôi thì đành vậy! Ai thuê thì làm, bao nhiêu cũng được, được ít tiền nhưng còn được có vợ mình bên cạnh vẫn tốt hơn!

Tôi nhìn chú bằng ánh mắt ngỡ ngàng và cảm phục! Trong cái xã hội xô bồ của chốn thị thành, trong sự phồn vinh và thế giới ưa chuộng về vật chất này, tình cảm vợ chồng chỉ còn mơ hồ như sương khói. Người ta chia tay nhau sau vài tuần đám cưới chỉ vì một điều gì đó không hợp nhau. Người ta xa nhau để đi tìm kiếm danh vọng, địa vị cho mình. Và đôi khi có những cặp vợ chông trẻ chia tay nhau vì không thấy thoả mãn về đối phương… Nếu ông ăn chả thì bà cũng ăn nem, làm gì có chuyện “một túp lều tranh, hai quả tim vàng”, những chuyện sống với nhau đến răng long đầu bạc thì quả là đếm được trên đầu ngón tay. Người ta ai cũng mong mình được tự do, không bị trói buộc, nghĩa tình tao khang nào có còn ai nhớ đến?

Vậy nhưng chú, người đã đánh đổi hết tất cả những vật chất thế gian để giữ lại bên mình người vợ tật nguyền. Có mấy người dám bán hết đất đai, nhà cửa để lo cho vợ và rồi cuối cùng phải ra sống nơi gầm cầu? Mấy ai có thể tận tâm chăm sóc, lo lắng cho người vợ tật nguyền, đau bệnh như vậy mà vẫn không hề kêu ca, than trách? Chú hoàn toàn có thể rời bỏ cô đi cho nhẹ gánh, việc gì phải mang lấy vào mình một gánh nặng như thế! Vậy mà chú vẫn cưu mang, lo lắng cho vợ như một tặng phẩm vô giá cho mình đã gần 10 năm nay!

Tôi hỏi xem chú có cần giúp đỡ gì không. Chú cười, một nụ cười bâng quơ mà chua chát. Có lẽ, chú cảm thấy nghi ngờ, không còn tin tưởng, không còn hy vọng gì vào lòng tốt của thế gian nữa chăng! Câu nói của tôi làm chú nghĩ như một trò đùa!

-          Cháu có thể giúp được gì cho chú hả? Chú hỏi lại tôi

-          Cháu có thể chứ! Còn nếu không được, thì cháu sẽ nhờ thêm người khác nữa!

-          Vậy à? Chú im lặng hồi lâu. – nếu được, chú chỉ muốn tìm một nơi nào đó có mái che hẳn hoi để vợ chú có được một nơi để ngủ cho đàng hoàng hơn, không phải sợ mưa gió như bây giờ nữa. Khi ấy, chú sẽ an tâm hơn, sẽ đi làm được nhiều hơn để có thêm tiền lo cho bà ấy, để bà ấy không phải khổ như bây giờ nữa…

Câu nói thốt ra từ miệng một người đàn ông dãi dầu mưa nắng, đang lâm cảnh túng thiếu bần cùng nhưng thấm đẫm một tình yêu thương nồng nàn của một người chồng nặng tình với vợ. Chú không mong muốn, không cần thêm gì cho mình cả, nhưng chỉ mong cho người bạn đời được bớt khổ sở hơn thôi. Giữa thế giới đầy toan tính vật chất, nhiều tiền của nhưng thiếu thốn tình người, nhiều tham vọng mà thiếu vắng lòng chung thuỷ này thật là quý báu lắm thay! Bàn tay gân guốc và chai sạn kia không nắm giữ tiền bạc, vàng ròng nhưng là đang nắm giữ và chở che cho một bàn tay người khác…

Đêm nay, tôi trở lại nơi này để mời cô chú đi dự một bữa tiệc đặc biệt của một số Mạnh Thường Quân tổ chức để ủng hộ cho những người khó khăn, cơ nhỡ. Và hơn nữa, tôi mong chú đến dự bữa tiệc để may ra có thể tìm được một sự giúp đỡ nào đó chăng. Dù chỉ là ánh sáng của một que diêm vẫn còn hơn là sống trong màn đêm đầy tăm tối. Tôi thầm mong là chú sẽ chấp nhận lời mời của tôi.

Nơi hai vợ chồng chú thường nằm ngủ đây rồi. Nhưng chiếc võng đâu? Cả chiếc xe lăn cũng không thấy? Chỉ thấy một mình chú đang nằm đó, co ro. Hay là chú đã tìm được một nơi nào đó tốt hơn để gởi vợ rồi? Nếu như thế thì chú phải ở lại đó chứ, sao lại về đây nằm một mình như vậy? Trong lòng tôi thấy dâng lên một niềm vui.

Chú đã ngủ rồi, vẻ mặt vẫn khắc khổ và mệt nhọc. Trên đầu chú vẫn là chiếc nón kết cáu bẩn như hôm nào. Bên cạnh không có thêm vật gì khác nữa ngoài một chai nước nhỏ đặt trước mặt. Thấy chú đã ngủ say nên tôi cũng ngại đánh thức. Tôi phải lay gọi mãi đến lần thứ ba mới thấy chú cựa mình và mở mắt nhìn tôi.

-          Cháu đó à? Chú thều thào hỏi. Có chuyện gì không hả? Vợ chú đã mất 3 hôm rồi cháu ơi. Bây giờ chú đã mất hết rồi! Mất hết tất cả rồi! Không còn gì cả!

Tôi đứng chết lặng người, không biết nên làm gì trong lúc này. Tôi còn chưa giúp được gì cho vợ chồng chú như đã hứa. Tôi cảm thấy mình quả thật bất lực. Tôi những mong mình có thể thắp lên trong chú một chút ánh sáng nhỏ nhoi, nhưng đã quá muộn rồi, tất cả đã trở thành bóng tối!

Cuộc đời này sao quá mong manh vậy? Kiếp sống thoảng qua, một tiếng thở dài… Vậy là hết! nhưng điều tôi phải nghĩ ngợi chính là bộ dạng thất vọng của chú. Chú không ngồi lên, chỉ nằm đó và thốt lên những lời cay đắng kia. Nói xong, chú kéo cái mũ sụp xuống che kín khuôn mặt như đang giấu đi đôi dòng lệ đang lặng lẽ tuôn rơi trên khuôn mặt dặn dày sương gió. Chú không nhẹ nhõm, không thở phào đi vì mình đã được vơi bớt gánh nặng mỗi ngày. Chú không thấy rằng như vậy sẽ làm cho mình được thoải mái hơn nhưng lại có thể đau đớn thốt lên rằng mình đã “không còn gì cả!”. Ôi, vợ đã mất rồi! Niềm vui nho nhỏ cuối cùng trong cuộc đời này đã mất theo!

Giờ đây, chú không còn ai để quan tâm, để lo lắng, không còn ai để chăm sóc thương yêu. Trong cuộc sống này, chú không cần bất cứ thứ gì cả nhưng chỉ cần một người thôi, dù là một người bệnh hoạn, tật nguyền đi chăng nữa. Nhưng đó là tất cả của chú, một người vợ để thương yêu, một người bạn đời để chăm sóc, chia sẻ vui buồn. Từ nay, không còn ai để yêu thương! Thật không còn nỗi cô đơn nào hơn được nữa! Ai có thể thay thế, lấp đầy hố sâu thăm thẳm trong tâm hồn của chú đây? Cuộc sống từ đây còn biết lấy ai để chia sẻ, còn có ai để cùng chú trải qua những thăng trầm, buồn vui trong đời và còn có ai để cho chú tìm được hơi ấm của bàn tay?

Tôi có thể nói gì đây, trong hoàn cảnh như thế này? Một người đang đau buồn, tuyệt vọng vì mất người thân. Tôi có thể nói gì với một người có vết thương lòng đang rỉ máu? Mời chú đi dự tiệc ư? Tôi có thể sao? Tôi đang chế giễu, đang cười nhạo người khác ư? Bây giờ, chú đâu còn cần gì những sự giúp đỡ ấy nữa? Tôi cảm thấy mình cũng thật nhỏ bé và mỏng manh trước những cơn gió lạnh đang thổi ngoài kia.

Tôi ngồi lại với chú thêm một lát nữa rồi lặng lẽ ra về. Tôi biết, đêm nay, trong thành phố này, có người sẽ cảm thấy lạnh hơn…

Trời đêm Sài thành hôm nay có vẻ như lạnh hơn. Lạnh của đất trời và lạnh cả trong tim…

Phong Trần.
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 10786
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: Ngày hôm qua lúc 10:25am

Cơn Nước Lũ


con%20nuoc%20luThấy một thanh niên trông quen quen, mặc quân phục Hải Quân, đi ngược chiều với mình, Thạch chậm Vespa lại. Nhận ra người bạn thân hồi trước học trường Hưng Đạo rồi sau cùng vào Đại Học Khoa Học với chàng, Thạch thắng Vespa, reo lên:

-Luân! Phải Luân không?

Chàng Hải Quân ngạc nhiên:

-Ủa, Thạch! Mày làm gì mà mặc đồ Biệt Động Quân “ngon” vậy?

-Tao bị động viên vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức; ra trường, xin về Biệt Động Quân. Còn mày, đi Hải Quân hồi nào? Tao nhớ hình như mày nhỏ tuổi hơn tao mà.

-Ừ, tao chưa bị động viên; nhưng thấy bạn bè nay đứa này “lên đường”, mai đứa kia bị thương, mốt đứa khác tử trận, tao chịu không được, tình nguyện vào Hải Quân.

-Hải Quân mà giờ này lang thang ở đây?

-Chiến hạm vừa về nghỉ bến, tao muốn ghé thăm bà Cô để nhờ nhỏ em chở giùm về nhà Bố Mẹ tao. Còn mày?

-Tao đi phép về thăm gia đình. Mày đi đâu, tao chở mày đi?

Vừa “phóng” lên phía sau Vespa Luân vừa nói:

-Cảm ơn mày. Cô tao ở gần đây thôi.

-Có phải bà Cô mà hồi trước tụi mình thường tới chơi rồi đàn hát “lung tung beng” hay không?

-Đúng rồi.

-Vậy thì tao nhớ rồi.

Thạch chợt nhớ Cô có người con gái đàn và hát rất hay, nhưng chàng không nhớ tên; vì lúc đó cô bé còn nhỏ, chưa gợi được sự chú ý của thanh niên.

Thạch dừng Vespa trước nhà Cô. Luân bước xuống, chưa kịp cảm ơn Thạch thì Thủy Ngọc – con gái của Cô – đi học vừa về. Thủy Ngọc vui mừng chào Luân và Thạch rồi đi vào nhà. Ánh mắt của Thạch không rời Thủy Ngọc.

Thấy ánh mắt của Thạch, Luân hơi phân vân; vì biết Chú của chàng không thích nhà binh – nhất là sĩ quan thuộc các quân binh chủng “thứ dữ” – vì Ông ngại con gái của Ông sẽ…Nhưng nếu, ngay bây giờ, Luân từ giả người bạn thân từng học chung, đi biểu tình chung, từng “văn nghệ văn gừng” với nhau trên các sân trường đại học thì Luân không đành!

May quá, nhờ Thủy Ngọc cho biết có Luân và Thạch đến thăm, Cô bước ra cửa:

-Luân! Sao không đưa bạn vô nhà chơi, con?

Luân chưa kịp đáp, Thạch đã vội dựng Vespa, cúi chào:

-Dạ, kính chào Cô. Lâu rồi mà Cô vẫn nhận ra cháu.

-Cháu bận đồ lính thấy khác thật, nhưng Cô vẫn nhận ra. Vô chơi, cháu.

Từ hôm đó, mỗi ngày Thạch đều đến Bến Bạch Đằng, lên chiến hạm HQ505, rủ Luân đi thăm Cô. Như dạo còn đi học, mỗi khi đến nhà Cô, Thạch thường đệm Guitar, Luân đàn Piano, Thủy Ngọc đàn Violon; đôi khi ba người thay đổi nhạc cụ hoặc cùng hát bên nhau.

Sau đó, mỗi khi về phép, Thạch đều đến nhà Cô để thăm Thủy Ngọc. Thời gian này Thủy Ngọc đã trở thành một thiếu nữ cao, với những đường nét rất cân đối cùng gương mặt xinh đẹp, nhân hậu và đôi mắt nâu thơ dại. Chính nét thơ dại trong đôi mắt nâu nồng nàn và khuôn mặt phản phất vẻ đẹp Tây Phương cùng với tiếng đàn, tiếng hát của Thủy Ngọc mà rất nhiều chàng trai say mê, theo đuổi nàng.

Thạch thầm tiếc là thời gian trước đây, cùng Luân đến thăm Cô và biết Thủy Ngọc học cùng trường, Thạch đã không hề để ý đến cô bé con, người còn “suôn đuột”, “chưa có ngực”. Bây giờ, mỗi lần về phép là mỗi lần hồi hộp, vì Thạch không biết Thủy Ngọc đã bị ai chinh phục hay chưa!

Riêng Thủy Ngọc, dù biết Bố không thích nàng giao thiệp với nhà binh, nàng cũng vẫn bị cuốn hút vì bộ quân phục thẳng nếp, mái tóc cắt ngắn, làn da sạm nắng, dáng đi hiên ngang, đôi mắt nhìn thẳng và thái độ tự tin.

Tình yêu trong lòng Thủy Ngọc và Thạch âm thầm nảy sinh cho nên chàng và nàng thường chọn những tình khúc có lời ca ướt lệ để cùng đàn, hát bên nhau.

Những khi vắng Thạch, Thủy Ngọc thường thẩn thơ một mình, nét mặt buồn buồn và đôi mắt xa xăm như mong ngóng một điều gì! Khi Thạch về phép, ghé thăm, Thủy Ngọc tươi cười, líu lo như chú chim non vừa sổ lồng.

Mỗi khi thấy sự thay đổi thái độ nhanh chóng của Thủy Ngọc, Bố Mẹ của nàng tự hỏi, tại sao Thủy Ngọc không vui tươi, hớn hở đối với những thanh niên khác, có bằng cấp và địa vị cao, đang cố chinh phục nàng mà nàng lại chỉ vui tươi hớn hở với Thạch thôi?

Không những thế, khi Thạch và Thủy Ngọc cùng đàn và hát bên nhau, Bố Mẹ của Thủy Ngọc để ý: Dư Âm là tình khúc Thủy Ngọc và Thạch cùng đàn và hát nhiều nhất; kế đến là Love Me Tender. Bố Mẹ của Thủy Ngọc không hiểu tiếng Anh, nhưng động từ “love” thì Bố của Thủy Ngọc biết. Thế là Bố chỉ cần nhớ chữ “tender” rồi phiên âm ra tiếng Việt, hỏi Luân. Luân vô tình và ngay thật cho Bố biết đó là tựa một tình khúc của Elvis Presley. Bố bảo Luân dịch lời ca ra tiếng Việt.

Sau khi hiểu rõ lời ca, Bố Mẹ trực tiếp cho Thạch hay rằng Ông Bà không cho phép Thủy Ngọc giao thiệp với Thạch nữa!

******

Nơi hậu trường, cách sân khấu bằng một tấm màn dày, thấy Thủy Ngọc đang hóa trang cho màn trình diễn thời trang, thái độ rất vui và tự tin, Thầy phụ trách văn nghệ hỏi:

-Thủy Ngọc! Sẵn sàng cả rồi chứ?

-Dạ, thưa Thầy…

Vừa nói ngang đó, Thủy Ngọc chợt dừng lại; vì giọng Tenor của ai nghe quen quen, vang lên từ bên kia bức màn ngăn cách sân khấu và hậu trường: “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ. Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ…”(1) Thủy Ngọc nhíu mày, đứng lặng như pho tượng! Nhưng trong tiềm thức, tình yêu nàng âm thầm dành cho Thạch bỗng cuồn cuộn trổi dậy như cuồn phong!

Riêng Thạch, sau khi bị Bố Mẹ của Thủy Ngọc yêu cầu đừng liên lạc với Thủy Ngọc nữa, Thạch rất buồn và thất vọng! Những lúc hành quân truy kích hoặc trực thăng vận nhảy ngay trên đầu địch, Thạch quên mất nỗi buồn; nhưng khi rảnh rỗi hoặc nghe ai đàn, hát một nhạc phẩm mà chàng và Thủy Ngọc thường đàn và hát bên nhau thì nỗi buồn và sự thất vọng kéo về, đè nặng trong tim! Giờ đây, đang diễn đạt tất cả nỗi niềm của tác giả và cũng là niềm đau của chàng, giọng Thạch trở nên tha thiết vô cùng: “…Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời….Anh như lầu vắng em như ánh trăng reo muôn ý thơ…Tim anh băng giá đang nhại ngùng câu năm tháng mong chờ…”(2)

Mấy năm qua, những kỷ niệm khi Thạch và nàng cùng đàn hát bên nhau tưởng đã chìm vào dĩ vãng; nhưng bây giờ, tiếng hát cao vút của ai bên kia tấm màn lại làm cho trái tim của Thủy Ngọc thổn thức âm thầm – nhưng rất dữ dội!

Thái độ của Thủy Ngọc làm Thầy phụ trách văn nghệ thắc mắc:

-Thủy Ngọc! Chị bình an chứ?

-Dạ…thưa Thầy, ai…ai… đang hát ngoài đó, thưa Thầy?

-Nhận không ra giọng à? Thạch đó. Thạch hồi trước cũng trong ban văn nghệ với Luân và Thủy Ngọc đó, nhớ không?

-Dạ thưa Thầy, hôm tổng dợt, sao con không thấy màn đơn ca của anh Thạch trong chương trình?

-Hôm qua Thạch ghé thăm trường, biết trường có buổi văn nghệ đêm nay, Thạch xin hát một bài. Nhận thấy Thạch là học trò cũ, năng khiếu văn nghệ cao, lại lên đường tòng quân, tôi cảm phục và chấp thuận. Thôi, chị chuẩn bị đi, sắp đến phiên chị đó.

Nói xong, Thầy quay đi. Thủy Ngọc thở dài vừa khi Thạch chấm dứt màn đơn ca trong tiếng vỗ tay vang dội; rồi nhiều tiếng “bis…bis…” vang lên. Thạch nói vào micro:

-Xin cảm ơn quý vị, quý Thầy Cô và các bạn. Tiếp theo, Thạch xin trình bày tình khúc My Heart Will Go On của Celine Dion

Lại tiếng vỗ tay. Thạch dạo đàn rồi “bắt” vào: “Every night in my dreams, I see you, I feel you that is how I know you go on. Far across the distance and spaces between us you have come to show you go on…” Theo giọng hát buồn buồn của chính mình, Thạch nhớ những buổi chiều im vắng, sau khi hành quân trở về, chàng thường ôm Guitar, vừa đàn vừa hát vừa nhìn dòng suối cạn phía xa trong khi hoàng hôn lũ lược kéo về phủ xuống núi rừng thâm u.

Nơi vùng núi rừng thâm u đó, mỗi khi đoàn quân dừng chân, Thạch thường chạnh lòng nghĩ đến phận đời của chàng và của những thanh niên cùng thế hệ với chàng – ở miền Nam – rời gia đình, xa người thân và bạn hữu, phải hành quân liên miên để chống trả những đợt tấn công ác liệt của Bắc quân xâm lược!

Suốt thời gian được tăng phái, Thạch không thể nhớ được bao nhiêu lần đơn vị chiến lược này bị “tiền pháo, hậu xung” và bị tấn công bằng chiến thuật “biển người”. Thạch chỉ nhớ lần cuối cùng, để giải tỏa áp lực của Bắc quân quanh đơn vị chiến lược này, đơn vị của chàng được lệnh tham dự cuộc hành quân hỗn hợp với một đơn vị Bộ Binh, vào một ngày mưa to gió lớn, có thiết giáp yểm trợ để càn quét các đơn vị Cộng Sản Việt Nam từ Bắc xâm nhập.

Chính trong cuộc hành quân quy mô này Thạch bị Bắc quân dùng súng CKC bắn sẻ, khi Thạch đang khom người điều quân qua ống liên hợp. Viên đạn trúng chân trái của Thạch. Thạch và Tiểu Đoàn Trưởng Thiết Giáp xin trực thăng tải thương; nhưng thời tiết quá tệ và cũng vì súng phòng không của địch bắn lên xối xả, trực thăng không thể “bốc” thương binh!

Khi được đưa về quân y viện, vết thương đã sưng to và làm độc!… Nhớ đến đây, giọng Thạch trở nên nghẹn ngào, đầy u uất:“…And my heart will go on and on. Love can touch us one time and last for a lifetime and never let go till we’re gone…”

Trong khi nén xúc động, cố kềm nước mắt để Thầy và bạn khỏi biết, Thủy Ngọc chợt nghe các nam sinh “xầm xì”:

-Anh Thạch “hết sẩy”! Ảnh “ngon” thiệt!

-Tội nghiệp ảnh quá!

Hai tiếng “tội nghiệp” khiến Thủy Ngọc tò mò. Bước đến bên trái sân khấu, nhìn ra, Thủy Ngọc ôm ngực, tưởng như trái tim của nàng đã thoát khỏi lồng ngực! Trước mắt nàng, Thạch – trong quân phục Biệt Động Quân, mũ nâu vắt hờ vào cầu vai trái – đang ngồi trên ghế, chiếc nạn gỗ dựa thành ghế, hai tay của Thạch ôm Guitar. Thạch tựa thùng Guitar lên bắp vế chân phải và đệm theo tiếng ca não nùng của chàng. Như không tin vào mắt mình, Thủy Ngọc cố thay đổi vị thế nhưng nàng cũng chỉ thấy một chiếc giày trận bên chân phải của Thạch thôi!

Trong khi Thủy Ngọc run rẩy, nước mắt nhạt nhòa thì Thạch hát đến câu cuối: “…We’ll stay forever this way. You are safe in my heart. And my heart will go on and on.” Thạch cúi chào. Cả hội trường vừa vỗ tay vừa đứng lên.

Thủy Ngọc hy vọng rằng Thạch sẽ vào hậu trường bằng cánh trái để nàng có dịp trực diện với chàng; nhưng, không hiểu vì vô tình hay cố ý, Thạch rời sân khấu bằng cánh phải. Thủy Ngọc ôm mặt, khóc như mưa!

Vài cô bạn cho Thầy phụ trách văn nghệ biết sự việc đang xãy ra cho Thủy Ngọc. Thầy đến, đưa Thủy Ngọc ra sau tấm màn:

-Tại sao chị lại xúc động quá độ như vậy?

Tự nhủ, sẽ không để niềm đau thương của riêng mình ảnh hưởng đến buổi văn nghệ mà toàn trường đã dày công tập luyện, Thủy Ngọc trở nên bình tĩnh một cách lạ thường:

-Thưa Thầy, con xin lỗi. Như Thầy biết, anh Thạch là bạn cùng lớp với anh Luân của con. Anh thạch thường đến nhà con hòa đàn với anh Luân và con. Bây giờ, bất ngờ thấy anh Thạch như thế con chịu không được!

-Tôi hiểu. Chị nghĩ chị có vững tinh thần để giữ tiết mục độc tấu Violon hay không?

-Dạ, thưa Thầy…

Bất ngờ một ý nghĩ thoáng qua, Thủy Ngọc tiếp:

-Thầy cho con xin một đặc ân, được không ạ?

-Vâng, chị cứ nói.

-Thưa Thầy, con xin Thầy cho con được đổi mục độc tấu bằng mục đơn ca.

Đã từng nghe Thủy Ngọc hát nhiều lần trong những buổi văn nghệ trước đây, Thầy gật đầu:

-Vâng. Chị cho người giới thiệu chương trình biết sự thay đổi này và cho anh đàn Guitar biết “tông” và nhịp điệu của bản nhạc, nhé!

-Dạ. Con xin cảm ơn Thầy.

Sau khi nghe người điều khiển chương trình giới thiệu Thủy Ngọc sẽ trình bày ca khúc Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy, Thạch cảm thấy bồi hồi, xúc động! Nhìn dáng Thủy Ngọc thướt tha bước ra, cúi chào, đến sau micro rồi kéo micro cao hơn, Thạch tự hỏi, không biết tình cờ Thủy Ngọc chọn ca khúc này hay là…Thạch thở dài, lắc đầu, không muốn nghĩ tiếp.

Dạo phân đoạn đầu xong, người đàn Guitar “rải” một tràng hợp âm và Thủy Ngọc “bắt” vào: “Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về… Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ. Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân…” Nét mặt thống khổ, hai hàng nước mắt tuôn dài cùng tiếng ca nức nỡ của Thủy Ngọc khiến tất cả khán giả bàng hoàng đến sửng sờ!

Đến đoạn điệp khúc, giọng Soprano của Thủy Ngọc vút cao: “…Anh trở về nhìn nhau xa lạ. Anh trở về dang dở đời em. Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen. Cố quên đi một lần gian dối, anh ơi!…”. Một quân nhân mặc quân phục Biệt Động Quân, chống nạn, khập khểnh rời hội trường; vì trái tim của quân nhân này không thể nhận thêm bất cứ sự đau đớn, dày vò nào nữa!…

******

Thấy Luân cùng với Bố Mẹ đến thăm, Ni Cô Diệu Thu rất ngạc nhiên; càng ngạc nhiên hơn nữa khi Ni Cô thấy thái độ của Luân rất bối rối, bồn chồn và Bố Mẹ thì lo âu, buồn bả, chứ không bình thản như những lần Bố Mẹ đến thăm nàng trước đây. Luân nhập đề ngay:

-Ni Cô có theo dõi thời sự hay không?

-Dạ không. Nhưng em nghe nhiều Phật tử bàn tán.

-Cô Chú muốn tôi đưa lên đây để thuyết phục Ni Cô cùng di tản với gia đình.

-Thưa Bố Mẹ, thưa anh, con đã an trú cửa Phật rồi thì đâu có gì mà phải di tản?

-Ni Cô chưa hiểu bản chất của Cộng Sản đâu. Ni Cô nên nghe lời, về nhà cùng đi với gia đình; gia đình không bao giờ ra đi mà để Ni Cô ở lại.

Quay sang Bố, Ni Cô giải thích:

-Thưa Bố Mẹ, người đã thành tâm xuất gia thì không bao giờ chọn sự sung sướng cho bản thân mà chỉ cầu an vui cho tha nhân. Con chỉ muốn sớm tối nương tựa cửa Phật và phát huy đạo pháp.

Giọng Bố rất buồn:

-Nếu Ni Cô muốn phát huy đạo pháp thì Ni Cô nên đi với gia đình; dù gia đình cũng chưa biết sẽ đi đâu và đến đâu. Nhưng gia đình – nhất là các em trai của Ni Cô – không thể nào ở lại với Cộng Sản. Đến bất cứ đâu, Ni Cô cũng có thể rao truyền về Phật Giáo để cảm hóa con người.

-Thưa Bố, nếu muốn cảm hóa con người một cách thiết thực thì con nên ở lại Việt Nam để cảm hóa những kẻ ác – những kẻ đã tạo ra không biết bao nhiêu đau thương cho dân tộc Việt Nam!

Rất ngạc nhiên trước sự suy luận rất hiện thực của Ni Cô, nhưng Bố vẫn thuyết phục:

– Ni Cô nên nhớ, ở ngoại quốc rất ít người theo đạo Phật; Ni Cô nên ra đi để có cơ hội giúp người ngoại quốc hiểu về Phật Giáo.

-Thưa Bố, con nghĩ, trên thế giới, bất cứ người nước nào cũng có nhiều thiện tâm hơn người Việt mình; thế thì người ngoại quốc không cần con phải đem đạo lý của Đức Phật ra giảng cho họ.

-Lý do nào Ni Cô lại nói như thế?

-Bố và anh Luân nghĩ xem, trên thế giới có quân đội nào xua quân tàn sát gần như trọn vẹn dân chúng của một thành phố lớn, như Huế, năm 1968? Có quân đội nào mỗi ngày pháo kích cả ngàn quả đại pháo hoặc hỏa tiễn 120 ly vào các thành phố đông dân cư, như Bình Long, An Lộc rồi pháo kích ngay vào trường học Cai Lậy và bệnh viện Long An? Có quân đội nào pháo kích chính xác và điên cuồng vào đoàn dân chạy loạn từ Quảng Trị vào Huế năm 1972 và từ Đà Nẵng sang Tiên Sa vào tháng cuối Ba năm 1975? Có quân đội nào đưa ra chiến trường thanh niên 15, 16 tuổi rồi buộc những thanh niên này phải thực hiện chiếc thuật biển người? Có quân đội nào, ngay sau khi cưỡng chiếm được mục tiêu, đã xua đuổi tất cả thương binh ra khỏi những quân y viện của “bên thua cuộc”? Câu giải đáp là: Chỉ có Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt mới vô nhân tính khi thực hiện những hành động tàn ác đó. Những hành động dã man như thế không thể gọi là chiến đấu.

-Nếu Ni Cô hiểu được như thế thì Ni Cô càng nên ra đi, xa lánh kẻ ác. Nơi môi trường mới Ni Cô cũng vẫn có thể hoành dương đạo pháp.

-Thưa Bố, nếu cần phải dùng tín ngưỡng để cảm hóa con người thì chúng ta nên dùng tín ngưỡng để cảm hóa kẻ ác trước; và kẻ ác cần phải cảm hóa chính là những người Cộng Sản Việt Nam; vì họ đã bị đầu độc, bị cổ xúy, rồi dùng vũ khí của Nga, Tàu và tất cả mọi thủ đoạn để giết người miền Nam với chủ đích cướp đi phần đất mà chính những kẻ ác đó đã đồng ý phân chia từ năm 1954!

Luân có vẻ sốt ruột:

-Chúng ta không có thì giờ để tranh luận. Ni Cô nên nghe lời Cô Chú kẻo Cô Chú buồn.

-Thưa Bố Mẹ, con xin lỗi Bố Mẹ. Bố Mẹ cho con ở lại để con được thực hiện hạnh nguyện của con.

Đến lúc này, không thể kềm giữ tình cảm được nữa, Mẹ khóc ròng:

-Con ơi! Bố Mẹ chỉ có con là con gái, không hiểu vì lý do gì con đi tu, Mẹ đã đau buồn nhiều lắm rồi! Bây giờ con lại đành đoạn ở lại thì Mẹ sống sao nỗi, con ơi!

… Kể đến đây, Luân cảm thấy đau lòng quá, vội nhìn xuống để Thạch không thấy đôi mắt ửng đỏ của Luân. Cả hai im lặng rất lâu. Nhìn vùng biển lao xao phía xa của trại tỵ nạn Orote Point, Guam, tâm trí của Thạch quay cuồng. Cảm giác hụt hẩng và trạng thái chối bỏ quyện vào nhau khiến Thạch cảm thấy nhức đầu và gần như ngộp thở! Cảm giác này cũng tương tự như buổi sáng năm nào, tại quân y viện Pleiku, Thach tỉnh lại, nhận ra chân trái của chàng không còn nữa!

Luân hỏi:

-Thạch! Lần cuối cùng mày thấy hoặc gặp Thủy Ngọc là lúc nào?

Thạch kể lại diễn tiến buổi văn nghệ liên trường. Luân thở dài:

-Thế thì tao hiểu rồi. Tội nghiệp em tao! Nó giữ kín niềm đau, gia đình không ai biết. Tại sao mày bị thương mà mày cũng giấu tao?

-Vì mày biết thì Thủy Ngọc biết.

-Nếu thế thì mày tham dự văn nghệ liên trường để làm gì?

-Tình cờ ghé thăm trường tao mới biết có buổi văn nghệ đó. Tao suy nghĩ và muốn đích thân tao giải bày nỗi niềm của tao với Thủy Ngọc chứ tao không muốn người khác mách lại.

Bất ngờ nghe Luân vô tình nói tên ngôi chùa mà Thủy Ngọc đang tu, tâm trạng của Thạch rối bời và trí óc quay cuồng! Sau khi bằng lòng với quyết định của mình, Thạch bảo:

-Thôi, tao đi!

-Đang sắp hàng lấy phần ăn, sắp tới phiên rồi, sao mày lại bỏ đi?

Thạch vẫy tay, khập khểnh bước đi…

******

Nhờ số tiền những người di tản biếu trước khi Thạch trở về trên thương thuyền Việt Nam Thương Tín – khi Thạch bị giam tại Nha Trang, ban quản giáo tịch thu hơn một nửa – Thạch đi xe đò về Saigon, đến ngay ngôi chùa mà Luân đã vô tình nói tên.

Sư Cô trù trì cho Thạch biết, lý do Ni Cô Diệu Thu xin hoàn tục là vì Bố Mẹ của Ni Cô bị “cách mạng” cho đi kinh tế mới. Ni Cô biết Bố Mẹ không quen lao động cực nhọc, Ni Cô muốn nhận lãnh trách nhiệm của người con bất hiếu! Bao giờ Bố Mẹ quy tiên, Ni Cô sẽ trở lại con đường tầm đạo!

Đến nhà Thủy Ngọc, chỉ thấy những kẻ quê mùa, đen đúa, còi cọc và hầu như ai cũng có đôi má gồ, răng vẩu, đầy cáu bẩn, đôi mắt láo liêng như rình rập ai, như sợ sệt điều gì và phát ngôn the thé thứ tiếng Bắc rất lạ tai, Thạch than thầm: “Những kẻ này mà thắng mình được sao, Trời!”

Đến nhà Bố Mẹ của Luân, Thạch cũng chỉ thấy những người của “bên thắng cuộc”!

Thạch về nhà Cha Mẹ. Một người đàn ông – cũng da xanh mét, răng hô, má gồ và đôi mắt láo liêng như sợ sệt, như theo dõi ai – bước ra, hỏi:

-Anh cần gì?

-Cách nay không lâu, tôi ngụ tại ngôi nhà này.

-Ô, thế anh “nà” con của ông Trưởng Ty…

Thạch đáp nhanh, không để ông này nói tiếp:

-Vâng. Tôi là con cả.

-Thế anh “nà” đại úy Biệt Động Quân, đúng không?

-Vâng.

-Tôi được “nhà nước” cấp cho ngôi nhà này, ngoài ra chúng tôi không biết gì cả.

Thạch thầm nghĩ “Chiến thắng để được như thế này hèn chi ‘cha con nó’ mới thề ‘sinh Bắc tử Nam’!” rồi hỏi:

-Thế ông biết Ba Má tôi dời đi đâu không?

-Gia đình tôi mới dọn vào nhà này khoảng vài tháng thôi nên tôi chả biết.

Thạch cảm ơn ông rồi bùi ngùi quay đi.

Lang thang, đau khổ và lạc lõng ngay trên Quê Hương mà chàng đã để lại một phần thân thể, Thạch bỗng nghe tiếng hát nghẹn ngào của một thương binh “Ngụy” đang ngồi xin tiền bên gốc cây: “…. Chạnh lòng tìm người em gái cũ, em tôi đã đi phương nào? … Giờ này tìm đâu hình bóng cũ, em ơi! Em đi về đâu?… Để rồi một năm nơi biên cương dấn bước thân nơi sa trường. Ngày thì tìm vui bên tiếng súng khi đêm anh vui với đàn…Dù mộng tàn phai trong thương đau…”(3)

Tiếng ca ai oán của anh thương binh như cơn nước lũ cuốn đi tất cả sự kiên nghị, bản tính can cường và ý chí phấn đấu của Thạch! Thạch hơi cúi đầu, bậm môi thật chặt rồi kín đáo đưa tay quẹt nước mắt!…

ĐIỆP MỸ LINH

(1) và (2) Dư Âm của Nguyễn Văn Tý

(3) Chiều Hành Quân của Lam Phương

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 93
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.203 seconds.