Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Chuyện Linh Tinh
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Đời Sống - Xã Hội :Chuyện Linh Tinh  
Message Icon Chủ đề: THÁNG TƯ ĐEN...... VÀ TẤT CẢ.. Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 74 phần sau >>
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 12/Apr/2022 lúc 9:55am

Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi 


Đôi Lời Vào Truyện:

Tôi tên Nguyễn Bá Quang, là một sĩ quan QLVNCH cấp bậc Đại Úy thuộc đơn vị 101 P2/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Ở tù CSVN tại trại tù Tiên Lãnh, Quảng Nam, Đà Nẵng suốt hơn 12 năm. Qua Mỹ với diện H.O.5 năm 1991. Hiện cư ngụ tại Rếda, Califonia. Trong thời gian tôi ở tù chưa được thả, gia đình vợ con tôi vượt biển tìm tự do tại Cà Mau tỉnh Minh Hải. Trong chuyến vượt biển hãi hùng ngày 22-2-1985 vợ và sáu người con trai của tôi đã bỏ xác trên biển cả vì bọn hải tặc làm đắm thuyền. Ngoài ra còn có cả nhạc phụ của tôi và các em vợ cùng các cháu đã chết một cách tức tưởi trên chuyến tàu đau thương ấy. Chỉ còn sống sót người con gái yêu thương của tôi tên Thùy Nhiên và dì ruột của cháu là Phạm Thị Sa. Năm 1975 mất nước con gái tôi mới có tám tuổi, khi CS Bắc Việt chiếm miền Nam chúng dọa nạt, đấy ải gia đình của các sĩ quan QLVNCH đi cải tạo tại các trại lao động khổ sai. Vợ con tôi phải đi kinh tế mới tại Cà Mau, Minh Hải, việc học hành khó khăn, cháu chỉ học tới lớp bảy rồi phải bỏ lỡ dở đi buôn cá tại vùng ven sông thuộc Cà Mau để kiếm tiền nuôi gia đình và các em trai còn nhỏ tiếp tục đi học, vì thế nên cháu chỉ có thể thuật lại “Nỗi bất hạnh của đời tôi” một cách trung thực. Là ba của cháu, tôi cũng chỉ sửa những lỗi văm phạm, chính tả. Qua sự thúc bách của tôi, cháu mới có thể thuật lại câu chuyện thương tâm, vì mỗi lần nhớ lại những cảnh đau thương tang tóc của gia đình thì cháu đâm thẫn thờ, ngơ ngẩn hết mấy ngày, và lòng tôi cũng quặn đau vô vàn. Hiện cháu đã lập gia đình và sống với chồng con tại Úc. 

***********
    

* Viết để kính dâng linh hồn mẹ Phạm Thị Khanh, Ông ngoại Phạm Văn Đình, Cậu Phạm Văn Tiếng, các Anh: Nguyễn Bá Liêm, Nguyễn Bá Chương, Nguyễn Bá Long, các em, Nguyễn Bá Phú, Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Bá Hoài, Chú nguyễn Văn Dậu, các em con dì Nguyễn thị Minh Châu, Nguyễn thị Minh Xuân, Nguyễn Minh Toàn, và Linh mục Hồ Quang Liêm, chú Hồ Quang Lập và các anh bà con với cha Liêm mà tôi không nhớ tên.

* Viết cho Ba là Nguyễn Bá Quang, ba và con cùng NỔI BẤT HẠNH trên cuộc đời này.

******     
Sau bao tháng ngày mẹ và các anh chuẩn bị ghe thuyền, từng can dầu, tom góp từng gói lương khô như gạo sấy, thuốc men v. V...mọt cách bí mật. Ông ngoại, gia đình bà dì ruột, gia đình của cha Liêm, từng tốp, từng tốp len lỏi trong đêm tối lần lượt đến điểm tập trung tai bãi Đá Bạc Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải. 
    
Tất cả chúng tôi yên lặng lên thuyền, gồm có 22 người đã có mặt đầy đủ. Tiếng nổ dòn của máy lướt sóng ra khơi, mọi người chúng tôi nín thở hồi hộp. 
Qua mấy giờ lầm lũi chạy trong đêm, trời đã sáng, ánh nắng chan hòa, chúng tôi đã rời khỏi hải phận Việt Nam, mọi người thở ra nhẹ nhỏm, vui mừng, bồi hồi xúc động vì đã thoát qua được chặng đường đấu đầy nguy hiểm và bất trắc nhất, vì nếu chẳng may mà bị VC bắt lại, thì bị tù tội, tịch thu tài sản, tất cả đều mất sạch. Niềm vui thoát được khỏi bọn công an VC đang miên man trong đầu óc mọi người, bỗng nhìn đằng xa có chiếc tàu lớn hiện ra, tim tôi đánh thình thịch, tàu của ai đây? Của CS hay của thế giớ tự do? Càng lại gần thì càng hồi hộp, một thoáng chán nản và sợ sệt hiện rõ trên nét mặt mọi người khi nhìn rõ màu cờ máu Liên Xô, Thuyền của chúng tôi cố ý lái chệch hướng chiếc tàu lớn, cứ thế tiến thẳng, đã qua thêm một sự nguy hiểm, và cũng vì thế thuyền đã chệch hướng đi như ban đầu đã định trước của mình. Chạy thêm vài giờ nữa thì đằng trước hiện lên một chiếc thuyền đánh cá treo cờ VC (cờ đỏ sao vàng), bên hông tàu thấy hai chữ Kiên Giang, giây phút trọng đại, mọi người như nín thở, từ thuyền bên kia phát loa yêu cầu thuyền chúng tôi ngừng lại để cho họ kiểm soát. 
    
Không thể để bị bắt, rồi phải ngồi tù, tài sản bị mất sạch, nên thuyền chúng tôi quyết định mở hết tốc lực. Một loạn đạn AK nổ dòn bắn về phía chúng tôi, tài công lúc đó là anh Hai Liêm của tôi bị thương ở cánh tay, Mẹ bị thương ở bả vai, ông Ngoại bị thương nhẹ ở đầu. Thuyền bắt buộc phải ngừng lại. Tất cả bàng hoàng chờ đợi những gì xấu nhất sắp xảy ra. Thuyền Kiên Giang là thuyền đánh cá nhưng có cán bộ VC, công an mang theo súng, bọn chúng bước qua thuyền chúng tôi lục soát từng người một kể cả những em bé 3, 4 tuổi, tịch thu một số vàng và tiền bạc (đô la) mà mọi người mang theo, chúng lấy một máy lớn của thuyền chúng tôi và dọa sẽ đưa trở lại vào bờ giao công an địa phương “xử lý”. Ông ngoại tôi là người lớn tuổi nhất trong thuyền, ôm vết thương còn chảy máu trên đầu loang xuống mặt, cố gắng năn nỉ giải thích: “ Các anh cho chúng tôi đi, nếu đưa chúng tôi trở lại bờ Việt Nam thì các anh chẳng có lợi gì cả, chúng tôi bị tù tội, tiền, vàng của các anh vừa tịch thu thì cũng phải giao nạp cho công an thôi.” Sau đó bọn họ cho chúng tôi đi, và chỉ hướng cho tàu chạy. 
    
Còn lại một máy nhỏ, thuyền tiếp tục chạy một cách nặng nhọc, chạm chạp lướt sóng tiến về vùng biển Thái Lan. Chạy được một giờ đồng hồ nữa thấy có một chiếc thuyền giống thuyền đánh cá xuất hiện, khi chiếc thuyền này tiến lại gần không thấy treo cờ nước nào cả, nhưng dấu hiệu trên mạn thuyền được bôi lem, chạy với tốc độ nhanh rồi quay đầu chận ngang thuyền chúng tôi. Đã trải qua nhiều hiểm nguy, lần này tôi hồi hộp và lo sợ, tất cả như nín thở, những đứa nhỏ cũng biết được những gì quan trọng sắp xảy ra nên chúng ngồi thu mình vào thành ghe im re trông thật tội nghiệp. Tất cả không một tiếng động. 
    
Tiếng nói ở thuyền bên kia là một tiếng lạ không ai hiểu gì, lúc đó cha Liêm là người biết tiếng Anh nói xin họ giúp đỡ. Toán người kia như không nghe biết, với cử chỉ hung hăng dữ tợn, cặp vào thuyền chúng tôi la hét lục soát từng người một. Một lần nữa vơ vét sạch những gì tàu Kiên Giang VC vơ vét còn sót lại. Thấy kết quả lục soát chúng chẳng được là bao, chúng đi tìm những bộ mặt một, nhất là nhìn chằm chằm vào những người đàn bà con gái. Mẹ tôi còn trẻ đẹp nhưng vừa bị thương mất máu co ro, mặt mày tái mét nên chúng bỏ qua không để ý tới. Chúng đến gần tôi và chị H, bạn gái của anh Hai, chúng liền nắm áo chúng tôi kéo qua thuyền chúng nó. 
    
Trước cảnh dã man này mấy anh tôi không kềm hãm được nên đã có phản ứng binh vực em mình (tôi lúc đó mới được 18 tuổi, cô kia xấp xỉ tuổi tôi hoặc lớn hơn một tuổi ) Nên đã la ó phản đối. Mẹ tôi cúi lậy xin chúng tha. Ông ngoại, cha Liêm năn nỉ nài nỉ chúng chẳng nghe. Chúng đẩy chúng tôi qua thuyền chúng. Phẫn uất trước hành động tàn bạo này, mấy anh tôi đánh trả lại chúng. Chúng rút súng lục ra uy hiếp và chế ngự mấy anh. Lúc đó chúng lôi chúng tôi xuống nhốt dưới hầm tàu tối đen. Từ đó không hay biết chi nữa những việc xảy ra bên ngoài. 
    
Sau khi bắt chúng tôi, chúng nổ máy cho tàu chạy, sau đó quay trở lại đâm vào thuyền chúng tôi làm vỡ thuyền, thuyền chìm, chuyện xảy ra tôi sẽ kể tiếp phần sau khi tôi gặp lại người dì ruột tại trại SongLa. 
Ngồi trong hầm tầu tối đen mà lòng tan nát, tôi trấn tĩnh mình bằng lới cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra trước mặt tôi là hình ảnh của mẹ, các anh, em tôi và ba tôi. Ba mẹ, các anh em tôi giờ đây trên biển cả mênh mông đã trôi dạt về đâu rồi? Đã được tàu của thế giớ tự do vớt chưa? Ba tôi trong trại tù CS tại trại Tiên Lãnh, Quảng Nam Đà Nẵng, ba là sĩ quan QLVNCH ở tù 10 năm rồi tương lai sẽ ra sao đây. Tôi nhớ hết những người thân thương, đầu óc tôi rối bời như có trăm ngàn mũi kim nhọn đâm vào quả tim bé nhỏ của tôi tan nát. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến hoặc tưởng tượng ra hoàn cảnh mà tôi phải gánh chịu như hôm nay. Nước mắt tràn đầy ra má mà chẳng hay biết gì, nước mắt đã làm dịu cơn khủng hoảng của tôi. Một niềm hy vọng loé lên trong đầu, chắc mẹ và các anh em của mình còn sống sẽ được tàu vớt, sẽ vượt qua nguy hiểm để đến bến bờ tự do và mình sẽ được gặp lại. 
    
Ở trên tàu của bọn cướp được vài hôm, chúng chuyển tôi qua tầu đánh cá thứ hai, còn chị H. thì ở lại trên tầu của chúng nói tiếng Thái với nhau tôi không hiểu một tí gì cả chỉ biết cảm nhận theo linh tính của mình, thấy tầu này chuyên lo đánh cá, chắc là họ vừa đánh cá vừa làm hải tặc ăn cướp chăng? Một tuần sau chúng lại chuyển tôi qua tầu khác, cứ thế lênh đênh trên biển cả qua ngày thứ 51, ngày này chúng chuyển qua một tàu khác nữa, người trên tàu có vẻ hung tợn dữ dằn hơn những chiếc tàu trước đây. 
    
Vào khoảng nửa đêm một tên đàn ông vào kéo tôi dậy, nhìn cặp mắt nó, thấy dễ sợ như muốn ăn tươi nuốt sống tôi. Người tôi run bần bật, miệng thầm đọc kinh xin ơn trên phù hộ cứ giúp. Chúng nó sờ mó và bắt cởi hết quần áo, chúng nói gì với nhau tôi không hiểu, chỉ biết kẹp hai chân cứng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, và nhìn vào vết thẹo nổi đỏ trên cánh tay tôi. Lúc nhỏ khoảng hai tuổi bị tai nạn phỏng dầu làm đường đến 50% khi chữa lành vẫn còn vết thẹo luôn ửng đỏ. Không biết ai xui khiến cho tôi cứ nhìn vào vết thẹo ấy và kêu la thảm thiết. Bọn chúng nói với nhau những điều gì, tôi cảm nhận như chúng e ngại về vết thẹo của tôi là bị bệnh phong cùi gì chăng? Sau khi bàn bạc chúng đã xô tôi xuống biển không cho một vật gì có thể trôi nổi trên mặt biển. 
    
Nước lạnh làm tỉnh hẳn người, tôi đã thoát qua những bàn tay con quỷ dữ, cố gắng vợi hai chân để người mình nổi lên trên mặt nước ( ở Cà Mau tôi sống bên sông nên bơi lội cũng khá giởi. Trên biển giữa đêm đen, có gì ghe rợn bằng. Tôi cố sức mình chống chọi với bao ý nghĩ bi thương, bản năng sinh tồn lại đến với tôi mãnh liệt, tôi kêu xin mẹ Maria bổn mạng hãy cứu giúp tôi. Một lần nữa hình ảnh của mẹ, anh, em và Ba tôi ở trại cải tạo lại hiện ra như khuyến khích tôi hãy ra sức cố gắng chống chọi với tử thần để ráng sống may đâu có người cứu vớt. Vì thế mà đã qua được năm tiếng đồng hồ dưới biển lạnh. 
    
Trời đã hừng đông, một tia hy vọng đến với tôi, nhưng người càng ngày càng bị lạnh cóng, sắp sửa không chịu đựng nổi nữa rồi, thì may thay, nghe có tiếng động cơ của thuyền chạy đến. Tôi cố giơ tay lên nhưng thân hoàn toàn cóng cứng, rất may trên thuyền nhìn thấy, dừng thuyền lại và vớt tôi lên. Nguyện xin đây là một chiếc thuyền làm ăn lương thiện để tôi còn được sống an bình. Thật quả như lòng mong ước, tôi được những người này săn sóc tận tình, cho quần áo để mặc, cho ăn uống đàng hoàng và dùng máy vô tuyến gọi police (cảnh sát ) Thái cho tàu ra đón tôi vào bờ và đưa đến trại Song La và đến trại Sikiw. 
    
Hằng ngày ở trại, cô đơn lạc lõng, thân gái dặm trường, hằng đêm nguyện cầu cho lòng vơi đi ít niềm đau. Mong chờ mẹ, anh em sẽ đến với mình, nhưng càng ngày càng thấy bặt tăm vô âm tín, lòng buồn rười rượi. Mỗi khi có người mới nhập trại tôi thường đến để cầu mong gặp người thân. Hôm nay bất thần tôi thấy dì Sa em mẹ thất thểu bước vào trại, dì cháu gặp lại nhau, nước mắt tuôn trào như mưa, và Dì đã kể lại những gì xảy ra kế tiếp khi tôi bị hải tặc bắt qua tàu của chúng. 
    “Sau khi bọn hải tặc bắt con và H qua tàu của chúng. Vì không chịu nổi những uất ức các anh con đã phản ứng mãnh liệt đánh lại chúng nó. Nhưng chúng có súng, nên các anh con đánh thúc thủ. Chúng lồng lộn lên lục soát nát bét trên tàu, bắt mọi người cởi bỏ hết quần áo chỉ cho mặc một quần lót mỏng, lấy hết những gì còn lại trên tàu, rồi rú máy cho tàu chạy. 
    
Mọi người chưa kịp hoàn hồn thì thấy tàu hải tặc quay đầu trở lại, và chạy rất nhanh đâm thẳng vào hông thuyền của mình đánh rầm, thuyền vỡ làm đôi, một số người văng xuống biển. Đồ vật nặng chìm xuống nước, những vật nhẹ nổi lềnh bềnh. Trong lúc hỗn loạn, mỗi người đều bơi lội, vớ lấy can đựng dầu, đựng nước làm phao. Các anh con, Chương, Long bơi vớt những tấm ván để kết làm bè, kèm lên phần thuyền cón lại nổi trên mặt nước. Phần bè và thuyền nổi cho mẹ, dì, con của dì và Đạt, Hoài, hai em con. Ông ngoại và anh Liêm đã ra đi trong lúc thuyền bị đánh chìm vì cả hai đều bị thương. 
    
Trời bắt đầu sập tối, nỗi kinh hoàng xâm chiếm lòng người. Màn đêm đem đến sự sợ hãi cho mọi người trong cảnh thập tử nhất sinh, lạnh đói và khát, nhưng vẫn cố gắng bu lấy bên nhau, cùng nhau sống chết. Thấy các em con vì đói khát và lạnh, quá tội nghiệp nên Chương liều bơi, lặn xuống lòng thuyền may ra tìm được nước uống hoặc thức ăn. Nhưng đã lâu khong thấy Chương trở lại, mẹ và Dì kêu gào thật lâu chẳng có tiếng trả lời. Hễ người nào chịu không nổi buông tay ra là đi vĩnh viễn. Thấy những người thân lần lượt ra đi, lòng mẹ và dì tan nát nhưng biết làm sao đây hỡi trời, chỉ biết đọc kinh cầu nguyện Chúa, Mẹ cứu giúp, hộ phù. Phía bên kia có Linh mục Hồ Quang Liêm và người em Hồ Quang lập cùng mấy người bà con của cha trong đêm đó cũng ra đi. 
    
Ngày thứ hai kể từ ngày đắm thuyền chỉ còn có dì, mẹ và mấy đứa nhỏ vì được ngồi trên bè, nên chống được sự lạnh cóng. Mẹ con bị thương máu ra nhiều, không ăn, không uống nên người mệt lả đi, hơi thở yếu dần, dì gọi mẹ không trả lời nổi, mẹ tức tưởi ra đi. Đạt, Hoài hai em của con ôm mẹ khóc thảm thiết, dì đứt cả ruột gan. Các cháu cứ muốn giữ mẹ lại bên cạnh không xa rời, dì khuyên nhiều lần các cháu mới chịu để mẹ con xuống lòng đại dương. Còn lại con Châu, con Xuân của dì mềm người vì đói khát lặng lẽ ra đi. Dì như người mất hồn, không còn biết gì nữa, đặt con mình xuống nước cho dòng nước trôi xuôi, đau đớn vô cùng. 
    
Ngày thứ ba chỉ còn lại Dì, Em Đạt của con, mệt quá gục trên tấm ván, bỗng nó ngồi nhổm dậy nói: “ Để con lấy nước cho dì, con thấy có dòng suối trong xanh, nước ngọt lắm dì ơi” nó định bước xuống nước để đi Dì cầm tay nó kéo lại: “ Con ơi không có đâu, đó chỉ là ảo ảnh mà thôi, con ngồi xuống đây đọc kinh với với dì xin ngài ban phước”. Sau khi kinh nguyện, yên tĩnh được một lúc, nó lại kêu lên khát nước quá dì ơi con chịu hết nổi rồi. Dì nói trong vô thức hay con uống đại một hớp nước biển xem có chống chọi được không? Sau khi uống một miếng nước vào bụng, tức thì cháu ôm bụng rên la khủng khiếp, nước bọt trào ra nơi, nước bọt giống như bọt xà phòng trào ra, trào ra, cháu lịm người dần và nằm bất động, người cuối cùng ở bên cạnh dì cũng ra đi. 
    
Còn lại một mình đang nằm chờ chết dưới ánh nắng như thiêu như đốt bỗng thấy có đám mây đen kéo đến trời đột nhiên dịu xuống, một vài giọt mưa rơi trên mặt dì, dì liếm từng giọt nước, nhưng người dì đã kiệt sức không còn hay biết gì nữa cả. Khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên thuyền đánh cá của người Thái Land. Theo táu họ trên biển, 15 ngày sau thì được đưa vào trại Batani, qua trại SongLa và dì gặp con tại đây. 
    
Ôi ! Những biến cố đó trong đời tôi làm tôi điên dại, sống dưới ánh nắng mặt trời mà như trong hang âm u. Tôi đã mất mẹ, mất anh, mất em, mất ông ngoại, cậu, cháu và những người thân yêu 18 người đã chết tức tưởi, bỏ mình trên biển cả đó là tất cả NỖI BẤT HẠNH CỦA ĐỜI TÔI. 
    
Mẹ ơi ! Sao mẹ nỡ xa lìa con, xa lìa ba, ba đã chịu bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục trong ngục tù Cộng Sản. Các anh ơi ! Các em ơi ! Tất cả đã xa lìa tôi, vĩnh viễn ly biệt tôi một cách tức tưởi: Khổ đau tột đỉnh, hận thành non cao, “Biển xa sóng lớn dạt dào, nhớ anh, em, mẹ có ngày nào nguôi”.

Thùy Nhiên
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 13/Apr/2022 lúc 2:22pm

Nhật Ký Biển Đông


(Viết theo lời kể của Nguyễn Văn Tiến, người bạn làm chung sở thuế lien bang Úc)

Chúa Nhật 01 /05/1979 

Hôm ấy trời mưa nhẹ. Khoảng 2 giờ chiều có một người đàn ông được giới thiệu là em của người chủ tàu đi chiếc xe Honda 67 đến chở tôi ra Lam Sơn, một xứ đạo nhỏ nằm bên phải quốc lộ thuộc tỉnh Bà Rịa, cách thành phố Vũng Tàu khoảng vài chục cây số. Tôi đến đó khoảng 6 giờ chiều và tạm trú tại nhà một gia đình có hai cụ già và một đứa cháu trai nhỏ. Sau khi tắm rửa, tôi dùng cơm tôi với hai cụ nhưng chẳng ăn được bao nhiêu vì lòng tôi hồi hộp quá. Mặc dầu đã là một thanh niên 19 tuổi nhưng từ trước đến giờ tôi cũng rất ít khi xa nhà. Tôi đang học năm thứ hai đại học ở Saigòn thì được anh tôi sắp xếp cho chuyến đi này. Vào thời điểm đó, rất nhiều thanh niên phải ngưng học vào bộ đội đi viễn chinh ở Kampuchia, phục vụ cho tham vọng bất chính của chính quyền Cộng Sản Hà Nội. Có nhiều thanh niên đã bỏ mình hoặc mang thương tật suốt đời, một phần do cuộc chiến ác liệt, phần khác do sự căm thù, oán giận của người dân bản xứ trước sự xâm lăng trắng trợn của Hà Nội đối với đất nước họ. Những thanh niên Việt Nam lúc đó bị chính quyền Cộng Sản tung vào chiến trường Kampuchia để phục vụ cho ý đồ đen tối của họ. Bạn tôi, Minh đang học năm thứ nhất trường cao đẳng, bị trúng tuyển nghĩa vụ quân sự và được đưa sang mặt trận Kampuchia. Vài tháng sau Minh được trở về sau khi đã bị cụt mất chân phải vì đạp phải mìn trong rừng Kampuchia, chưa kể những nhục nhằn khi bị người dân xứ Chùa Tháp xua đuổi và chửi mắng. Phần tôi, sau khi Ba tôi  -  một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa  -  đã chết sớm trong lao tù Cộng Sản năm 1977, rồi Mẹ tôi cũng qua đời sau đó một năm vì buồn khổ cũng như vì bị lao lực quá sức. Anh tôi quyết định cho tôi ra đi vào lúc mà nơi tôi ở đang la thời kỳ cao điểm tuyển mộ thanh niên đi nghĩa vụ quân sự để bổ sung cho chiến trường Kampuchia đang thiếu hụt. 

Ăn cơm xong, sau khi nói chuyện với hai cụ chủ nhà vài câu, tôi xin phép lên giường nghỉ. Tôi cố gắng ngủ chút ít nhưng không tài nào chợp mắt được. Tôi suy nghĩ miên man về những việc sắp tới. Tôi sẽ phải làm gì? Tôi sẽ đi đến đâu? Liệu cuộc vượt biên của tôi có suông sẻ không? Tôi nghĩ đến những người  thân, trong đó có Lan, người yêu cũ tôi, chắc giờ này cũng chưa ngủ vì lo lắng cho tôi.  Khoảng 11 giờ đêm, một người đến dẫn tôi đi ra một cánh đồng. Trời tối đen như mực vì là đêm cuối tháng âm lịch. Tôi bị vấp ngã vài lần nhưng không dám kêu vì biết rằng sẽ nguy hiểm cho tôi và cho cả những người khác nữa. Khi đã ra khá xa ngôi nhà tôi vừa tạm trú, lác đác đó đây thấy vài ánh đèn leo lét của những người đi câu ếch về muộn. Khoảng hơn một giờ sau tôi đến một địa điểm mà tại đó đã có khoảng hơn một chục người cũng đang chờ ở đó. Mọi người tuyệt đối im lặng. Không ai nói với ai lời nào. Khoảng gần hai giờ sáng, người dẫn đường dẫn tất cả chúng tôi đến một bờ sông rậm rạp gần đó. Chúng tôi phải vất vả lội qua một đoạn sình lầy để tới một chiếc ghe nhỏ đã chờ sẵn. Tôi nghe văng vẳng xa xa tiếng gà gáy trong đêm trường tĩnh mịch như tiễn đưa mọi người đi tìm bến bờ tự do. Chúng tôi im lặng bước xuống chiếc ghe nhỏ đó. Khi tôi bước xuống, vì không quen nên chiếc ghe bị chòng chành suýt lật. Mọi người nhìn tôi lo lắng và ái ngại. Có tất cả mười một người trên chiếc ghe nhỏ đó. Khoảng hơn một giờ sau thì chúng tôi tới một chiếc tàu lớn hơn đang đậu sẵn ở một con sông lớn gần cửa biển. Gọi là chiếc tàu lớn nhưng chiều dài cũng chưa tới mười thước và bề ngang cũng chỉ độ gần ba thước mà thôi. Chúng tôi được đưa lên đó và phải ở trong hầm máy chờ đợi thêm hai chiếc ghe nhỏ tới cho đủ rồi mới khởi hành. Một tiếng chờ đợi nhưng sao tôi cảm thấy thời gian dài quá. Cuối cùng rồi chiếc ghe nhỏ cuối cùng cũng tới. Nghe nói chiếc ghe này tới trễ vì bị một số người lạ đã nhân cơ hội lúc chiếc ghe nhỏ vừa nổ máy thì trèo lên nhưng rồi sau đó đã bị đưổi xuống sau một hồi giằng co rồi chiếc ghe đó mới chạy khỏi được. Có tất cả 37 người trong hầm tàu gồm 27 đàn ông và 10 phụ nữ, trong số đó có ba em nhỏ khoảng 13 tuổi.

Thứ Hai 02/05/ 1979 

Chúng tôi phải ngồi trong hầm tàu chật chội khá lâu. Ánh sáng từ vài lỗ thông hơi chỉ vừa đủ soi sáng lờ mờ những khuôn mặt mệt mỏi, rã rời. Nhiều người nằm xuống vì mệt nhưng lại bị những người khác cằn nhằn nên lại phải ngồi dậy. Tôi ngồi bó gối ở một góc hầm.  Vì còn ở trong hải phận Việt Nam nên chủ tàu chỉ cho phép mỗi lần khoảng ba nguười được lên boong tàu cho đỡ mệt cũng như để có thể đi cầu, đi tiểu. Tuy vậy, Nam  -  em bé ngồi cạnh tôi có lẽ sợ quá nên đã đái cả ra quần. Vì bị say sóng, người ngây ngất khó chịu nên tôi cũng không muốn lên trên vì sợ sẽ bị té xuống biển. Nhiều người trong hầm đã bị say sóng rất nặng. Họ không kiểm soát được và đã ói mửa ra những chất bầy nhầy màu xanh, màu vàng và văng cả vào người tôi. Phần tôi, vì có thủ mấy cái bao ny lông nên tôi ói vào những bao đó và cột lại chờ khi lên boong sẽ quăng xuống biển. Nhiều người la lên vì bị người khác ói vào đâu, vào tay. Tôi ngửi thấy mùi nước tiểu ngay bên cạnh tôi. Mặc dù vậy,  chủ tàu vẫn hạn chế không cho người lên boong nhiều vì tàu vẫn còn ở trong vùng nguy hiểm. Bỗng tôi bị chột bụng nên được phép lên trên để đi cầu. Vừa bước lên trên boong, tôi bị chóa mắt vì ánh sáng, bước chân lảo đảo nên phải dừng lại bám chặt vào một cái cọc. Khi mắt đã quen với ánh sáng, tôi từ từ đi lại phía sau tàu và ngồi xuống đi cầu. Mặc dù biển khá yên nhưng thỉnh thoảng con tàu cũng tròng trành qua lại như bị xô đẩy khiến tôi suýt rớt xuống biển. Tôi từ từ trở lại boong tàu hít thở không khí trong lành, ngắm nhìn mặt biển bao la, đâu đâu cũng thấy nước và nước. Tôi hỏi nguời chủ xem tàu đang ở đâu. Người chủ tàu giơ tay chỉ về một đốm nhỏ phía bên trái và nói đó là đảo Côn Sơn. Như vậy tàu sắp ra tớI hải phận quốc tê rồi, hy vọng ra tới đó, có nhiều tàu nước ngoài qua lại và sẽ được họ vớt. Còn đang nói chuyện, bỗng tôi nghe một tiếng la thất thanh từ cuối tàu của một người. Trong lúc đi cầu, người đó đã bị rớt xuống biển. Không thấy anh ta đâu nhưng chủ tàu vẫn yêu cầu cho tàu dừng lại để chờ đợi. Cũng may, anh này là một tay bơi giỏi nên vài phút sau đã bơi lại trở lên tàu. Thật là hú vía! Tôi sợ quá nên vội trở xuống hầm tàu ngay.


Thứ Ba 03/05/1979

Tôi nghe có tiếng chửi, tiếng cãi nhau trên tàu. Tôi đi lên boong. Chủ tàu đang đứng xin lỗi mọi người vì sự sơ xuất của ông ta. Tàu đã tới hải phận quốc tế. Chủ tàu mang chiếc hải bàn ra đóng vào một miếng ván trên thành tàu để cho tiện việc theo dõi hướng đi. Trong lúc dùng búa, không biết luống cuống thế nào mà ông ta vô ý để cái búa đóng xuống trúng cái hải bàn làm cho nó vỡ tan, nước văng tung tóe. Lúc này chỉ trừ những người còn quá say sóng, phần đông đã lên boong tàu. Họ hy vọng sẽ gặp được tàu nước ngoài vớt. Chủ tàu hứa sẽ cố gắng dùng kinh nghiệm đi biển của mình để xem sao vào buổi tối để tìm hướng đi. Rất nhiều người thất vọng vì không mấy tin tưởng vào điều chủ tàu nói. Một người đàn ông định xấn tới gây sự và đánh chủ tàu nhưng rất may có một người khác, trông dáng dấp như một tu sĩ đã tới can ra. Giờ đây ai cũng chỉ hy vọng được một tàu nước ngoài vớt mà thôi. Một chiếc tàu mang cờ Hy Lạp thản nhiên đi qua rất gần, mặc dầu tất cả mọi người trên boong đã đồng loạt loạt đứng lên cởi áo giơ cao để vẫy.  Rồi sau đó lần lượt cũng có nhiều chiếc tàu buôn của những nước khác đi qua nhưng chẳng có con tàu nào đoái hoài gì đến con tàu bé nhỏ, mong manh của chúng tôi mặc dù chúng tôi đã cố gom một số quần aó để đốt lên thành một đống lửa làm hiệu cầu cứu. Mọi người thất vọng. Vài phụ nữ đã khóc vì lo lắng. Có người vì quá chán nản nên đưa ra đề nghị khi thấy tàu buôn nào đi qua thì đốt tàu để cho họ cứu. 

Buổi chiều tự nhiên trời tối đen lai. Từng đám mây đen kéo tới bao phủ bầu trời . Có lẽ do sự phản chiếu của bầu trời nên mặt nưóc biển đã chuyển từ màu xanh sang màu đen quánh. Sắp có mưa và có thể có bão lớn. Chủ tàu yêu cầu mọi người xuống hầm chỉ trừ những thanh niên, nhưng người khỏe mạnh ở lại để lo đối phó và tát nước. Tôi cũng tình nguyện xin ở lại để phụ với mọi người. Để tránh nguy hiểm, tàu được lái chạy vào hướng gần bờ, có lẽ là vùng bờ biển Thái Lan. Gió bắt đầu hú từng cơn và cơn mưa lớn đổ ập xuống. Rồi gió bão tạo ra những cơn sóng lớn dần, có những cơn sóng cao bằng cái nhà lầu mấy tầng đổ ập xuống con tàu bé nhỏ . Vài nguời suýt bị sóng cuốn trôi . Mọi người ai nấy lạnh run nhưng tất cả đều cố gắng cùng nhau chống đỡ với mưa bão. Mưa tạt thẳng vào mặt tôi và mọi người. Ai cũng nhanh tay tát nước. Người tài công môi mím chặt, chân đứng chắc chắn, điều khiển con tàu rất có kinh nghiệm nên đã đưa con tàu trườn lên và vượt qua những ngọn sóng. Con tàu nghiêng qua nghiêng lại. Ông chủ tàu vừa điều khiển chiếc máy bơm đồng thời nhắc nhở mấy người phụ máy căng tấm bạt ra để cố phủ được chiếc ghe càng nhiều càng tốt. Một số đồ đạc bị văng xuống biển, trong đó có chiếc máy tàu dự trữ mà ông vừa mới mang lên để sửa chữa. Tất cả mất hút vào lòng đại dương và không để lại một dấu tích nào. Rôi mưa cũng tạnh dần và cường độ của cơn bão cũng giảm. Trong cơn lo sợ vừa qua, một số người đã đề nghị cho tàu quay trở về Việt Nam để tránh bão cũng như mua thêm một chiếc máy khác và vài chiếc hải bàn nhưng tôi và nhiều người phản đối vì chúng tôi không muốn trở về địa ngục trần gian Cộng Sản nữa. Dù bao nhiêu nguy hiểm đang chờ nhưng chúng tôi thà bị vùi thây dưới lòng biển cả chứ không chịu trở về Việt Nam. Mưa tạnh hẳn và cơn bão cũng qua đi nhưng trời vẫn còn tối đen vì đêm đã xuống. Tôi trở xuống hầm tàu lau người cho khô và nằm nghỉ vì đã quá mệt. Hầm tàu quá nhầy nhụa vì sự ói mửa của một số người trong cơn bão vừa qua mà chưa có thời giờ lau rửa. Cái mùi tổng hợp pha lẫn mùi nước tiểu, mùi thức ăn thiu thật khó chịu nhưng rồi vì mệt quá tôi cũng thiếp đi được một lúc. 

Thứ Tư   04/05/1979   

Trời sáng, tôi trở lên boong tàu. Nguười chủ tàu cho biết theo hướng sao đêm qua thì hiện giờ tàu đang ở trong hải phận Thái Lan. Nhưng vì không có hải bàn nên tàu không dám chạy quá xa bờ, sơ gặp bão không tránh kịp. Mọi người vừa mừng vừa lo. Mừng vì đã thoát cơn bão chiều qua nhưng lại lo vì sợ sẽ gặp hải tặc Thái Lan. Mấy phụ nữ, trong đó có hai cô con gái của chủ tàu thì lặng lẽ lấy nhớt thoa vào khuôn mặt nhợt nhạt và vào nhiều chỗ khác trong người. Theo ống nhòm của người chủ tàu, tôi thấy một đốm nhỏ trắng phía xa. Ngươi chủ tàu cho biết đó là một con tàu khá lớn nên nghĩ có thể đây là một tàu buôn nhỏ nhưng rồi cái đốm trắng đó lớn dần lên và khi tôi nhìn thấy lá cờ Thái Lan vẽ trên thành tàu thì chúng tôi biết là đã gặp tàu đánh cá Thái Lan. Tuy vậy chúng tôi vẫn hy vọng đây là tàu đánh cá của các ngư dân xứ Phật hiền lành. Con tàu đó từ từ tiến lại phía chúng tôi và  khi chỉ còn cách tàu chúng tôi chừng vài thước thì neo lại. Vì hơi bất ngờ nên chúng tôi không có phản ứng gì  và chỉ im lặng chờ đọi. Tôi thấy mấy phụ nữ run rẩy, mặt tái nhợt không còn một chút máu. Đoán được tàu tôi không có súng nên sau đó có khoảng năm tên nhảy xuống biển và bơi qua tàu chúng tôi. Cả năm tên đều cởi trần và đều giắt dao ở lưng quần, chúng trông thật lực lưỡng, khỏe mạnh và hung dữ như những con thú rừng. Ông Thanh, mà trước đây tôi đoán là một tu sĩ đứng ra nói vài câu tiếng Anh để phân bua giải thích với chúng đại ý đây chỉ là một tàu nhỏ chở người tị nạn Việt Nam, nếu chúng muốn gì thì cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ cố gắng thỏa mãn những đòi hỏi của chúng chứ đừng hãm hại chúng tôi. Có thể chúng không hiểu những câu tiếng Anh mà ông Thanh vừa nói nên vẫn tiếp tục ra lệnh bằng tay cho mọi người phải trút bỏ quần áo ra để chúng khám vàng và tiền đô la. Tôi cúi xuống để tránh những ánh mắt man dại của chúng khi tiến lại gần những người phụ nữ. Tôi nhác thấy vài phụ nữ e thẹn ấp mặt vào trong thành tàu khi trên người của họ chỉ còn một chiếc quần lót nhỏ bé. Sau đó chúng lai lục soát tất cả những chỗ mà chúng nghi ngờ trên tàu. Chúng tìm được một ít đô la và một số nữ trang, vàng bạc. Trước khi đi, có hai tên tiến lai phía hai cô con gái của ông chủ tàu dở trò sàm sỡ, chúng rờ rẫm khắp người mặc cho hai cô phản đối la hét. Ông chủ tàu quỳ xuống lạy chúng như tế sao mà chúng vẫn tiếp tục. Một cô phản ứng bằng cách cắn vào tai một tên đang sờ sẫm cô . Tên này tát cô mấy cái tát rất mạnh và ôm lấy cô toan liệng xuống biển. Nhanh như chớp, tôi nhảy lại bồi cho tên này một cú đá rất mạnh khiến tên này đau quá phải buông cô gái ra, nhưng sau đó, tên còn lại đã tới đạp tôi xuống biển. Tôi chới với bơi vào tàu nhưng lại bị tên đó đạp xuống. Sau đó tôi phải chui vào dưới đáy tàu và nấp ở đó chờ đợi. Trước phản ứng khá mạnh đó, bọn chúng bỏ đi và mang theo những thứ chúng đã cướp được. Khi đã nghe tiếng máy tàu chúng đi khá xa, tôi trồi lên tàu trước sự mừng vui của mọi người . Người chủ tàu cám ơn tôi rối rít và nói rằng nếu không có tôi phản ứng mạnh với chúng thì có lẽ bọn chúng đã làm nhục con gái ông. Tự nhiên tôi cảm thấy thân phận con người sao tội nghiệp quá. Cũng là con người với nhau nhưng sao có những sự đối xử với nhau tàn tệ quá. Tôi ngồi nghĩ lại nếu như hồi nãy bọn chúng có súng thì không biết bây giờ tôi có còn sống ngồi ở đây không?

Tôi lại nghĩ tới Lan, người yêu bé nhỏ cùng ở trong ca đoàn nhà thờ Bắc Hà với tôi. Giờ này Lan đang làm gì ? Lan có hình dung được cuộc vượt biển khó khăn mà tôi và mọi người đang gặp phải không ? Tôi nhớ lại buổi chiều hôm trước ngày tôi ra đi. Tôi và Lan đã cùng sánh vai đi bộ dưới những hàng cây dọc con đường Tú Xương yên vắng. Con đường với những hàng cây trải dài bóng mát. Xe cộ không nhiều và người qua lại cũng thưa thớt. Đâu đó có vài cặp tình nhân đang thầm thì trò truyện. Con đường nhạt nắng vào buổi chiều. Tôi  và Lan đã đi bên nhau hơn hai giờ. Chỉ còn mười mấy giờ nữa là chúng tôi phải tạm xa nhau. Thời gian cứ lặng lẽ trôi. Cả hai chúng tôi muốn níu kéo lại và chỉ mong sao cho cả không gian va thời gian đóng băng ngừng lại. Rồi tôi và Lan đến ngồi trên chiếc ghế gần cổng nhà nguyện tu viện Mai Khôi.  Chúng tôi ngồi bên nhau rât lâu, rất lâu. Có  những lúc cả hai cùng im lặng, không nói và chỉ nhin nhau. Chúng tôi đang nghĩ về một tương lai tươi sáng trên một vùng đất mới cũng như nghĩ đến một ngày nào đó sẽ được cùng đoàn người về quang phục quê hương ... . Chiều mai, tôi sẽ tạm biệt Lan để ra một một giáo xứ nhỏ gần bờ biển thuộc tỉnh Phước Tuy để rồi từ đó sẽ lênh đênh trên biển tìm đến bến bờ tự do . Không dằn được nỗi xúc động khi nghĩ đến điều này, Lan đã gục đầu vào vai tôi thổn thức:

 -        Em lo sợ quá anh ạ!

Tôi vỗ vễ an ủi Lan,

 -        Mọi sự dâng cho ơn trên em ạ . Chuyến đi của anh đã được mọi người chuẩn bị hết sức chu đáo. Anh sẽ sang trước và đợi em. Có thể là Mỹ và cũng có thể là Úc, dù ở đâu anh cũng sẽ đợi em.

 -        Em cố gắng lên. Cũng chẳng còn bao lâu nữa . Giấy tờ bảo lãnh của gia đình em cũng gần xong rồi . Anh nghĩ cũng chỉ chừng hai năm nữa là gia đình em sẽ được sang Mỹ . Khi đó chúng ta sẽ gặp lại nhau . Sẽ làm đám cưới . Sẽ đi học . Sẽ có việc làm và sẽ có những đứa con xinh xắn . 

Lan vẫn gục đầu vào vai tôi thổn thức:

 -        Vâng, em nghe anh . Em sẽ cầu nguyện cho anh . Sẽ cầu nguyện cho chúng ta . Sẽ cầu nguyện cho mọi người trong chuyến đi của anh. 

Trời dần tối . Chúngtôi vẫy một chiếc xích lô để về nhà. 

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Lan. Giờ này, dù chẳng biết tôi đang ở đâu nhưng chắc chắn Lan đang cầu nguyện cho tôi và mọi người . Nỗi lo sợ vừa qua đã ám ảnh tôi . Không biết tôi có còn sống để đến được bến bờ tự do để có cơ hội gặp lại Lan nữa không ? Rồi tôi lại nghĩ tới anh Quang, người anh cả đã thay cha mẹ hết lòng lo lắng cho tôi, đã gom góp từng chỉ vàng để có tiền cho tôi đi tìm tự do . Giờ này chắc anh Quang cũng đang hồi hộp lo lắng theo dõi thời tiết và cầu nguyện cho con tàu chúng toi được bình yên . Qúa mệt mỏi, tôi dần dần thiếp đi vào giấc ngủ lúc nào không biết.


Thứ Năm  05/ 05/1979                                                                          Con tàu vẫn tiếp tục lênh đênh trên biển . Tôi có cảm tưởng giờ đây con tàu cứ chạy nhưng chẳng biết rồi mình có đến được bến bờ tự do không ? Ai cũng trông chờ vào vận may là tàu được gặp tàu nước ngoài vớt nhưng cũng không hy vọng nhiều vì đây lại là vùng biển Thái Lan mà con tàu tôi thì không dám ra xa nữa. Ai ai cũng uể oải, mệt  mỏi .Tôi lại giỏ đồ lấy ra một miếng sâm nhỏ lén bỏ vào miệng để lấy lại sức vì nghĩ rằng chúng tôi còn phải lênh đênh trên biển một thời gian dài và sẽ còn gặp nhiều nguy hiểm nữa . Tiếng máy tàu vẫn nổ một nhịp điệu đều đều và buồn tẻ. Lương thực cũng cạn dần. Cũng may là nước uống vì nhờ có cơn mưa hai ngày truớc nên cũng còn đủ dùng cho vài ngày nữa . Rồi chúng tôi lại gặp tàu hải tặc Thái Lan lần thứ hai . Lần này, bọn chúng kẹp tàu chúng sát vào tàu chúng tôi rồi nhảy sang bắt mọi người cởi hết quần áo và nằm sấp xuống .  Khi đến gần mấy người phụ nữ, chúng sờ soạng lên thân thể họ một cách sàm sỡ rồi cười lớn tiếng một cách khả ố . Vài chị phản ứng lại thi bị những cái tát tai vũ phu . Ông chủ tàu xua tay van xin chúng tha cho tàu chúng tôi . Sau đó chúng đi sục sạo tìm vàng và đô la . Chúng bỏ đi và mang theo cái máy bơm nước cùng một số vật dụng quý giá . Mọi người ai cũng còn run sợ . Trời bắt đầu tối . Xa xa chúng tôi nhìn thấy những ánh đèn leo lét trên mặt biển . Ông chủ tàu cho biết đó là những thuyền đánh cá nhỏ Thái Lan giăng lưới ban đêm và như vậy sẽ không có bão ở vùng này. Nghe vậy ai nấy lai lo sợ sẽ gặp hải tặc nữa . Chủ tàu liền ra lệnh cho hai nguời phụ máy thay phiên nhau cầm chiếc thùng đựng nước che ống khói tàu để tránh những ánh lửa đỏ phát ra . Ông sợ rằng những ánh lửa này có thể làm cho tàu Thái Lan biết mà tìm tới . Trời nổi giông và mưa nhè nhẹ rồi một đêm bình yên tạm bợ cũng đi qua .


Thứ Sáu 06/05 /1979 

Thôi cũng đành phó mặc cho số mệnh. Tôi nghĩ vậỵ . Con tàu vẫn tiếp tuc chạy trong mệt mỏi . Buổi sang bình yên qua đi và tàu vẫn nhắm hướng Mã lai để đi tới . Buổi chiều chúng tôi lại gặp một tàu đánh cá Thái Lan nữa . Khi thấy tàu Thái Lan gần tới và có mấy tên ra mũi tàu đứng với thái độ đằng đằng sát khí thì ông Thanh đã vội bước ra truớc mũi tàu dùng tay bụm miệng nói lớn vài câu tiếng Anh với đại ý tàu chúng tôi là tàu tị nạn Việt Nam, đã bị cướp mấy lần và bây giờ thì cũng chẳng còn tiền và vàng bạc gì nữa và xin tha cho chúng tôi. Để trả lời ông Thanh, một tiếng 'đoàng' khô khan đã làm ông Thanh rớt tòm xuống biển. Máu loang trên mũi tàu và trên mặt biển. Vài người vội nhảy xuống biển nhưng cũng chẳng thấy tăm hơi ông Thanh đâu . Có lẽ viên đạn đã trúng chỗ hiểm làm cho ông Thanh chết ngay và chìm xuống biển sâu . Nhiều người cuống quýt đọc kinh, niệm Phật. Vài phụ nữ trong tàu lấy ra những lọ thuốc màu đỏ bôi lên người và quần áo để ngụy trang như là mình đang có kinh nguyệt . Đàn ông thì phẫn uất tràn lên mũi khiến con tàu bị nghiêng làm chủ tàu phẳi yêu cầu mọi người bình tĩnh giữ trật tự nếu không tàu sẽ bị chìm! . Cũng may, sau khi bắn chết ông Thanh, tàu Thái Lan tăng tốc độ và bỏ đi . Có thể chúng cũng sợ phản ứng liều lĩnh của những con người đã cùng đường liều chết chung tôi . Con tàu lại lặng lẽ trôi . Ông chủ tàu cho biết tàu sắp qua khỏi vùng biển Thái Lan và sắp tới vùng biển Mã Lai . Hy vọng tới vùng biển Mã Lai sẽ an toàn hơn . 


Thứ Bảy 07/05 /1979 

Vì qúa lo sợ nạn hải tặc Thái Lan nên một số người, trong đó có tôi, đề nghị tàu đổi hướng đi ra xa bờ biển hơn để hy vọng gặp được tàu buôn của các nước phương Tây hoặc có thể gặp được những dàn khoan dầu ngoài khơi . Chủ tàu không đồng ý vì sợ tàu không có hải bàn sẽ bi lạc, hơn nữa con tàu này quá bé nhỏ sẽ không chống chỏi được với những cơn bão, tàu có thể vỡ thành từng mảnh .

Buổi trua hôm đó lại một chiếc tàu Thái Lan tiến tới . Lần này  không ai dám ra trước mũi tàu để nói chyện với chúng nữa . Tàu Thái Lan cặp sát tàu chúng tôi và có khoảng ba tên bước sang thăm dò . Chúng băt mọi người đứng im, giơ tay lên rồi bắt đầu lục soát từng người cũng như tất cả những nơi mà chúng nghi ngờ còn dấu tiền và vàng. Một tên còn bắt mấy người đàn ông há to miệng ra xem có răng vàng không. Có thể nhìn thấy vẻ thảm não của chúng tôi và với kinh nghiệm, chúng biết tàu này đã bị cướp nhiều lần rồi, không còn gì nữa nên chúng rút lui . Tuy vậy, trước khi đi, chúng cố ý lái tàu đâm vào tàu chúng tôi với ý định làm cho con tàu bé nhỏ này vỡ tan tành và  mọi người sẽ bị vùi thây dưới lòng đại dương, làm mồi cho cá mập. Khi biết được ý đồ đó, tôi và mọi người vội la lớn lên để báo cho tài công biết và thật nhanh nhẹn, anh tài công đã bẻ lái tàu theo hướng song song với tàu Thái Lan nên khi tàu chúng đụng vào tàu chúng tôi thì tàu chỉ bị hư hại nhẹ, có hai tấm ván phía trên thành tàu bị bể . Cũng may sau đó chúng để mặc con tàu chúng tôi chao đảo giữa đại dương bao la và bỏ đi . Hai người phụ máy đã dùng những dụng cụ còn lại để gắn lại hai miếng gỗ bể . 


Hai tiếng sau đó, chúng tôi lại thấy một con tàu Thái Lan khác đang tiến lại tàu chúng tôi . Mọi người giờ đây đã qúa mệt mỏi . Chúng tôi đã gặp tàu cướp Thái Lan bốn lần rồi và cũng chưa hoàn hồn khi chứng kiến cái chết của ông Thanh ngày hôm qua . Vừa đói, vừa mệt, giờ đây tâm trạng của ai cũng chùn xuống. Mọi người, kể cả tôi đều phó thác cho số mệnh vì chúng tôi chẳng còn khả năng cũng như vật dụng gì để chống trả lại chúng. Cái chết đang chờ mọi người . Tôi nghĩ phải chi nếu ông chủ tàu còn giữ được cây súng B40 thì giờ đây có thể liều chết chống cự với chúng từ xa và sẽ làm cho chúng hoảng sợ . Trước ngày khởi hành, ông chủ tàu có mua được một cây súng B40 từ một anh bộ đội và đã mang được xuống tàu để giấu nhưng không hiểu sao khi tàu còn đang ở trong hải phận Việt Nam, khi thấy có nhiều tàu đánh cá quốc doanh qua lại, chủ tàu sợ bị lộ nên đã vất xuống biển. Tàu đánh cá Thái Lan ra hiệu cho tàu chúng tôi ngừng lại rồi từ từ cặp sát tàu chúng tôi. Hai người đàn ông trung niên bước qua thăm dò và yêu cầu chúng tôi giơ tay lên, đứng úp mặt vào tường, sau đó ra dấu muốn nói chuyện với chủ tàu . Người chủ tàu quay mặt ra lạy chúng và ra dấu phân bua với chúng là tàu đã bị cướp bốn lần đồng thời chỉ những chỗ bể của tàu cho chúng xem. Nhìn thấy vẻ sợ hãi của chúng tôi cũng như đưa mắt quan sát tàu, chúng hiểu rằng tàu chúng tôi chẳng còn gì ngoài những con người khốn khổ này . Hai tên đó trao đổi với nhau vài câu bằng tiếng Thái, rồi một tên có râu mép gọi chủ tàu lại, lấy một thanh gỗ nhỏ vẽ chữ ' MALAYSIA ' và chỉ tay về hướng trước mặt. Mọi người hiểu ra là chúng muốn chỉ đường cho tàu chúng tôi đến Mã Lai và ai cũng vô cùng ngạc nhiên về thái độ đó của chúng. Chúng chỉ lại hướng đi một lần nữa và thúc giục chúng tôi phải đi ngay rồi chúng trở về tàu của chúng. Ai cũng cám ơn Chúa, Phật đã cứu giúp chúng tôi . Khi biết tàu đã ở gần bờ biển Mã Lai thì tự nhiên ai cũng cảm thấy phấn khởi và khỏe hẳn lên. Mọi người hy vọng sẽ đến được bờ biển Mã Lai vào ngày mai và sau đó sẽ được nhập vào những trại ti nạn của người Việt ở đây . Con tàu tiếp tục chạy theo hướng mà những người trên tàu Thái Lan vừa chỉ . Đêm xuống, mọi người ngủ được một giấc tương đối yên tĩnh. 


Chúa Nhật 08/05/1979 

Trời sáng, khi mọi người thức dậy thì đã nhìn thấy bờ biển Mã Lai ở xa xa. Chủ tàu cho biết tàu đã đi vào hải phận Mã Lai được vài tiếng rồi . Tôi la lớn lên vì mừng rỡ . Đêm hôm qua, trên đuờng tới đây, tàu chúng tôi đã may mắn gặp được một tàu buôn nhỏ Đại Hàn. Tuy tàu họ không vớt chúng tôi nhưng đã cho chúng ôi một ít lương thực, nước uống và thuốc men rồi sau đó còn chỉ cho chúng tôi hướng tiến vào một bờ biển Mã Lai gần nhất. Tàu chúng tôi đang tiến dần vào một bờ biển Mã Lai . Hình như đây là một bãi tắm thoai thoải vì chúng tôi đã nhìn thấy lác đác có vài người ra tắm biển dù bây giờ trời vẫn còn hơi lành lạnh. Khi chỉ còn cách bờ khoảng vài chục mét, chúng tôi đã nhìn thấy rõ một số người đứng lố nhố nhìn ra tàu chúng tôi . Chúng tôi vui mừng giơ tay vẫy và dùng những chiiếc áo còn lại ra dấu cầu cứu . Chúng tôi chờ đợi . Một lúc sau có một tốp lính Mã Lai đi ra bờ biển và chĩa súng về phía chúng tôi ra dấu xua đuổi . Một người lính còn bắn một phát súng chỉ thiên đe dọa cảnh cáo . Chúng tôi lo sợ nhưng sau khi hội ý lại, thấy không thể quay tàu ra biển được nữa vì tàu đã hư hại quá nhiều . Quay tàu ra là chết, sẽ bị gió bão nhận chìm mọi người vào lòng biển cả. Chúng tôi quyết định sẽ đục thủng tàu rồi mọi người sẽ giúp đỡ nhau cùng lội, cùng bơi vào bờ bất chấp sự ngăn cản, đe dọa của những người lính Mã Lai . Đây là chuyện lựa chọn giữa sống và chết và tất cả phải có quyết định dứt khóat mau lẹ . Chúng tôi đã thấy đất liền sau chín ngày đêm lênh đênh trên biển và giờ đây nếu chết thì sẽ chết trên đất liền này. Chủ tàu tìm hai cuộn dây thừng to trao cho anh tài công một cuộn và ông giữ một cuộn. Chỗ tàu đang neo, nước biển không sâu lắm. Tuy vậy để cho chắc ăn, chủ tàu chia mọi người thành hai tốp. Trong mỗi tốp sẽ có vài người đàn ông đi trước rồi đến các phụ nữ và sau cùng là những thanh niên khỏe mạnh và bơi giỏi để đề phòng trường hợp có những người không biết bơi gặp nạn thì có thể giúp đỡ được. Phân công xong, chủ tàu ra lệnh cho hai người phụ máy đục tàu rồi mọi người nhanh chóng rời tàu trong trật tự . Con tàu từ từ chìm xuống đồng thời hai hàng người cũng từ từ chậm rãi tiến vào bờ biển trước sự đe dọa và tức tối của những người lính Mã Lai trên bờ . Tôi cố quay đầu lại để ghi lại hình ảnh con tàu đã đưa tôi và mọi người đến bến tự do trước khi nó chìm hẳn vào lòng đại dương. Tôi thấy mằn mặn nơi khóe mắt . Mãy người lính Mã Lai vẫn giương súng chờ đợi chúng tôi . Khi chúng tôi vừa bước chân lên bờ thì họ liền tập trung chúng tôi vào một chỗ, ai có ý định phản đối thi họ dùng báng súng đánh, họ đấm, đá thẳng tay . Hai người lính đi lấy những vòng dây kẽm gai quây chúng tôi lại ngay trên bãi biển này . Những người lính còn lại thì vẫn giương súng hầm hầm nhìn chúng tôi .  Hình như họ cũng hơi bị bất ngờ nên cũng còn bối rối chưa biết phải xư trí với chúng tôi như thế nào . Chúng tôi bị nhốt như những con vật. Số người hiếu kỳ kéo tới coi càng lúc càng đông. Họ nhìn chúng tôi một cách khinh bỉ và lớn tiếng chửi bới . Chúng tôi bị bất ngờ về cách đối xử này nên chỉ cúi đầu im lặng. Vài phụ nữ sụt sịt khóc. Khoảng mười phút sau có mấy người Tây Phương đi tắm biển sớm đến chỗ chúng tôi chụp hình và dùng mobile phone gọi đi đâu không biết. Tôi đoán họ gọi cho cảnh sát hay cho Cao ủy tị nạn. Nửa tiếng sau có hai chiếc xe cam nhông lớn trên đó có khoảng mười người vừa cảnh sát vừa lính tới . Họ la hét và lùa tất cả chúng tôi lên hai xe đó . Mọi người không ai hiểu họ sẽ đưa chúng tôi đi đâu . Tôi và vài người đoán họ sẽ đưa chúng tôi về một trại tị nan nào đó . Sau vài tiếng đồng hồ chạy ngang qua những thị trấn nhỏ, xe đi vào một con đường hẹp và khúc khuỷu rồi dừng lại ở một bãi trống bên một bờ sông vắng. Họ ra lệnh cho chúng tôi xuống. Một người trong nhóm có lẽ là một người gốc Hoa và có nói được vài tiếng Việt Nam . Họ phát cho chúng tôi hai con dao và bảo đi chặt những lá dừa gần đó về trải để ngủ tạm qua đêm. Họ cũng cho chúng tôi một bao gạo, vài cái nồi cũ và một ít cá khô còn nước thì họ bảo ra sông múc uống. Mọi người rất mệt nên cũng chưa nghĩ  gì đến chuyện ăn uống. Tôi và một số thanh niên đi chặt lá dừa về để trải ra cho mọ người nằm nghỉ . Phụ nữ thì đi kiếm lá cây khô về nấu cơm. Muỗi ở đây rất nhiều. Chúng tôi đốt lửa vừa nấu cơm vừa đuổi muỗi. Có năm người lính Mã Lai canh chừng chúng tôi. Họ ngủ trên một cái chòi cao gần đó để dễ quan sát những sinh hoạt của chúng tôi . Tuy mệt mỏi nhưng nghe ông chủ tàu nói ngày mai thế nào cũng có người của Cao ủy tị nạn tới phỏng vấn nên ai cũng thấy vui mừng. Khoảng mười giờ tối, lính Mã Lai yêu cầu chúng tôi không được đốt lửa nữa và phải im lặng đi ngủ. Chúng tôi tắt lửa nhưng không thể nào ngủ được vì muỗi nhiều qúa . Chúng tôi phải chia nhau cứ một người ngủ thì một người thức để quạt muỗi . Tôi vừa chợp mắt được một chút thì nghe tiếng la của mấy chị phụ nữ . Họ vừa la vừa chạy vì có mấy người lính Mã Lai tới định giở trò sàm sỡ. Tôi vội đốt lửa lên và cùng vài thanh niên chạy lại đó . Lính Mã Lai có vẻ mắc cở vội vã bỏ đi . 


Thứ Hai 09/05 /1979 

Tôi thức dậy thật sớm cùng vài người ra bờ sông rửa mặt. Nước mát lạnh làm cho chúng tôi tỉnh táo . Tôi khẽ huýt một điệu sáo vui chào đón buổi bình minh. Tôi nhìn lại mọi người thấy ai cũng phờ phạc và sụt đi đến mấy ki lô . Tôi cũng cảm thấy thân hình mình nhẹ đi rất nhiều . Khảng 9 giờ, có vài xe chở nhân viên Cao Ủy tị nạn tới, theo sau có khoảng ba xe lớn hơn . Họ làm cuộc phỏng vấn ngắn với từng người rồi điền những chi tiết đó vào những xấp giấy . Sau đó chúng tôi được những chiếc xe này chở về một trại tị nạn gần đó . Đó là trại tị nạn Kotabaru *, trại này nằm trên đất Mã Lai và ở gần biên giới Thái Lan .Trại trưởng là một người Mã Lai còn trại phó là một người Việt Nam. Chúng tôi được phát quần áo, chăn mùng và nhiều dụng cụ cần thiết khác. Chúng tôi được các bác sĩ khám bệnh và cho thuốc men. Buổi trưa có xe chở cơm, thức ăn và nước uống tới . Thức ăn ngon gồm có thịt gà và cá . Ông trại phó đi lập danh sách lý lịch từng người để đưa cho ông trại trưởng lập hồ sơ thanh lọc. 


Thế là sau mười ngày đêm gian khổ, hôm nay tôi đã được ở trong trại tị nạn. Cuộc sống tương đối tạm đủ và chúng tôi chờ được thanh lọc để được đến định cư ở nước thứ ba . Tói hôm đó, một số người tổ chức đọc kinh cầu nguyện cho ông Thanh. Sau khi đọc kinh xong, tôi ngồi xuống môt cái bàn nhỏ viết sẵn hai lá thư để ngày mai nhờ ông trại phó gửi giúp. Lá thư thứ nhất tôi viết cho anh Quang để báo tin cho anh và gia đình biết tôi và mọi người đã đến trại tị nạn Mã Lai bình yên, dĩ nhiên tôi không nói gì về cái chết thảm thương của ông Thanh. Tôi muốn anh tôi có được niềm vui trọn vẹn sau bao ngày mong chờ . Lá thư thứ hai tôi viết cho Lan -  người yêu bé nhỏ của tôi -  trong thư, tôi kể sơ qua cho Lan về những ngày gian khổ trên biển Đông và nói với Lan niềm hy vọng sẽ được gặp Lan trên một đất nước tư do trong một ngày không xa! Tôi vẽ lại những ước muốn cho tương lai của chúng tôi : được sống trên một đất nưóc tự do, được đi học thành tài, đi làm và sẽ có những đứa con xinh xắn . . .


Canberra những ngày giữa thu 

MAI KHÁNH THƯ – PHẠM DOANH MÔN 

* Ghi chú thêm về trai tị nạn Kotabaru: Mới đay khi đọc những bài viết của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, tôi được biết ông cũng đã từng ở trại tị nạn Kotabaru trong thời gian này . Chính ông là trại phó của trại này trong thời gian tôi tạm dung ở đó .


Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 14/Apr/2022 lúc 10:41am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 14/Apr/2022 lúc 12:01pm

Trạch Gầm- Một Giọng Thơ Độc Đáo

4429%20TrachGamDoTruong%20OLe%20ST

       Có lẽ, dính vào viết lách, nên tôi thường nhận được những tác phẩm thơ văn gửi tặng qua bưu điện, hoặc E-mail. Đó cũng là một niềm vui, sự an ủi không nhỏ cho những người cầm bút. Tuần vừa rồi, có một bác từ Houston, Hoa Kỳ gửi cho tôi chùm thơ, và hỏi có biết Trạch Gầm không. Vâng, tất nhiên là tôi đã bắt gặp tên tuổi nhà thơ này, khi đọc và nghiền ngẫm Văn học miền Nam trước đây, và các tác giả sau 1975 ở hải ngoại. Song mới chỉ đọc một vài đoạn trích ở đâu đó của Trạch Gầm, và chưa cho tôi một ấn tượng, hay cảm xúc gì đó đặc biệt. Tuy nhiên, khi nhận chùm thơ này, tôi đọc ngay, và đọc một mạch. Cái tráng khí Trạch Gầm làm cho tôi hơi bị sửng sốt. Do vậy, tôi tìm đọc ông. Và quả thực, thơ văn Trạch Gầm đã cho tôi một cảm xúc thật sâu sắc. Đọc thơ ông, tôi chợt liên tưởng đến nhà thơ Huỳnh Hữu Võ, và Nguyễn Bắc Sơn. Nếu ngôn ngữ thơ của những người lính Huỳnh Hữu Võ, Nguyễn Bắc Sơn mang tính đặc trưng, thì ta có thể thấy rõ cái nét độc đáo trong thi ca Trạch Gầm.

       Nhà thơ Trạch Gầm tên thật là Nguyễn Đức Trạch, người Quảng Ngãi, nhưng sinh trưởng tại Saigon. Ông xuất thân trong một gia đình truyền thống văn chương, bố là nhà báo kỳ cựu Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy và mẹ là nhà văn Bà Tùng Long. Cho nên, Trạch Gầm cũng như những người em của mình (nhà văn Nguyễn Đức Lập, nhà văn Nguyễn Đông Thức) không chỉ ở văn chương chữ nghĩa, mà còn chịu ảnh hưởng rất sâu sắc tư tưởng từ gia đình. Tuy nhiên, ông đến với thơ văn, đi vào cuộc chiến khá muộn. Năm 1965, tròn 23 tuổi Trạch Gầm mới nhập ngũ khóa 21 Trường sĩ quan Thủ Đức, và có mười năm lăn lộn nơi chiến trường. Thời gian này, ông bắt đầu viết lách, và đăng tải rải rác trên các báo trong và ngoài quân đội. Nhưng phải đến sau tháng 4-1975, với gần mười năm cải tạo tù đày, cùng những năm tháng cư ngụ nơi đất khách Hoa Kỳ, cây bút Trạch Gầm mới như có ma lực vậy. Viết không nhiều, song những tác phẩm của ông đã đánh đúng vào tâm lý, chạm đến được tận cùng nỗi đau, sự cảm thông của con người, nhất là đối với những người lính đã trải qua cuộc chiến tranh, tù tội. Vì vậy, tự sự là một trong những thủ pháp nghệ thuật làm nên những trang viết ấy của Trạch Gầm. Cho đến nay, Trạch Gầm mới cho in ấn, xuất bản ba tập thơ: Vụn Vặt, Ráng Chịu, Dấu Giày Chinh Chiến, cùng hai tập truyện: Bên Lề Cuộc Chiến, Chôn Lầm Huyệt Nhớ, và tuyển tập Nhốt Vòng Nhớ Thương. Do vậy, ta có thể thấy, tuy là một nhà thơ, nhưng văn xuôi đã góp phần không nhỏ làm nên tên tuổi Trạch Gầm.

*Chiến Trường, Nơi Ấm Tình Đồng Đội.

       Cũng như Phan Nhật Nam, hay Trần Hoài Thư, ngay từ những ngày đầu cầm súng Trạch Gầm đã nhận ra: “Cái khốn nạn của thế hệ chúng tôi, quê hương tôi, vận mệnh không nằm trong đôi tay của chúng tôi. Vì bọn ngoại bang đã đặt cả dân tộc của chúng ta lên bàn cân buôn bán!”. Tuy mang nặng cái tư tưởng như vậy, nhưng mười năm cầm súng, Trạch Gầm không hề có sự mâu thuẫn, giao động trên đầu súng như nhà thơ, người lính Nguyễn Bắc Sơn. Với ông có sự phân biệt rạch ròi trách nhiệm của người lính. Do vậy đi vào cõi tử sinh, ta vẫn thấy cái hào khí Trạch Gầm, dường như có một chút ngang tàng: “Vào cõi chết ỉ ôi cùng chia chết/ Cầm súng lên rồi… trời đất bằng vung“. (Ngồi Nhớ Củ Chi). Khi đi sâu vào đọc ông, tôi hơi bị bất ngờ và xúc động. Sự rung động ấy không hẳn vì tài năng miêu tả, trần thuật, mà bởi nghệ thuật đưa khẩu ngữ vào thơ văn của Trạch Gầm. Ngoài sự dân dã đó, ta còn thấy thơ Trạch Gầm đều có nhân vật, với những đại từ nhân xưng được cho là bỗ bã, một điều tối kỵ trong thơ văn từ trước đến nay. Tuy nhiên, đọc ông dường như cái bỗ bã ấy đã trở nên nhẹ nhàng và gắn kết thân mật hơn, kể cả khi viết cho người tình: “Tao ở tù lâu, mày lấy chồng cũng phải/ Tao ra tù, mày bán máu đãi tao/ Miếng bông băng trên khủy tay run rẩy/ Tao khóc đã đời… “. Vâng, âu đó cũng là tài năng, sự độc đáo trong thi ca Trạch Gầm vậy. Và cái sự dân dã, độc đáo ấy, đã gọi tên, đi thẳng vào cái tàn khốc của chiến tranh, nỗi đau của con người:“Mỗi tấc đất được giữ bằng xương máu/ Thằng vừa chôn bị hất lên bởi pháo/ Thằng bị thương chưa bó… lại bị thương“ (Dấu giày chinh chiến). Song nó cũng đã làm dịu ấm lại tình bạn bè, đồng đội nơi binh đao, khói lửa ấy: “Tao với mày đạp chân qua bao bến/ Bến Nẩy, Bến Mương, Bến Dược, Bến Đình/ Đất Củ Chi này, mỗi lần nhắc đến/ Đã đến rồi thằng nào lại nỡ quên/ Dân đánh đấm bọn mình thường lắm bạn/ Địa danh nào chẳng có đứa đâu lưng/ Có lắm lúc khề khà trong lửa đạn/ Lại lắm khi ngồi cạn chén rưng rưng.” (Ngồi Nhớ Củ Chi).

       Nếu chưa đọc Lữ Quỳnh, hay Phạm Tín An Ninh, hoặc Thảo Trường… thì có lẽ, tôi không thể tưởng tượng ra được cái bi thương của người lính khi đọc: Trở lại Bình Long của Trạch Gầm. Có thể nói, đây là một bài thơ hay của Trạch Gầm, và cũng là một trong những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh, thân phận người lính của nền Văn học Việt Nam. Sự tàn khốc mang tính chân thực ấy, đọc nó, tôi phải sởn gai ốc, khi ngồi viết những dòng chữ này:


“Cũng nơi đây… ta bò ra ao rau muống
Quơ đại ít về nấu bát canh tươi
Rau dính tóc tai bay mùi thum thủm
Ngập dưới ao… có mấy chục xác người
Cũng nơi đây… ta đắp mồ cho bạn
Vừa quay lưng xác bạn lại bật tung
Mỗi thước đất cài trăm ngàn mảnh đạn
Ta, sống nhăn, hóa kiếp… gọi anh hùng“


        Giữa chiến trường khốc liệt, và gian nan là thế, song hình ảnh người lính, lòng nhân đạo vẫn hiện lên đậm nét trong thơ Trạch Gầm. Với ông, nỗi đau, sự mất mát xóa nhòa ranh giới bạn và thù: “Hai thằng cắn răng bò qua bao xác/ Xác bạn xác thù trộn lẫn đau thương“. Và dưới bom rơi, đạn nổ không làm cho người lính Trạch Gầm run sợ, vậy mà cái tình người, tình đồng loại đã khiến ông phải rưng rưng đến nghẹn ngào:


“Cũng nơi đây… ta cứu người con gái
Gởi trực thăng di tản về Bình Dương
Trực thăng nổ khi vừa rời mặt đất
Ta điếng hồn như vừa nuốt phải xương“ (Trở lại Bình Long)


        Nếu “Trở lại Bình Long“ ngoài sự tàn khốc, trùm lên tất cả là lòng nhân bản, tình đồng loại, thì đến với “Trở lại Long Khánh“ Trạch Gầm đi sâu vào cái tình đồng đội, cùng chia sẻ nỗi đau mất mát, với sự ngậm ngùi, cảm thông: “Cầm ly rượu liếm môi còn máu bạn/ Hai thằng cười nước mắt ngập tràn ly“. Và nỗi vui, buồn lo âu ấy, luôn ám ảnh trong lòng thi nhân. Với tâm trạng như vậy, song những câu thơ có tính khẩu ngữ dung dị vẫn ấm tình người lính ở nơi địa đầu sinh tử: “Sợ bàn rượu thiếu một thằng mất sướng/ Thiếu một thằng là hụt hẫng niềm vui/ Đời lính chiến bao phen trào nước mắt/ Tìm cái bắt tay… đất sập, lủng trời“. Có thể nói, Trở lại Long Khánh không phải là bài thơ hay nhất của Trạch Gầm, nhưng có những câu thơ (mang) hình tượng rất đẹp:


“Tựa vách đá mòn bao lưng chinh chiến
Bỗng dưng thèm hai tiếng gọi mầy tao
Tiếng gọi mầy tao, những chiều tắt nắng
Dựng mặt trời bằng ngàn ánh hỏa châu“


        Trạch Gầm đã bộc lộ và gửi cảm xúc của mình vào nhiều thể loại, từ lục bát, ngũ ngôn cho đến thơ tự do… Nhưng phải nói, những bài thơ hay của ông đều thuộc thể bát ngôn. Một thể thơ không quá gò bó bởi niêm luật. Và“Đêm Giao Thừa Của Lính” là một bài thơ như vậy. Với tôi, đây là bài thơ tiêu biểu nhất về tâm trạng của người lính nơi trận tiền giữa giờ phút thiêng liêng (của đêm giao thừa). Bài thơ như một một lời an ủi, tự ru lòng mình vậy. Giữa núi rừng sâu thẳm, trong cái phóng khoáng, dường như có một chút ngang tàng, dường như ta vẫn thấy được cái an nhiên tự tại của người lính. Và cái giây phút thiêng liêng ấy, họ vẫn muốn sum họp, sẻ chia cùng đồng đội những người đã nằm xuống: “Chừa vài chén cho những thằng nằm xuống/ Gọi nó về cùng ngồi uống cho vui“. Tôi đã đọc khá nhiều thơ văn viết về chiến tranh, song thành thật mà nói, rất ít người viết về đồng đội sâu đậm như Trạch Gầm:

“Bày ra mầy… một vài chai rượu đế
Giữa núi rừng còn hương vị nào hơn

Ai cấm mầy không được quyền mơ ước
Cứ vẽ ra vài dáng dấp phố phường
Cài lên đó thêm vài hàng nước mắt
Y chang rằng mình cũng có người thương
Bất bình hả… lia lên trời vài loạt
Nhớ cài nhiều đạn lửa đốt màn đêm
Soi rọi thử lại khoảng đời phiêu bạt
Khóc hay cười cùng bè bạn anh em…“


        Có thể nói, thơ Trạch Gầm ghim được vào lòng người đọc như vậy, nhất là những người lính, bởi tính chân thực. Mỗi địa danh, mỗi trận đánh đều mang dấu ấn của lịch sử. Bạn bè, đồng đội ông là những con người thực, tên tuổi thực. Mỗi câu thơ như một mũi khoan xoáy vào lòng người vậy: “Vợ thằng Dấm đấm ngực tao bình bịch/ Chồng em đâu, chết rồi hả anh Hai”. Cho nên, sống hay chết đều để lại những nỗi đau, với kỷ niệm buồn sau chiến trận. Và Trạch Gầm như một người thư ký, cần mẫn ghi lại bằng thơ. Âu đó cũng là sự giải tỏa nỗi lòng Trạch Gầm, và cho cả đồng đội ông.

*Những Ngày Tháng Tư – Với Linh Hồn Rách Nát.

       Và tháng Tư đến, cái nhận thức, tư tưởng ngay ban đầu của Trạch Gầm đã trở thành hiện thực. Thân phận đất nước nói chung, và người lính nói riêng đã được đặt lên bàn, để cân đong đo đếm. Người lính ấy, không thể tự quyết số phận của mình trên chiến trường. Chỉ với hình ảnh một ông tướng thăm dân và thị sát, rồi không bao giờ trở lại, Trạch Gầm đã cho ta thấy rõ cái bản chất của cuộc chiến này. Sự phũ phàng, xảo trá, và lưu manh đó đã đưa đất nước, con người vào đường cùng, ngõ cụt. Và Nhật Ký Tháng Tư là một bài thơ như vậy của Trạch Gầm: “Hai tám tháng Tư, ta ra lộ Một/ Gặp ông tướng vùng thị sát thăm dân/ Ông nói lung tung, ông thề sống chết/ Ông nói xong rồi, ông bay biệt tăm“. Có thể nói, Nhật Ký Tháng Tư là một bài thơ điển hình, chân thực nhất của Trạch Gầm về những ngày tháng tang thương này. Lời thơ tự sự, với những hình ảnh so sánh: mất/ còn, làm cho người đọc phải nghẹn ngào, xót xa:


“Hai chín tháng Tư, Biên Hòa xơ xác
Ta về Sài Gòn ngang qua nghĩa trang
Ta đứng nghiêm chào bạn ta đã chết
Như tự chào mình – nát cả tim gan.
Ba mươi tháng Tư, ta ôm mặt khóc
Trên cầu Sài Gòn – cạnh phố Hùng Vương
Mười năm binh đao, mười ngày kết thúc
Ta còn nguyên, mà mất cả Quê Hương…“


        Vậy là, người lính Trạch Gầm vẫn còn sống để trở về, nhưng linh hồn dường như đã mất. Sự chán chường, và vô nghĩa ấy, buộc ông trải vào những trang thơ. Lời trước nghĩa trang, tuy không phải là bài thơ hay của Trạch Gầm, song nó tiêu biểu cho cái diễn biến tâm lý chung (rất sâu sắc, chân thực) của người lính thất trận ở những ngày này. Vẫn biện pháp tu từ so sánh, đoạn trích dưới đây cho ta thấy rõ điều đó:


“Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không“


        Và sau cuộc chiến, tù cải tạo là con đường duy nhất của người lính. Lững thững vô tù mà Trạch Gầm vẫn không thể tin miền Nam đã sụp đổ:“Ngày mất nước không tin mình thua cuộc/ Tuổi mới hăm đã lững thững vô tù/ Vai nhẹ tếch quải vài dòng nước mắt/ O Huế nào đã khuấy đọng lu bu…“. Cái phũ phàng, và bất ngờ ấy, dường như không chỉ riêng ở người lính Trạch Gầm, mà ta còn bắt gặp trên trang văn Phan Nhật Nam, và cả Trần Hoài Thư nữa. Họ đều nghĩ: “hết chiến tranh anh sẽ về Nha Trang dạy học và cưới em“ (Trần Hoài Thư). Nhưng buồn thay, các bác cùng dắt tay nhau vào rọ cả. Ở nơi chuồng người Hoàng Liên Sơn với những điều trớ trêu, và nghịch lý đó, chẳng biết các bác có gột rửa được tâm hồn hay không? Nhưng đọc những câu thơ khí chất Trạch Gầm thấy người hơi rung rinh, sảng khoái: “Ngươi nói trăm điều: một điều không biết/ Ngươi là thá gì mà… cải tạo Ta?“. Có thể nói, tù đày, chết chóc chưa hẳn là điều đáng sợ, mà nỗi đau tinh thần mới là sự ám ảnh, tang thương nhất đối với người lính thất trận. Và nỗi đau ấy, vượt ra khỏi những trang thơ, buộc Trạch Gầm phải đến với văn xuôi, truyện ngắn. Tôi đã tìm đọc một số truyện của ông trên internet, nhưng có thể nói, Cháy Giữa Mùa Xuân là truyện ngắn độc đáo, hay nhất của Trạch Gầm. Độc đáo bởi, lần đầu tôi được đọc một tù cải tạo viết về gái gú bán mua rất sinh động và chân thực ở ngay chốn lao tù. Và ở đó cũng cho tôi thấy cái tình người vẫn còn sót lại ở nơi địa ngục trần gian này: “Tôi thì không như mấy thằng trong trại, chúng chỉ biết coi tù, rắc rối bỏ mẹ xử lý chẳng có chút chi là tình người…Với tôi ông muốn nói gì cũng được tất, chuyện xưa chuyện nay, hát nhạc vàng, hát vọng cổ… ngồi trước mặt tôi các ông không nên chửi đảng, thế thôi“. Với từ ngữ, lời thoại dân dã, mộc mạc, cùng thủ pháp châm biếm, Trạch Gầm cho người đọc tiếng cười thật chua chát. Trích đoạn lời thoại giữa nữ xã đội trưởng giám sát với những người tù phá đá nung vôi dưới đây, sẽ cho ta thấy rõ điều đó:
“Trong 6 thằng bọn anh thật mà nói chẳng có thằng nào còn giữ được cái đồng hồ. Nếu trong trại còn có đứa nào yếm được thì anh sẽ cố kiếm mua cho em. Có điều em bảo gì gì cũng được anh lại không hiểu gì cả…
Nở cười:
Gì gì em muốn nói ở đây là chất tươi đó mà, nói toẹt ra là gái đấy.
Điệp chận lời:
-- Xã hội chủ nghĩa mà còn lưu hành cái món nầy sao? Anh cứ nghĩ là được giáo dục đến nơi đến chốn hết rồi chứ.
-- Ôi! cái nghề có từ đời thượng cổ, càng đói rách thì càng sanh mầm như nấm gặp mưa. Nói cho anh rõ ngoài Yên Bái đánh một quả năm tì, trong làng mộc mạc, giá hữu nghị chỉ có ba tì… các anh, anh nào cũng sức trai hừng hực. Những ngày mà bọn tôi còn trong rừng núi Trường Sơn, nhiều đồng chí nam bị sốt ác tính vật còn như tàu lá, thế mà thấy các đồng chí nữ tắm suối vẫn ngẩng đầu lên xin tí tình“
        Đọc Cháy Giữa Mùa Xuân, ta thấy rất nhiều tình tiết đan xen tạo nên bức tranh đa màu. Ở đó, ta không chỉ thấy được nỗi thống khổ của những tù nhân, mà còn thấy được cái bi kịch của cả một xã hội. Sự tàn nhẫn, mông muội của cường quyền đẩy con người đến đường cùng không lối thoát. Và với hình thức hư cấu (thằng bé hóa thành tinh) Trạch Gầm muốn nhắc đến một điều, quả báo là có thực chăng:
“từ cái lò này, trước khi các anh ra ba năm, có một đứa bé mới sanh bị quăng cháy trong lò. Con bé chồng đi bộ đội biệt tăm biệt tích, hiu hiu cùng bố chồng đơn chiếc tự dưng có bầu. Con bé bị hành lên xách xuống bởi ủy ban nhân dân, bởi hội phụ nữ toàn dân góa bụa, cứ muốn phăng cho biết ai là tác giả. Con bé cắn răng cho đến ngày sanh. Thằng bé vô tội cháy giữa mùa xuân. Con bé vào tù, người cha chồng phát điên, cửa lò vôi bị khép lại. Dân làng chẳng có người nào dám mò đến đây vì họ cho rằng thằng bé thành tinh mỗi năm vật vài tay già trong làng để trả thù cho mẹ nó. Chuyện đấy, tôi không hiểu tại sao các anh không bị thằng bé hành, có thể các anh là tù, là cái tận cùng của mạng số.“
* Con Phố Tha Phương- Lặng Lẽ- U Sầu.
“Con phố tha phương- lặng lẽ- u sầu“ có lẽ là câu thơ buồn nhất của Trạch Gầm, khi đặt chân tới Mỹ. Và tôi cũng mượn nó để (làm tiêu đề) viết cho phần kết về ông. Nỗi u buồn đó, phải chăng nhà thơ không, hay chưa tìm được tiếng nói chung, một tâm hồn đồng cảm: “Đất Mỹ tự do, mà vẫn thấy buồn/ Mười mấy năm tù khổ thì có khổ/ Nhưng bạn bè cùng một nỗi nhớ thương“. Thật vậy, trước thực trạng lòng người chia năm xẻ bảy ngay trên mảnh đất tự do này, với phép hoán dụ, Trạch Gầm đã gửi cái chán chường ấy vào thi phẩm: Nói với bạn bè. Có thể nói, đây là một trong những bài thơ hay, và chân thực nhất của Trạch Gầm viết trong thời gian này. Nó đã được nhạc sĩ Nguyễn Văn Thành phổ thành ca khúc cùng tên:


“Tao bây giờ không tiền mua rượu uống
Mà vẫn say… say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng – Nước vẫn tang thương”.


        Với Trạch Gầm, thân phận người lính nơi chiến trường, hay nơi núi rừng Hoàng Liên Sơn, hoặc ở nước Mỹ tha phương thì vẫn áo đời tơi tả. Những câu hỏi tu từ trong thơ, dường như Trạch Gầm không tìm lời giải đáp. Song như “có nụ buồn” quặn xoắn trong lòng người vậy:


“Hốt vài nụ cười tha phương đất lạ
Có nụ buồn nào có tuổi không em
Anh vẫn là anh áo đời tơi tả
Xô mộng lưng trời… té ngả té nghiêng” (Nói cùng buồn)


        Với thực trạng (thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước) ấy, Trạch Gầm chỉ còn biết gửi hồn vào những trang thơ, rồi mở ra một lối đi riêng cho mình. Do vậy, ta có thể thấy, tình yêu quê hương và nỗi nhớ đồng đội vẫn thường trực trong ông: “Thêm một ngày lưu lạc/ Thao thức cùng Quê Hương/ Bạn bè còn bao đứa/ trắng đời giữa tuyết sương” (Nỗi nhớ không nguôi).
        Tuy viết không nhiều, nhưng mảng thơ thời sự xã hội góp phần không nhỏ làm nên cái chất độc đáo Trạch Gầm. Với thân đất khách, hồn nơi quê nhà, cho nên một sự kiện nhỏ xảy ra ở quê hương cũng làm cho ông day dứt. Lời cho Lê Thị Công Nhân là một bài thơ, hay một lời cảm phục, một sự phẫn nộ của Trạch Gầm, khi nghe tin cô bị bắt. Có thể nói, thơ thế sự của Trạch Gầm luôn đứng về phía lẽ phải, mang hơi ấm của sự đồng cảm đến với những con người cô đơn, bị trị. Tự do dân chủ là tư tưởng xuyên suốt trang viết của ông: “Người con gái ấy/ Đủ điều kiện, sống một mình an lạc/ Đã bỏ nụ cười vì nhìn thấy chung quanh/ Những khổ đau, những đày đọa, những bạo hành/ Bởi những kẻ/ Tự vỗ ngực xưng mình có công cùng đất nước”. Và ngòi bút ông chọc thẳng vào ung nhọt của xã hội, nhất là những kẻ bán rẻ Tổ quốc và lương tâm. Lời thơ dồn nén uất ức, nhưng thẳng thắn, với khẩu ngữ mang giọng điệu hài hước làm cho người đọc phải bật ra tiếng cười chua xót, và căm phẫn: “Ð.M. cho tao chửi mầy một tiếng/đất của cha, ông sao mầy hiến cho Tầu.”. Dù sức đã cùng, lực đã kiệt, và sống xa cả chục ngàn cây số, người lính Trạch Gầm vẫn nặng lòng với đất, quê hương. Do vậy, không chỉ dừng ở đó, Trạch Gầm truy vấn đến cùng trách nhiệm của người lính mang danh bộ đội nhân dân, mỗi khi đất nước có sóng gió, hiểm nguy:


“Là bộ đội nhân dân…
Sao mầy đi bảo vệ
Một lũ đầu trâu hút máu Đồng Bào
Một lũ đầu trâu hiến đất cho Tàu
Tác quái lộng hành… giam người Yêu Nước
Tổ Quốc lâm nguy sờ sờ trước mắt
Non nước đang cần Bộ đội Nhân Dân
Cần những thằng đã từng nặng lời thề thốt
Quyết tử để Tổ Quốc sống còn…” (Bộ đội nhân dân)


        Có thể nói, thơ Trạch Gầm chân thực, và mộc mạc, dễ hiểu, không kén người đọc. Cho nên, từ tầng lớp trí thức cho đến bình dân đều đồng cảm yêu mến văn thơ của ông. Trên một trăm bài thơ của Trạch Gầm đã được mười sáu nhạc sỹ phổ nhạc, đã minh chứng cho điều đó. Mỗi bài thơ của ông là một trang nhật ký, một trang sử, hay một hoài niệm về một thời chinh chiến, và tù đày. Cũng như Phan Nhật Nam, hay Phạm Tín An Ninh… tôi nghĩ, cả cuộc đời Trạch Gầm không thể bước ra khỏi cuộc chiến này.
        Tôi chưa từng gặp gỡ, và quen biết Trạch Gầm, đọc và viết về ông trong thời gian trên chục ngày, sau giờ làm việc. Do vậy, chắc chắn không thể đào bới hết, và còn nhiều sai sót về văn thơ Trạch Gầm. Nhân tháng Tư, tôi viết bài này như một lời tri ân đến bậc tiền bối vậy.

Leipzig ngày 4-4-2022
TG : Đỗ Trường
(From : Oanh Lê)



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 14/Apr/2022 lúc 1:46pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 15/Apr/2022 lúc 9:33am

SAIGON LA FIN

... Lệnh đầu hàng từ Sài Gòn loan ra trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lời báo dữ như tiếng sấm trái mùa làm nổ tung giông bão đang giậm giựt giữa thinh không. Lòng người cũng giống thinh không buổi đó, ngầy ngật cơn nóng sốt thời cuộc, âm ỉ một niềm lo nghĩ không nguôi...

CAO VI KHANH

Đọc tiếp   <<<<<



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 16/Apr/2022 lúc 2:50pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 16/Apr/2022 lúc 2:56pm

THÁNG TƯ - THÁNG THẦM

Ờ thì tôi muốn viết một điều gì đó cho em, khi tháng tư đang lật bật sắp hết và những hàng phố quanh đây đang háo hức bày bàn ghế ra vỉa hè. Rồi thì trên trời những đám mây xám thôi không còn dậm dật những hột tuyết cuối mùa...

CAO VI KHANH

Đọc tiếp   <<<<<
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 28/Jul/2022 lúc 8:59am

NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH


Hội%20Quán%20Phi%20Dũng

Tôi nằm im lặng, thả hồn theo tiếng hát từ chiếc radio bên gối. Đã hơn nửa thế kỷ rồi, mỗi khi nghe lại bản “Nếu Em Không Là Người Yêu Của Lính” của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tôi vẫn xúc động: 


Nếu em không là người yêu của lính                                                                             Em sẽ nhớ ai Chủ Nhật trời xinh                                                                                  Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng                                                                              Và giữa chốn muôn trùng                                                                                              Ai viết tên em lên tay súng…

Bên ngoài trời rả rích mưa. Đã đến tháng Tư, sang Xuân rồi mà sao trời Cali vẫn mưa gió lạnh lẽo thế này? Tôi liên tưởng đến những đêm mưa ở quận biên thùy Lộc Ninh, tỉnh Bình Long hay quận đất đỏ An Lộc, tỉnh Long Khánh. Năm mươi năm trước, tôi đã sống và làm việc nơi đó như một công chức biệt phái - một “người lính không quân phục” đầu tiên trong đời.

Tuần rồi, người bạn văn nghệ chào từ giã lên đường sang Úc thăm Mẹ già. Người bạn vong niên ấy rất thích những bài viết về lính, nhất là bài thơ Gởi Em, Cô Giáo Bình Long của người lính Biệt Kích vô danh. Người bạn trẻ viết trong email:Bên xứ Kangaroo này mưa dầm lê thê, ít nhất cũng hơn một tuần rồi anh ạ...” Tôi thầm nghĩ: sao hai xứ ở bắc và nam bán cầu, mùa này khí hậu giống nhau đến thế? Phải chăng trời đất cũng nhỏ lệ khi đến tháng Tư Đen- tháng đau buồn uất hận của người Việt tỵ nạn khắp địa cầu.  

Chiều qua, tôi tìm thấy trong điện thư một bài viết về “Huyền Thoại Người Đẹp Trong Tim Cả Triệu Người Lính VNCH” của LVHải. Tác giả viết:

“Tiếc Thương Giọng Nói ngọt ngào “Em Gái Hậu Phương” Dạ Lan 2 (Hồng Phương Lan) Xướng Ngôn Viên của Đài Phát Thanh Quân Đội VNCH, vừa mới ngừng tiếng nói!...

da%20lan%20hai%5b23742%5d…Trong hồi ký của nhà văn Văn Quang, kể về quá trình hình thành chương trình Dạ Lan như sau: Vào khoảng đầu thập niên 1960, Đại tá Trần Ngọc Huyến là người có sáng kiến tạo ra Chương trình Dạ Lan trên Đài Phát Thanh Quân Đội. Ngay sau khi ra mắt, chương trình này được hầu hết quân nhân yêu thích. Dần dần trở thành chương trình được mến mộ nhất của đài. Nhưng hơn một năm sau, vì lý do riêng, nữ xướng ngôn viên Xuân Lan xin nghỉ việc, dọn về Đà Lạt. Đài Phát thanh Quân Đội bèn chọn một nữ xướng ngôn viên khác, có giọng nói y hệt Xuân Lan, khiến thính giả không thể phân biệt được, đâu là người mới, đâu là người cũ…Người tiếp tục chương trình Dạ Lan, cũng do một sự tình cờ, lại vẫn có tên thật là Lan, Hồng Phương Lan....

****

Trong khi tiếng nói của “Em Gái Hậu Phương Dạ Lan” vang lên hằng đêm từ đài Phát Thanh Quân Đội ở Sài Gòn, thì tại Bình Long cuộc chiến 93 ngày - bắt đầu từ tháng năm, 1972 - trở nên khốc liệt. Cuối cùng quân đội ta đã anh dũng đẩy lui cộng quân ra khỏi An Lộc. Nơi chiến tuyến này, phát xuất huyền thoại “Cô Gái Bình Long” - tác giả hai câu thơ đầy hào khí “An Lộc địa sử lưu chiến tích/ Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.” Đây cũng là hai câu đối ghi trên đài Tử Sĩ tại nghĩa trang An Lộc dành cho các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù tại chiến trường Bình Long. 

Hồi ấy, nhân vật “Cô Giáo Pha” tại Bình Long được báo chí Sài Gòn nhắc nhở, tôn vinh. Nhất là sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm và khen ngợi các chiến sĩ đã tạo nên chiến thắng ở mặt trận An Lộc, Bình Long. Đồng thời Ông cũng trao tặng cho quân dân tử thủ tại thành phố nhỏ bé này một mỹ danh: Bình Long Anh Dũng!

 Hai năm trước khi xảy ra trận chiến, tôi làm việc tại An Lộc, tỉnh lỵ Bình Long. Hồi ấy, tôi biết cô Pha là thư ký tại toà Hành Chánh tỉnh. Đó là một thiếu nữ trẻ, duyên dáng, mặn mà. Nửa năm sau, tôi thuyên chuyển lên Lộc Ninh, quận biên thùy của  tỉnh Bình Long.

Cô Pha xuất thân trong một gia đình nho giáo tại Lộc Ninh. Cô có người anh là Trưởng Chi Thông Tin quận Lộc Ninh và người em trai làm việc tại văn phòng quận. Thỉnh thoảng người anh cô Pha mời tôi đến nhà chơi vào cuối tuần; và nơi đây, chúng tôi uống trà đàm đạo văn thơ. Những khi ấy, cô Pha thường về nhà ở Lộc Ninh để hội ngộ cuối tuần với gia đình.

Khoảng tháng 6 năm 1972, chiến cuộc xảy ra tại An Lộc, cô Pha bị đạn pháo kích gây thương tích ở chân. Cô được các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đưa cô về Trạm Xá Dã Chiến cạnh Bộ Chỉ Huy chăm sóc. Hằng ngày nhìn thấy các anh chiến sĩ cặm cụi chôn cất, làm mộ bia cho các đồng đội đã hy sinh, cô cảm xúc sáng tác hai câu thơ nổi tiếng. Hồi ấy, một anh Biệt Cách Nhảy Dù trẻ tuổi đã viết bốn mươi bốn câu thơ “Gởi Em- Cô Gái Bình Long”. Bài thơ thật cảm động, được sáng tác khi người Biệt Kích trẻ này bị thương nặng và bị bắt ở chiến trường Phước Long. Tám ngày sau anh qua đời. Trong bài thơ ấy có nhắc đến “cô giáo Pha” mà báo chí đã tạo nên một huyền thoại về “Cô Gái Bình Long”:

… Pha hỡi, bây chừ em đâu nhỉ ?
Cô giáo hôm xưa đã lấy chồng ?
Chúc em hạnh phúc răng long bạc.
Còn anh hôm nay vào Phước Long….

…"An Lộc địa sử lưu chiến tích.
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân"
Lời thơ hôm ấy sao hay quá.
Nghĩa trang buồn như tiếng lá rơi….

 

Ngoài tài thi phú, cô Pha có giọng hát thật hay. Tôi đã được nghe cô hát một lần tại tiệc cưới ở nhà hàng Á Đông, Chợ Lớn, vào khoảng năm 1970. Không biết do một cảm xúc nào làm cô ứa lệ khi cất tiếng hát, khiến thực khách trong nhà hàng hôm ấy cũng rơi lệ? 

 

Mùa thu năm 1992, tôi cùng gia đình đến Hoa Kỳ theo diện H.O. Những ngày tháng đầu tiên nơi miền đất tỵ nạn, tôi được một công việc làm ban đêm. Một hôm, tôi gặp đôi vợ chồng trung niên người Việt cũng làm nơi ấy. Người chồng- một cựu sĩ quan Cảnh sát VNCH mà tôi  quen biết tại Long Khánh năm 1973- đã giới thiệu người vợ với tôi. Tôi nhận ra cô ký Pha ở toà Hành Chánh Tỉnh Bình Long năm xưa. Sau đó, tôi có liên lạc bằng điện thoại với người cựu sỹ quan Cảnh Sát để hỏi lai lịch hai câu thơ của “Cô giáo Pha”. Anh cho biết, chính “Cô Ký Pha”- vợ anh, chứ không phải “cô Giáo Pha” đã sáng tác hai câu thơ này.

Sau thời gian ngắn làm việc ban đêm, tôi ghi danh đi học , rồi làm việc vào ban ngày. Từ đó tôi không còn gặp vợ chồng cô Pha nữa. Thật đáng tiếc. Bởi thời gian gặp gỡ của những kẻ “tha hương ngộ cố tri”như chúng tôi quá ngắn, không đủ để hàn huyên tâm sự về những kỷ niệm một thời khói lửa năm xưa.       

                                                              *****

  Đêm nay nơi đất khách, tiếng hát “Nếu Em Không Là Người Yêu Của Lính” của ca sĩ Ngọc Minh đã ngưng từ lâu, nhưng tôi vẫn nằm im thẫn thờ. Ngoài kia, trời vẫn còn rả rích mưa khiến tôi chợt nhớ bốn câu thơ của một thi sĩ người Pháp, Paul Verlaine:

Il pleure dans mon cœur                                                                                                         

Comme il pleut sur la ville ;                                                                                                                    

Quelle est cette langueur                                                                                                Qui pénètre mon cœur ?.....

(Tạm dịch ra tiếng Việt:              


Lệ ứa trong tim tôi                                                                                                  

Như mưa rơi trên phố                                                                                                     Sao cơn mỏi mệt nào                                                                                                                                     Len lỏi vào lòng tôi?...)

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt gần nửa thế kỷ rồi. Nắm xương tàn của những chiến sĩ đã hy sinh cho đất nước, cho gia đình, cho những “người yêu của lính” nay cũng đã phôi pha trong lòng đất. Nhưng mỗi khi nghe những bài hát, những bài văn, bài thơ nhắc đến người chiến binh VNCH năm xưa, tôi vẫn cảm thấy xúc động. Mối hoài cảm ấy đến nay vẫn chưa “mỏi mệt” - như lời thơ của Verlaine. Bởi những giọt lệ cảm xúc vẫn còn dâng lên trong khoé mắt già nua của tôi, khi nhớ lại những trận đánh kinh hoàng năm xưa tại  Miền Nam nước Việt. 

Và cũng như tôi, đã có những em gái hậu phương đem lại niềm khích lệ cho các anh chiến sĩ nơi tiền tuyến.  Họ đã tạo nên huyền thoại “Em Gái Hậu Phương Dạ Lan” của dài Phát thanh Quận Đội, hay huyền thoại “ Cô Pha ”của Bình Long… Giọng nói êm ái, chan chứa tình yêu thương; hay những câu thơ đã làm nức lòng người chiến sĩ VNCH- những người đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Như anh chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù trẻ tuổi đã viết những câu thơ hào hùng trước khi qua đời tại chiến trường Phước Long năm xưa:

"Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu.
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi"
Sá gì một cõi đi về đất.
Biệt Kích lưu danh, Biệt Kích đời.                                                                                                                                (Biệt Kích vô danh)                                                                              Tam Bách Đinh Bá Tâm



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 28/Jul/2022 lúc 9:01am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 29/Jul/2022 lúc 9:47am

Chiến Sĩ Áo Đen - Người Lính Không Số Quân 

 TÔI%20ĐI%20THỤ%20HUẤN%20KHÓA%203/66%20TỔNG%20ĐOÀN%20TRƯNG%20VƯƠNG%20–%20TTHL.CB/Xây%20Dựng%20Nông%20%20Thôn/TƯ%20VŨNG%20TÀU%20–%20dòng%20sông%20cũ

Tiếng điện thoại reo lúc 10 giờ tối. Tôi đang lim dim, chợt bừng tỉnh ngồi dậy bắt điện thoại:

- A-lô, xin lỗi ai đầu dây?

Tiếng người bên kia đầu dây:

- Dạ, em đây! Anh còn nhớ em không?

Tôi ngập ngừng vì chưa nhận ra người gọi:

- Em là ai mà gọi anh giờ này?

Tiếng cười lanh lảnh bên kia đầu dây:

- Dạ, em là Bình đây, Bình “Nhân Dân Tự Vệ” ở ấp Phú Cường đó. Anh nhớ chưa?

Tôi ồ lên một tiếng vì hình ảnh cậu “Nhân Dân Tự Vệ” tên Bình ngày xưa hiện rõ mồn một trước mặt. Không giấu vẻ ngạc nhiên, tôi hỏi:

- Ủa Bình! Em đang ở đâu mà sao biết số điện thoại anh?

Trong câu chuyện trao đổi với Bình, cậu NDTV gợi lại trong tôi bao kỷ niệm u hoài ray rứt mà cho đến bây giờ, sau bao thăng trầm vẫn còn dằn vặt.

Lúc ấy, cậu bé Bình mới độ tuổi 15 nhưng có vóc dáng to cao như một chàng thanh niên cường tráng. Tình hình chiến sự leo thang, cấp độ phòng thủ an ninh xã ấp rất là nghiêm ngặt. Bọn du kích Việt cộng đột nhập về thôn xóm thường xuyên. Cậu bé Bình đã thân lên tận Quận xin được vào gặp tôi. Lý do là cậu ta xin tình nguyện nhận khẩu Trung Liên BAR, vũ khí liên thanh cả trung Đội NDTV chỉ có một khẩu. Tôi ngập ngừng suy nghĩ vì Bình chưa đủ tuổi để được cấp phát loại vũ khí này. Với vai trò Chỉ Huy Trưởng NDTV, tôi giải thích với Bình loại vũ khí này có tầm sát hại nhanh, tôi ngại là em xử dụng không cẩn trọng có thể đưa đến cái chết cho rất nhiều dân thường.

Đêm nào có Việt cộng về ấp, nơi nào có tiếng súng nổ, là Bình có mặt, Bình vừa khóc vừa kể lể về cái chết bi thương của cha cậu là một Xã Trưởng bị Việt cộng sát hại. Tiếng khóc của Bình khiến tôi não lòng xao xuyến, bồi hồi nhớ lại một kỷ niệm đau lòng mà trong đó tôi là người có dự phần trách nhiệm.

Ông Xã Trưởng Hòa cha của Bình là một cán bộ xã ấp ưu tú, có thành tích xuất sắc ngăn chận du kích Việt đột nhập vào đốt phá sập trụ sở xã ấp. Tình hình an ninh ở xã của ông đặt trong tình trạng báo động đỏ. Trước ông, đã có hai ông xã trưởng và một ấp trưởng bị Việt cộng sát hại thế nên ngoài ông ra không có cán bộ nào dám nhận lãnh vai trò xã trưởng. Là một xã trưởng có tinh thần chống cộng cao độ, ông Hòa có sáng kiến “Dĩ độc trị độc”. Cứ đêm đến, ông cho tập trung những thân nhân của bọn Việt cộng thoát ly vào ngủ trong trụ sở xã ấp rồi rào lại bên ngoài. 

Kể từ đó, bọn du kích Việt cộng không dám mò về đặt chất nổ giựt sập trụ sở xã ấp nữa. Những lần “mũi công tác Việt cộng cơ sở” mò về xóm đều bị toán NDTV do ông chỉ huy chặn đánh phải rút lui bỏ lại vài ba xác chết. Chịu nhiều thiệt hại và không hoạt động được, Việt cộng đã rải truyền đơn lên “Án Tử Hình” ông xã trưởng Hòa.

Trước đe dọa cho an nguy bản thân, ông Xã Hòa đã lên Quận gặp tôi xin phép được cho nghĩ việc. Là một cấp chỉ huy, tôi bị đặt trong tình thế khó xử. Làm thế nào có thể lấy một quyết định đúng giữa một bên là trách nhiệm giữ gìn an ninh xã ấp một bên là sự an nguy của một cấp thừa hành mà tôi rất trân trọng kính mến? Tôi phân vân không biết lấy quyết định nào. Kiểm điểm lại những năm tháng học ở nhà trường, không có môn học nào dạy tôi phải lấy một quyết định khó khăn đến thế. 

Lúc này, nhận chức hành xử quyền chỉ huy tôi phải tự mình quyết định mà không có vị thầy bên cạnh để tham vấn khi gặp khó khăn. Lúc bấy giờ tôi mới thấy thực tế trường đời có những điều khó khăn phức tạp mà mái trường Hành Chánh không cung cấp đủ hành trang để tôi có thể ứng phó với thực tế.

Thấy tôi suy tư do dự, ông Xã Trưởng Hòa tiếp một đòn tâm lý:

- “Ông P. thương giùm hoàn cảnh của tôi với chín đứa con nhỏ. Nhỡ tôi có bề gì thì tội nghiệp cho bầy con nhỏ dại...”

Vốn là người giàu tình cảm dễ cảm xúc, tôi lại càng nao núng. Cuối cùng tôi kỳ hẹn với ông ta là trong vòng ba ngày, tôi sẽ cho ông biết quyết định sau khi tôi tham khảo với ông Trung Tá Quận Trưởng. Hiện thời tôi yêu cầu ông ráng nhận trách nhiệm thêm ba ngày nữa.

Ông Xã Hòa bắt tay tôi cám ơn và quay lưng bước ra khỏi văn phòng Quận. Nhìn từ phía sau lưng, dáng đi của Ông Xã Hòa, tôi chợt bị ám ảnh của khoa Tướng Mệnh Học mà từ nhỏ đã được đọc trong tủ sách của ông chú. Ông Xã Hòa vóc người mập mạp chắc nịch rắn rỏi nhưng nếu nhìn từ phía sau lưng ta có cảm tưởng cái đầu ông gắn lên giữa đôi vai mà không có cổ. Đây là điểm kỵ khắc tướng trong Khoa Tướng Mệnh có thể đưa đến cái chết bất đắc kỳ tử. Ý nghĩ này khiến tôi đâm ra lo ngại cho sự an nguy của ông ta.

Hai ngày sau, tin ông Xã Hòa tử nạn trong đêm Việt cộng tấn công vào xã sau khi đã dũng cảm chỉ huy anh em NDTV chống cự. Ông đã bị một quả mìn Claymore Việt cộng gài nổ ngay cổng trụ sở với cái chết không toàn thây. Tôi và ông Quận Trưởng hôm sau đến tận nhà đang khâm liệm viếng tang. Vừa bước vào với một nhà khăn tang trắng, tiếng khóc của vợ con ông Xã Hòa não nề, lòng tôi như chết lặng. Tay run run đặt lên quyển Thánh Kinh trước quan tài người quá cố, nước mắt tôi tuôn rơi không thể nói được một lời nào phân ưu với gia đình. 

Oan nghiệt thay! Quyết định của tôi đã đưa tới cái chết đau thương không những của một chiến hữu đáng kính mà còn gây đau khổ cho cả một gia đình với bầy con chín đứa nheo nhóc! Tôi tự trách mình đã làm một quyết định sai lầm đưa đến cái chết oan nghiệt của một người cộng sự mà tôi mến thương nhất. Nỗi niềm ân hận này cứ dày vò dằn vặt đeo đuổi theo tôi cho mãi cho tới tận bây giờ...

Nghĩ tới đây, tôi mới hiểu lý do mà Bình, với tuổi đời 15 đã tự nguyện xin nhận lãnh khẩu Trung Liên BAR. Tôi đồng ý sau khi cậu ta nài nỉ nhưng lại đâm lo. Cha cậu đã hy sinh vì chính nghĩa giữ gìn an nguy làng xóm. Bây giờ giao súng liên thanh nhỡ cậu ta có mệnh hệ nào thì sao?

Tôi lại phải chọn một quyết định khó khăn nữa trong vai trò chỉ huy và không biết chắc rằng quyết định lần này đúng hay sai. Với khẩu trung liên BAR trong tay, đêm nào có Việt cộng về ấp, nơi nào có tiếng súng nổ, là Bình có mặt, xông xáo bắn rát khiến bọn chúng phải rút lui để lại một hai xác chết. Với thành tích của Bình, tôi và ông Quận xuống tận nơi gắn huy chương cho cậu NDTV dũng cảm gan dạ. 

*****

Với thành tích “diệt Cộng” vang dội, cậu NDTV 15 tuổi phải gánh những năm tháng lao tù cải tạo, chịu đựng những gian khổ đời tù kéo dài nhiều năm cũng như các sĩ quan chỉ huy chúng tôi. Dù được phân phối ở khác đội trong nhà tù nhưng Bình luôn tìm dịp ghé qua chào tôi. Có lúc tôi bị cơn sốt rét hoành hành, trông tiều tụy xanh xao, Bình đã đến ôm tôi vỗ nhẹ vai, ghé tai nói nhỏ khích lệ:

- “Ông P. ráng cố gắng lên... mình không sao đâu.”

Bị giam giữ trên vùng mật khu âm u chướng khí, hằng ngày phải chứng kiến rất nhiều anh em bạn tù lần lượt ngã gục vì sốt rét cấp tính. Tôi bệnh ngất ngư chỉ nằm thoi thóp vì không thuốc men chữa trị. Lúc bấy giờ, Việt cộng đã tiến chiếm thủ đô Sài Gòn nên chúng tôi được lệnh di chuyển xuống đồng bằng. Chúng ra lệnh cho nhiều anh em bệnh nhân đang nằm la liệt là tất cả mọi người phải tự đứng lên dời trại, không đi nổi cũng phải ráng đi. Ai không đi được sẽ bị bỏ lại nơi rừng thẳm làm mồi cho thú dữ.

Trong lúc mọi người sửa soạn hành trang khăn gói lên đường, cậu NDTV Bình lại đến ghé tai tôi nói nhỏ:

- Ông P. ráng đứng lên cố gắng đi, em sẽ dìu ông xuống núi.

Tôi thều thào nói với Bình:

- Anh chắc không đi nổi đâu em. Thôi, em cứ đi theo mọi người đi, đừng bận tâm đến anh.

- “Không không”, Bình nói: 

“Dù thế nào em cũng phải dìu ông đi.”

Thế là Bình xốc tôi đứng dậy, một vai mang ba lô một tay choàng qua vai dìu tôi từng bước. Đường núi đá gập ghềnh gai nhọn, hai chúng tôi không theo kịp đoàn người phía trước, có lúc tưởng như lạc giữa rừng già. Trời nắng chát, áo Bình ướt đẫm mồ hôi nhưng tội nghiệp Bình mệt thở dốc mà vẫn cố dìu tôi khập khễnh nặng nhọc xuống núi, miệng khuyến khích:

- “Ông P. ráng lên!”

Cuối cùng hai chúng tôi ra khỏi đường núi xuống đồng bằng mới biết là đoàn người đã đến hạ trại từ lâu. Lần này, nhờ có Bình mà tôi thoát chết không bị bỏ lại giữa rừng già... 

*******

Cú điện thoại đột ngột của Bình đưa tôi về quá khứ cách đây gần bốn mươi năm. Tôi nhớ lại như in khuôn mặt của cha con ông Xã Trưởng Hòa đã để lại trong tôi dấu ấn không quên. Tôi đã mang món nợ xương máu với gia đình, vợ con ông Xã Trưởng vì quyết định của mình. Đúng hay sai tôi chưa biết nhưng dù sao tôi đã có can dự vào cái chết thê thảm của “một cán bộ dũng cảm trung kiên hào hùng với chính nghĩa Quốc Gia”. Nỗi ám ảnh về cái chết của ông luôn trở về dằn vặt đeo đuổi theo tôi bao năm tháng khó quên!

Riêng với Bình, người em NDTV, Tôi đã nợ em nhiều lắm. Lực lượng NDTV không được hưởng bỗng lộc gì của chính thể Cộng Hòa, không số quân, không cấp số. Chỉ với tấm lòng “BẢO QUỐC AN DÂN”, em và lực lượng NDTV đã chiến đấu đơn độc để bảo vệ sự bình yên cho thôn xóm. Phải gọi lực lượng NDTV như em là “người chiến sĩ không có số quân.”

Một cán bộ dũng cảm trung kiên hào hùng với chính nghĩa Quốc Gia.

Để rửa mối thù Việt cộng giết cha mà em đã dũng cảm chiến đấu, nơi nào có tiếng súng nổ là em ôm súng Trung Liên BAR lao vào trận chiến. Em đã lập được chiến công. Em không được sự tưởng thưởng nào của chính phủ Cộng Hòa ngoài tấm huy chương và 5,000 đồng bạc mà tôi và ông Quận Trưởng đã móc tiền túi tưởng thưởng cho em.

Lúc tàn cuộc chiến, em lại gánh món “NỢ TÙ” thời hạn ngang với hàng sĩ quan cấp Đại Úy. Lúc vinh thì em không được hưởng cấp bực bổng lộc gì của chính quyền nhưng khi hoạn nạn sa cơ thì em lại trải qua những đày đọa trả thù đắng cay của kiếp tù như bao chiến sĩ khác. Em đã tận lòng trung dũng với nước non và là thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất.

Cuối cùng rồi trời không phụ người. Theo lời em kể lại, em được ra khỏi tù sau sáu năm bị trù dập trong trại cải tạo. Thời hạn sáu năm tù của em là cấp bậc để em được đi theo diện H.O. và đã định cư ở một tiểu bang miền Nam. Em đã có vợ và hai con đều đang học trung học. Bình và vợ đều có công ăn việc làm ổn định.

Tôi rất mừng khi được biết em đã thoát khỏi sự trả thù và tìm được cuộc sống bình yên ở xứ người.

Bình em, người chiến sĩ Nhân Dân Tự Vệ!

Anh không thể nào trả được “món nợ ân tình” của em và “món nợ xương máu” đối với gia đình em. Nhưng anh luôn ghi khắc tấm lòng thủy chung với đất nước mà ba em và em đã đóng góp và đã chịu hy sinh. Anh cầu chúc cho Bình- người chiến sĩ NDTV không số quân- và gia đình em luôn được cuộc sống an lành./.

 

Ngư Sĩ
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 29/Jul/2022 lúc 12:03pm

Yêu Lính 


4501%20Yeu%20LinhNTTD

         Lớn lên trong thời buổi chiến tranh, 16 tuổi mộng mơ, tôi và Bích Hợp là hai đứa bạn thân cùng xóm, cùng say mê nghe nhạc lính đến nỗi yêu lính và ao ước được là người yêu của lính. Nhưng biết tìm đâu ra chàng lính chiến để mà yêu? Trong xóm có vài anh đi lính mà tôi không quen, chỉ quen anh Phượng gần nhà, anh cũng vừa đi lính, anh ấy có bao giờ để ý đến tôi đâu và mẹ anh thì khó tính quá nên tôi chỉ dám mơ thầm.

        Bích Hợp hát hay, nó thường hát cho tôi nghe bài “Hành trang tạ từ” và “Một người đi”.  Hai đứa cùng bồi hồi thổn thức, chỉ mong có người yêu là lính để được… chia tay tiễn anh như lời trong bài hát “Đây gói hành trang xếp lại cho tròn để anh đi nhé…” Hay là “Tôi tiễn anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều lắm…”

        Có những buổi chiều buồn (chẳng biết lý do buồn cái gì nữa?) tôi và Bích Hợp rủ nhau đạp xe đi hái trộm xoài tại vườn nhà ông Trịnh Đình Thảo. Khu vườn xoài rộng lớn có ngôi biệt thự luôn kín cổng cao tường, chúng tôi biết thế mà vẫn cứ mơ có ngày vào được bên trong để hái trộm xoài. Không hái được xoài thì chúng tôi đứng ngoài cổng song sắt phóng tầm mắt vào ngắm những quả xoài xanh non treo lủng lẳng trên cành cũng thích lắm và tưởng tượng món xoài xanh chấm muối ớt.

        Chiều nay cũng thế, ngắm vườn xoài xong tôi rủ Bích Hợp vào… nghĩa trang chơi. Nghĩa trang quân đội Gò Vấp nằm đối diện gần vườn xoài của ông luật sư Trịnh Đình Thảo. Lần đầu tiên vào nghĩa trang cả hai đứa chúng tôi đều thích vì cảnh đẹp vắng lặng êm đềm với những con đường trải sỏi giữa những dãy mộ thẳng hàng. Tôi và Bích Hợp đã đi qua từng dãy mộ, tò mò đọc tên, đọc nguyên quán, đọc ngày sinh ngày tử và nhìn hình ảnh từng tử sĩ. Hai trái tim khờ của chúng tôi đều chạnh lòng thương cảm.

 Bỗng Bích Hợp sáng kiến:

– Chúng mình có người yêu là lính đây rồi, những anh hùng đã hi sinh vì tổ quốc, mỗi đứa chọn một anh đi, có hình ảnh, có tên tuổi để mà… thương. Thỉnh thoảng chúng mình sẽ đến đây thăm các anh.

        Tôi thấy cuộc chơi này cũng thú vị nên hí hửng nghe theo Bích Hợp. Hai đứa vừa mới chạnh buồn lại vui vẻ ngay, ríu rít đi tìm “người yêu” cho mình. Tôi chọn anh Nghiêm văn Hải 21 tuổi, bằng tuổi anh Phượng và có nét mặt hiền hiền giống anh Phượng. Hình ảnh bán thân của anh Hải trong quân phục trên bia mộ thật hiên ngang và đẹp trai. Bích Hợp chọn anh Nguyễn văn Tùng vì thích mái tóc bồng bềnh của anh ấy. Cả hai anh đều độc thân chưa vợ con, do cha mẹ lập mộ.

       Thế là nỗi buồn không tên của buổi chiều nay đã trở thành ý nghĩa, cả hai đứa đều vui và hãnh diện vì đã có người yêu là lính. Hai đứa bàn bạc từ nay nếu có dịp thì cứ khoe ra cho oai và dĩ nhiên phải nói là người yêu đang bận chiến chinh đâu đó, xa lắm, mai mốt anh mới về thăm.

       16 tuổi nhưng tôi vẫn còn nhiệm vụ trông em, trông đứa em 3 tuổi cho mẹ tôi bán hàng. Tôi thương em lắm, em cũng bám theo tôi không rời nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn lừa nó ở nhà để đi chơi riêng với Bích Hợp. Chủ nhật tuần sau tôi và Bích Hợp sẽ đi thăm “người yêu”. Tôi dọa em tôi:

– Chị đến chỗ này có nhiều ma lắm, em đừng đi theo chị. 

       Lần này đến nghĩa trang có chủ đích, có hương hoa đàng hoàng. Đi ngang qua chợ Hạnh Thông Tây chúng tôi ghé vào mua bó hoa Vạn Thọ (cho rẻ tiền) và một bó nhang. Đạp xe qua khỏi chợ một hồi, chúng tôi chẳng màng tới vườn xoài bên kia nữa mà quẹo thẳng vào nghĩa trang quân đội, chia hoa và thắp nhang cho hai mộ anh Nghiêm Văn Hải và anh Nguyễn văn Tùng như đã thân thiết với các anh từ lâu lắm rồi.

        Một hôm anh Phượng về phép thăm nhà, anh đi ngang qua nhà tôi thấy tôi đứng ngoài sân liền dừng chân hỏi thăm:

–  Em Bông khỏe không? 

        Thấy “thần tượng” người lính bằng xương bằng thịt mà mình thầm mơ tôi bối rối vụng về không biết nói năng chi, liền vay mượn những câu trong bài hát “Trên bốn vùng chiến thuật” của Trúc Phương để hỏi anh:

–  Chào anh Phượng. Anh thường đi đó đây trên bốn vùng chiến thuật, chắc anh đang đóng quân ở Pleime gió mưa mù hay Tây Ninh nắng nung người hay Đồng Tháp vắng bóng hồng phải không?

Chẳng biết anh khen hay anh mỉa mai:

–  Coi bộ em thuộc nhạc lính ghê nhỉ. Trật lất, đơn vị anh ở Phú Giáo Bình Dương.

        Anh bây giờ là người lính, tác phong người lính rắn rỏi phong sương, không là anh Phượng thư sinh nữa càng làm tôi mến mộ. Tôi vừa muốn khoe vừa muốn thử lòng anh Phượng xem anh có “đau khổ” tí nào không:

– Em có người yêu là lính rồi.

Anh không lộ vẻ gì buồn cả mà ngạc nhiên:

– Ủa, lạ quá ta. Nãy anh gặp Bích Hợp và hỏi thăm, cô nàng cũng tự động khoe có người yêu là lính rồi. Không lẽ con gái xóm mình yêu lính dữ vậy?

Rồi anh bỏ đi không ý kiến gì thêm làm tôi tức cành hông. 

       Anh Phượng trở về đơn vị để lại lòng tôi bâng khuâng nhung nhớ. Tôi và Bích Hợp vẫn cùng nhau nghe những bài nhạc lính và vẫn thỉnh thoảng buổi chiều đến nghĩa trang quân đội Gò Vấp thăm “người yêu” trong những buổi chiều buồn vu vơ. Không biết gia đình anh Nghiêm Văn Hải ở đâu? có khi nào ghé thăm mộ anh không? Hay chỉ có tôi với những bông hoa vạn thọ và vài nén nhang đến thăm anh, một “người yêu” mà anh không biết mặt, chẳng biết tên. Anh Hải ơi, vì quê hương chinh chiến anh đã hi sinh và yên nghỉ nơi nghĩa trang xóm em nên em mới “có duyên” gặp gỡ anh trong cảnh ngộ này.

        Chiến sự càng ngày càng khốc liệt, những chuyến xe tang mang xác tử sĩ từ chiến trường về nghĩa trang quân đội Gò Vấp càng nhiều. Tôi và Bích Hợp đã một lần chứng kiến cảnh thê lương cùng với gia đình một người lính chết trận tại nhà quàn trong nghĩa trang. Hình ảnh thi thể bó gọn trong tấm poncho bốc mùi tử khí, mẹ anh và vợ anh ngất xỉu, hai đứa trẻ thơ ngơ ngác, tiếng khóc của thân nhân thảm thiết. Hai đứa tôi sợ lắm đứng co rúm vào nhau nhưng vẫn tò mò muốn xem, Chưa có buổi chiều nào u ám đến thế. Tôi và Bích Hợp ở lại nghĩa trang đến chiều dần tàn mới vội vàng đạp xe về nhà mà tưởng như những tiếng khóc từ nghĩa trang vẫn còn đuổi theo.

       Hôm sau tôi bị cảm sốt nặng, nằm thiêm thiếp. Chắc vì chiều qua nghĩa trang nhiều gió và vì hơi lạnh tử khí ám vào người tôi. Mẹ tôi tra hỏi Bích Hợp chiều qua hai đứa đi đâu mà về muộn, Bích Hợp khai ra hết, mẹ la mắng cả hai đứa và cấm chỉ từ giờ không được đến nghĩa trang nữa kẻo ma bắt hồn chúng tôi. Không được “đùa cợt” với người đã khuất, hãy để linh hồn họ yên nghỉ.

        Sau vụ chứng kiến đám tang ấy chúng tôi đã bị ám ảnh trong nỗi sợ và nỗi buồn, khỏi cần mẹ cấm hai đứa cũng từ bỏ luôn.

Cuối năm anh Phượng về thăm nhà, gặp tôi đầu ngõ anh cười cười hỏi thăm: 

–  Sao, “người yêu của lính” khỏe không? 

Tôi ỉu xìu: 

– Em không còn là người yêu của lính nữa.

– Biết rồi, mẹ em kể cho mẹ anh nghe hết rồi, chuyện em và Bích Hợp “yêu lính”, yêu người tình thiên thu tại nghĩa trang quân đội Gò Vấp đã hạ màn sau một trận ốm kịch liệt. 

Tôi quê quá vội bước đi, anh Phượng nói với theo:

– Cô bé 17 tuổi kia ơi, có bằng lòng làm người yêu của lính với… anh không?

       Cho dù anh có nói đùa, cho dù anh “ trêu chọc” tôi, thì tim tôi vẫn đập loạn xạ, rộn ràng sung sướng. Nhưng tôi chợt khựng lại không dám mừng vui nữa và tự hỏi anh Phượng có nói câu này với Bích Hợp không và giữa hai đứa chúng tôi, anh… yêu ai? 

 Nguyễn Thị Thanh Dương

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19160
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 01/Aug/2022 lúc 1:09am

Chuyện Như Đùa

                      Phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất. (minh họa: WiNG/Wikipedia)

Bà Nguyệt chất hành lý lên chiếc xe đẩy đến băng ghế trong sảnh ngồi chờ thằng cháu đến đón. Bà từ Mỹ mới về đến Sài Gòn trưa nay, nhà cha mẹ bà ở Sa Đéc, thằng cháu mướn xe từ dưới quê miền Tây lên đón.

Trưa mùa hè trời Sài Gòn nóng hừng hực, bà Nguyệt bước đến cửa hàng định mua một chai nước lọc, bất chợt bà nghe một giọng nói quen thuộc từ đoàn người mới đến từ trong bước ra, bà ngoái cổ lại nhìn, người đàn ông có giọng nói thân quen ấy cũng vô tình bất chợt nhìn thấy bà, ông ta có vẻ hơi ngỡ ngàng đôi chút, rồi cùng con cháu bước ra ngoài gặp người thân đang chờ.

Bà Nguyệt nhìn dõi theo, người đàn ông này chính là người chồng cũ của bà, người chồng mà bà đã bỏ rơi khi ông đang trong tù “cải tạo”, bà theo nhân tình trẻ đi vượt biên. Bà cũng đã nhẫn tâm bỏ lại thằng con trai cho bên nội nó nuôi lúc nó mới vừa năm tuổi. Bữa nay nó cao lớn có vợ con cùng đi về. Nó lăng xăng cùng mấy đứa con nhỏ, chắc không nhìn thấy bà, mà có thấy chưa chắc nó nhận ra người mẹ đã bỏ cha con nó đi theo nhân tình, mấy mươi năm không một lời thăm hỏi.

Bà Nguyệt ngồi thẫn thờ như người mất hồn, thằng cháu đến đón tưởng bà đi đường xa mệt lại thêm phần trời nóng. Suốt chặng đường về, bà ngồi làm thinh không nói một lời nào. Về đến nhà bà nằm rã rượi mấy hôm liền, lòng buồn buồn không muốn ăn, không muốn uống, không muốn gặp ai, bao nhiêu chuyện xưa giờ trở lại bà nhớ từng chi tiết, một nỗi buồn tha thiết dâng lên trong lòng.

***

Ngày đó, cô Nguyệt là nữ sinh lớp Đệ nhất trường “Trung học công lập Sa Đéc”. Cô nổi tiếng xinh đẹp, là một trong những hoa khôi ở cái thành phố nhỏ bé này. Cô lại có khiếu văn nghệ, hát hay cả tân nhạc lẫn cổ nhạc, các chương trình văn nghệ lớn nhỏ gì cũng có cô tham gia, nếu không hát thì cũng múa phụ diễn, hoặc đóng vai phụ trên mấy vở kịch vui.

Cô Nguyệt quen biết Trung úy Thiện hôm đi dự lễ Quốc Khánh. Cô là một trong các nữ sinh được chọn để choàng vòng hoa cho chiến sĩ. Trung uý Thiện được người đẹp choàng vòng hoa thì hồn xiêu phách lạc ngày nhớ đêm mơ. Chàng tìm cách làm quen và từ đó ngày đêm săn đón. Chàng là sĩ quan trong tiểu khu, nhà cha mẹ chàng cũng ở tại thành phố Sa Đéc này.

Cô nữ sinh hoa khôi nổi tiếng hát hay múa giỏi nhưng cô học không giỏi, cuối năm đó cô thi rớt tú tài, cô học lại thêm một năm nhưng rồi cũng thi rớt, buồn tình cô lấy chồng, năm đó cô vừa 21 tuổi.

Khi cô sinh con đầu lòng thì Trung uý Thiện được thăng đại uý và được đổi về làm chi khu phó Chi khu quận Châu Thành. Và rồi một biến cố xảy đến không ai ngờ, miền Nam mất vào tay Cộng sản, Đại uý Thiện cũng như bao người khác vô tù “cải tạo”, cô ôm con mọn về nhà cha mẹ, thằng con vừa hơn một tuổi.

Sông Sa Đéc. (minh họa: Wikipedia.org)

Bà Nguyệt đi ngang nhà cha mẹ chồng cũ, len lén nhìn vào trong mong thấy thằng con trai. Từ lúc nhìn thấy nó ở phi trường, mấy ngày nay lúc nào bà cũng nhớ đến nó. Bà thấy thật là có lỗi. Bà muốn nói với nó đôi điều cho nhẹ tấm lòng. Bà đi qua lại mấy lần, nhưng ngại không dám vào. Ông bà cha mẹ chồng cũ đã qua đời, nhưng bà sợ bà chị và cô em chồng hơn ai hết. Bà cũng biết cả bên gia đình người chồng cũ không ai ưa gì bà, từ lâu mọi người đều nói bà đã bỏ chồng bỏ con theo trai.

Bà Nguyệt nhờ người nhắn với ông Thiện là bà muốn gặp ông, bà có nhiều điều muốn nói với ông.

Ông Thiện đúng hẹn đến gặp bà Nguyệt. Cả hai gặp nhau ngỡ ngàng, ngượng ngùng không biết mở lời như thế nào. Bà Nguyệt lấy nước trà mời ông, ông cũng làm thinh không nói gì.

– Ông về đây với con cháu đông vui quá há.

– Còn bà, bà về đây có một mình, chồng bà đâu? Nghe nói bà có nhiều chồng lắm mà, hết người này tới người khác.

Bà Nguyệt nhìn ông chồng cũ.

– Ông còn lời nào độc địa hơn cứ nói hết ra đi, nói cho nhẹ lòng ấm ức bấy lâu nay, tôi đã chờ đợi cái ngày này mấy mươi năm rồi.

– Nếu tôi muốn chửi rủa hay trách móc bà, tôi đâu chờ đến ngày hôm nay, nhưng tôi không làm vậy, tôi để cho cái lương tâm của bà nó nguyền rủa bà.

Bà Nguyệt cúi gầm mặt xuống đất không nói gì.

– Hôm tôi gặp ông và thằng Hiếu ở phi trường tôi thật bất ngờ tim đập thình thịch tay chân run rẩy. Hôm tôi ra đi nó mới năm tuổi, mấy chục năm không liên lạc, không thấy nhau, vậy mà vừa gặp mặt, tôi nhận ra nó liền, nó giống tôi như đúc.

– Bà thương nó sao bà bỏ nó lại không dẫn nó đi theo, bà cũng biết lúc đó cha nó đang ở tù kia mà! Rồi bà đến Mỹ chạy theo vật chất, chỉ biết ăn chơi, đâu có nghĩ gì đến nó, mấy chục năm nay sao bà không đi tìm nó, đứa con trai của bà.

Bà Nguyệt nhìn ông Thiện nói như phân trần.

– Mọi người đều chửi rủa là tôi bỏ chồng bỏ con theo trai, thật ra tôi ra đi chỉ là một sự tình cờ không tính trước. Qua Mỹ được vài năm thì tôi nghe tin ông được ra tù và lấy vợ khác. Có nhiều lúc tôi muốn hỏi thăm thằng Hiếu nhưng còn hơi ngại gia đình ông, phải nói là sợ mới đúng, tôi sợ má ông và bà chị ông dữ lắm, bởi vì lúc nào tôi cũng mang mặc cảm là đã bỏ chồng. Thằng Hiếu từ lâu sống bên nội, nay có cha về lo chăm sóc vậy cũng tốt. Phần tôi thì lông bông rồi vướng vào đam mê này tới đam mê khác, ngày tháng trôi qua tôi đã phung phí cả một quãng đời thanh xuân. Tuổi già ập đến thì tôi cũng te tua tiền bạc nướng sạch vào sòng bài.

– Hôm mà lần đầu trại tù cho thân nhân thăm nuôi, tôi có hơi ngỡ ngàng một chút khi người đi thăm tôi là bà chị, tôi hỏi chị tôi, bà và con sao rồi, chị tôi nói không biết bà buôn bán cái gì, ngày nào cũng đi sớm về trễ, giao thằng Hiếu cho má tôi nuôi. Lần thăm nuôi sau, má tôi nói bà theo nhân tình đi vượt biên rồi. Trại tù nằm giữa Đồng Tháp Mười, mùa nước nổi nhìn xung quanh thấy đâu cũng nước mênh mông, lòng tôi buồn vô hạn nghĩ cuộc đời mình giờ đây lênh đênh chẳng thấy đâu là bờ.

– Để tôi kể hết cho ổng nghe đầu đuôi câu chuyện như thế này.

Lúc ông đi tù “cải tạo” tôi ôm con về nhà ba má tôi sống, hoàn cảnh nhà tôi lúc đó cũng khổ, hồi nào tới giờ sống nhờ đồng lương hàng tháng, giờ mọi người mất việc rơi vào một cơn khủng hoảng kinh hoàng. Tiền bạc dành dụm bấy lâu đem ra xài, hết tiền bán tới vòng vàng nữ trang, hết vòng vàng bán tới đồ đạc trong nhà, cái gì có người mua thì đem ra bán lấy tiền ăn sống đấp đổi cho qua ngày đoạn tháng.

Khoảng năm 78 có mấy người bạn rủ tôi đi buôn chuyến, sáng sớm ra chợ mua gạo, thịt heo dấu đem lên Sài Gòn bán kiếm lời. Tôi không biết làm gì ăn nên tập tành theo mấy nhỏ bạn đi “buôn lậu”. Đi buôn lâu ngày tôi quen thằng Hiền lơ xe đò cũng là con ông chủ xe. Nó thấy tôi tội nghiệp nên giúp đỡ tôi mọi điều. Sáng sớm hôm đó như thường lệ, tôi thức sớm ra chợ mua thịt heo để đi bán, thằng Hiền đi tìm tôi ngoài chợ, nó kề tai nói nhỏ: “Bữa nay không có đi thành phố, đi xa”. Ba nó hùn hạp với người ta mua ghe tổ chức đi vượt biên, nó thương tình dẫn tôi đi theo, tôi nghĩ người ta đóng vàng để được đi, nay có người cho mình đi không, còn chần chờ gì nữa.

Tôi theo nó đón xe lam qua Vĩnh Long rồi xuống Vũng Liêm ở đó chờ, tối hôm sau thì xuống ghe tới chỗ hẹn lên ghe lớn theo dòng sông Cửu Long ra cửa biển đi vượt biên.

Tôi đã ra đi một cách tình cờ như vậy đó, ra đi âm thầm không một lời từ giã. Mấy ngày đầu ở trại tỵ nạn tôi như người mất hồn, như người chết chưa chôn. Phần lo gia đình ở Việt Nam, phần lo tương lai vô định bấp bênh biết trôi nổi về đâu, phần vừa trải qua một chuyến vượt biên kinh hoàng thừa chết thiếu sống, (ai đã đi vượt biên qua một lần rồi không bao giờ đám đi lần thứ hai). Thằng Hiền có anh nó ở Mỹ bảo lãnh, chắc sẽ được đi Mỹ, tôi đánh liều ghép hộ với nó để được đi định cư. Kể từ đó, tôi mới bắt đầu dính líu với nó. Kể từ đó, cuộc đời tôi bước sang một lối rẽ khác, đưa tôi tới con đường mãi mãi lìa xa quê hương xứ sở, mãi mãi lìa xa người chồng tù tội và đứa con còn nhỏ dại chưa biết gì.

Tôi theo thằng Hiền đến Mỹ về tiểu bang Pennsylvania. Chỗ đó thành phố nhỏ buồn lắm. Ngày đó rất ít người Việt. Tôi vô làm nhân công hãng thịt gà, thức khuya dậy sớm mà đồng lương chẳng bao nhiêu. Ở đó được hai năm, một hôm ngày mùa Đông giá rét, đường mưa tuyết trơn trợt tôi lủi xe đâm gốc cây, chỉ bị thương nhẹ nhưng tôi bị sảy thai. Những ngày sau đó tôi luôn hoang mang buồn khổ, cảm thấy cuộc đời ngày càng bế tắc, dính líu với nó chỉ là một sự chẳng đặng đừng. Sau cùng tôi nói với nó, tôi muốn chia tay.

Thằng Hiền rất thương tôi nhưng biết tôi đã muốn vậy nên để tôi ra đi không ngăn cản.

Tôi có người bạn sống ở San Jose, tiểu bang California, tôi liên lạc và dọn về đó. Tôi xin vô làm nhân công trong hãng điện tử, mặc dầu chỉ là một nhân công hạng bét trong hãng, tôi lại lọt vào cặp mắt xanh của ông manager building. Ông này là người Mỹ gốc Nhật. Cha mẹ ổng là người Nhật sống lâu đời ở Hawaii. Không biết tôi có điều gì hấp dẫn mà ổng đi hỏi cưới tôi. Ổng lớn hơn tôi mười tuổi, ly dị vợ, có hai thằng con trai chừng mười tuổi sống với ổng. Lúc đó tôi cô đơn buồn bã, vừa trải qua một đoạn đời đầy sóng gió, tôi ưng đại, mong là lấy ổng cho yên một đời lênh đênh như con thuyền không bến.

Về ở với ổng tôi nghỉ làm, nhưng ở nhà một mình buồn lắm, ổng đi làm từ sáng tới tối, có khi tới khuya mới về đến nhà. Hai thằng con ổng đi học về là rút vô phòng, tụi nó chỉ ăn đồ Mỹ, ba cha con ăn riêng, tôi nấu đồ ăn Việt Nam ăn một mình. Tôi ghi tên vô trường community college học tiếng Anh. Đi học để khuây khỏa nỗi buồn. Đi học, tôi quen một số bạn người Việt, rồi tụ họp thành nhóm, khi thì đi chơi chỗ này chỗ kia, khi thì đi ăn uống, có khi về nhà xúm nhau nhậu nhẹt đàn đúm. Rồi cuối tuần rủ nhau đi nhảy đầm, tôi biết hát lại ham vui, tôi mê cái không khí của vũ trường, weekend nào cũng đi nhảy đầm.

Ông chồng Nhật này cũng dễ tánh không nói gì, ổng lại bận bịu công việc cả ngày, mạnh tôi tôi đi, mạnh ổng ổng đi, mạnh ai nấy đi, cuộc sống vợ chồng thật là tẻ nhạt, vợ chồng ngày mỗi cách xa, đến một lúc thì chia tay.

– Cái kiểu bà sống như vậy, trước sau gì cũng bị chồng bỏ.

Bà Nguyệt cười khúc khích.

– Thật ra tôi bỏ ổng, chớ không phải ổng bỏ tôi.

– Cái ông này thiệt là xui gặp bà.

– Ly dị ổng tôi chia của được mấy trăm ngàn và một căn nhà để ở. Lúc đó tiền cũng còn có giá, nhiêu đó cũng nhiều lắm. Tôi đi làm bậy bạ cho có chớ không cần tiền, muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ. Tuần nào cũng đi nhảy đầm. Ngày đó tôi mê cái không khí vũ trường ghê lắm, hễ đến cuối tuần là rủ bạn bè đi nhảy đầm, vừa đến cửa nghe tiếng nhạc xập xình là lòng tôi chộn rộn như con thiêu thân chỉ muốn lao vào ánh đèn màu vui đùa thâu đêm suốt sáng.

Ở chốn vui chơi ấy tôi quen một người đàn ông Việt Nam. Ông này vốn là sĩ quan không quân qua đây từ năm 75, ổng cũng khoảng tuổi của ông. Ổng cao ráo bảnh trai lịch lãm và có nhiều tiền. Có nhiều bà thích ổng lắm nhưng không hiểu sao ổng lại thích tôi. Tôi cặp với ổng một thời gian thì dọn về nhà ổng ở, sống chung nhưng không làm hôn thú.

Ông này giỏi lắm, làm về tài chánh ngân hàng, chuyên chơi stock và đầu tư địa ốc. Ở với ổng mấy năm mà ổng cứ tránh không muốn có con. Lúc đầu tôi không hiểu, sau mới biết là ổng có vợ con còn kẹt ở Việt Nam. Lúc vợ con ổng sắp qua thì tôi với ổng chia tay. Tiền của tôi ổng đầu tư địa ốc và chơi chứng khoán dùm, lấy ra đâu cũng được gần một triệu. Cũng đỡ khổ, hết tình, nhưng còn tiền.

– Bà giỏi quá! Kế tiếp ông này rồi còn ông nào nữa kể hết ra đi.

– Thôi! Nhiêu đó đủ rồi, hồi nào tới giờ đàn ông mê tôi chớ tôi đâu có mê đàn ông. Vừa lúc đó ở San Jose mở sòng bài, tôi theo bạn bè lên đó chơi, lúc đầu thỉnh thoảng sau đi riết mê cờ bạc lúc nào không hay. Ai mà vướng vào cờ bạc thì biết, mê “Tây Đầm” còn hơn mê đàn ông gấp trăm ngàn lần. Từ đó tôi như con nghiện chỉ biết casino chớ chẳng biết gì, tôi đã mang tiếng bỏ chồng nay mang tiếng cờ bạc nên chẳng muốn gặp người quen, chẳng muốn tiếp xúc ai.

– Thằng con bà còn không nhớ, bà nhớ tới ai. Cả triệu đồng bà thua sạch hết?

– Người ta nói ngồi không ăn núi cũng lở huống hồ gì cờ bạc.

– Mấy căn nhà bà cũng làm tiêu luôn?

– Bán sạch sẽ, giờ tôi chẳng còn gì, không có cả chiếc xe đi coi cho được.

– Hết ý kiến! Tôi nghe người ta nói qua tới Mỹ bà đá đít thằng lơ xe đò về Cali cặp đại gia giàu có, ăn chơi nhảy đầm cờ bạc, đâu có ngờ bà quá tệ như thế này. Hôm tôi gặp bà ở phi trường, thấy bà xơ xác thân tàn ma dại đến không ngờ.

Bà Nguyệt cúi gầm mặt xuống không nói gì.

– Rồi bây giờ bà sống ra sao?

– Tôi ở với gia đình nhỏ em, con Thuý ông biết đó. Anh Lân thì ở Florida, thằng Thọ em tôi ở San Diego, chị Trang ở cách chỗ tôi ba mươi phút đi xe.

– Bà lãnh tiền hưu đủ sống?

– Thời gian tôi đi làm thì ít mà lương lại thấp, tiền hưu đâu có bao nhiêu, cỡ như người ta lãnh tiền già. Lãnh ra trả nợ mấy cái thẻ tín dụng đủ hết. May mà dì Thuý nó cho tôi ăn ở free, chớ nếu không chắc tôi xuống ở gầm cầu.

– Tôi cũng có nghe nói sau này bà sanh tật ăn chơi cờ bạc, đâu có ngờ bà tệ dữ vậy.

– Lúc về già hết tiền hết bạc, đôi lúc cô đơn tôi nhớ lại thời đã qua tôi thấy mình thật là có lỗi, nay tôi cũng đã bảy mươi tuổi rồi, biết còn sống bao lâu, nhiều lần tôi muốn gọi phone cho ông, nói cho ông hiểu rõ hoàn cảnh nó đưa đẩy như vậy, tôi xin ông tha thứ cho tôi để tôi an lòng mà sống cho tốt những ngày còn lại trên cõi đời này.

– Lúc tôi nghe tin bà bỏ tôi theo người ta đi vượt biên, tôi buồn lắm, nhưng rồi ở tù ngày này qua ngày khác, biết thân phận sống chết ra sao. Thằng con, ông bà nội nó nuôi, tôi cũng an tâm phần nào. Tôi nghĩ giờ gia đình tan nát, người nào đi thoát được đỡ người đó, còn hơn cả gia đình phải khổ. Lúc tôi ở tù về rồi đi cưới vợ khác, cuộc sống từ từ trở lại bình thường, tôi dần quên chuyện cũ, không còn oán hận hay trách móc gì bà.

– Thằng Hiếu có khi nào nó nhắc tới tôi không?

– Lúc tôi đi tù nó mới có một tuổi, vậy mà lúc tôi ở tù về nó mừng rỡ theo tôi suốt ngày thấy tội nghiệp lắm. Lúc tôi quen Trâm là vợ của tôi bây giờ, một hôm nó hỏi tôi có phải má bỏ ba theo người ta đi Mỹ rồi phải không, tôi không bao giờ quên được vẻ mặt buồn bả của nó lúc đó.

Bà Nguyệt ôm mặt khóc nói kể trong nghẹn ngào.

– Hồi nhỏ nó thương tôi lắm, theo tôi nói chuyện đỏ đẻ suốt ngày, tôi đi buôn hàng chuyến sáng hừng đông đã ra khỏi nhà, chiều tối mịt mới về, vậy mà hôm nào nó cũng ngồi ở cửa chờ tôi về, bữa nào có quà cho nó, nó mừng lắm, ôm tôi hôn nói con thương má, lớn con đi làm nuôi má. Nhiều lúc tôi muốn liên lạc hỏi thăm nó, nhưng nghĩ phận mình giờ chẳng ra gì, nó đã khôn lớn nên người, tôi sợ nhắc đến chuyện dĩ vãng rồi làm xáo trộn cuộc sống an vui của nó mấy chục năm nay. Hôm tôi gặp nó ở phi trường, tôi hối hận lắm. Tôi muốn gặp nó, nói lời xin lỗi, là má đã bỏ con, thật lòng lúc nào má cũng thương con.

– Nó ngoan hiền dễ bảo dễ dạy, trong nhà mấy anh em nó học giỏi nhất. Nó làm trong ngành tài chánh ngân hàng, nó giỏi đầu tư địa ốc chứng khoán nên giờ cũng khá giả, có của ăn của để. Nó có hiếu lắm, năm nào Tết cũng có phong bao lì xì cho ba cho má, không bao giờ quên ngày Father’s Day, nhưng có một lần trong ngày Mother’s Day tôi thấy nó có vẻ buồn buồn, hình như nó vẫn chưa quên, nó có một bà mẹ khác đang ở đâu đó.

Nghe tới đó, bà Nguyệt ôm mặt khóc như mưa.

***

Bà Trâm đứng dựa hàng rào nhón chân ngó vào trong, định bấm chuông thì bà Huệ từ trong nhà chạy ra mừng rỡ:

– Dữ hôn! Nghe tin bồ về cả tuần bữa nay mới thấy mặt.

Bà Trâm bước vào trong ngó dáo dác:

– Anh Hiệp có nhà không, mấy đứa nhỏ đi đâu hết sao nhà vắng hoe vậy.

– Ảnh ở ngoài sau vườn, tối ngày chăm lo ba cái cây kiểng làm niềm vui tuổi già, mấy đứa cháu nội đi học chưa về, vô nhà uống nước, nghe nói bồ về kỳ này có con cháu đông lắm phải không.

– Có vợ chồng thằng Hiếu với hai đứa con của nó, cùng với vợ chồng thằng Tâm, con Thu thì dẫn hai đứa con nó về cho biết Việt Nam, mấy bữa nay tụi nó đi chơi ngoài Nha Trang chưa về, chỉ có mình với anh Thiện ở nhà.

– Sao bồ với ảnh không đi chơi với tụi nó cho vui, Nha Trang giờ đẹp lắm.

– Thì cũng tính trước là lần này về đi du lịch đủ chỗ Nha Trang, Phú Quốc rồi đi chơi ở Campuchia nữa kìa, nhưng có một việc bất ngờ xảy ra…

Bà Trâm nói nhỏ: “Mình ra ngoài sân nói chuyện.” Hai bà dẫn nhau ra sân vườn phía trước nhà.

– Mình nói cho bồ nghe chuyện này mà bồ phải giữ kín không nói cho ai nghe, kể cả anh Hiệp cũng đừng nói cho ảnh nghe.

– Chuyện gì mà ghê gớm vậy?

– Bồ còn nhớ bà Nguyệt là vợ cũ của anh Thiện không?

– Sao không nhớ, Nguyệt hoa khôi ai mà không biết, bả cũng có về phải không, hôm trước đi chợ gặp mình ngó lơ, bửa nay thấy già lắm xuống sắc lắm.

– Hôm mình về gặp bả ở phi trường, chắc bà ta thấy thằng Hiếu nên nhắn anh Thiện tới nói chuyện, bả muốn nhìn thằng Hiếu.

– Biểu bả đi chết cho rồi, bỏ con mấy chục năm không một lời thăm hỏi, người ta nuôi tới lớn thành danh giờ muốn nhìn.

– Chuyện bả muốn nhìn con thì mình không có ý kiến, còn chuyện khác kinh khủng hơn nữa kìa.

– Chuyện gì?

– Giờ bả nghèo khổ lắm không có một chiếc xe để đi, thiếu nợ mấy chục ngàn không trả nổi. Mình đang đi chiếc xe Lexus tuy đã cũ mười năm rồi, nhưng còn rất tốt, anh Thiện nói cho bả chiếc xe đó, mua chiếc xe mới cho mình.

– Trời đất!

– Ảnh còn nói giúp bả mấy chục ngàn trả nợ, bả giờ khổ lắm, giúp bả một lần này thôi.

– Đâu có được, ai chịu, sao lại bắt bồ đi lãnh nợ của bả, rồi bồ tính sao?

– Mình nói với anh Thiện ai gây nợ thì người đó trả, không ai lãnh nợ cho ai được.

– Khổ, ai làm cho bả khổ, đúng là quả báo!

– Mình nói với anh Thiện chuyện này phải họp mặt gia đình bàn tính, nếu mọi người đồng ý thì mình nghe theo. Anh Thiện cũng biết nói chuyện này ra chắc mọi người phản đối, đâu ai chịu, nên ảnh làm thinh. Mấy ngày nay mình với ảnh không nói chuyện, ai rủ đi đâu ảnh cũng không đi, thiệt mình rầu quá không biết tính sao đây.

– Về Mỹ rồi từ từ ảnh sẽ quên, bồ ngó chừng đừng để ảnh liên lạc với bả, bồ kiểm soát tiền bạc đừng để ảnh lén lút giúp bả.

– Vợ chồng mình sống mấy chục năm nay hiểu tánh nhau hết, anh Thiện rất tốt luôn lo lắng gia đình, hồi nào tới giờ mình giao ảnh giữ tiền, chi tiêu trong gia đình một mình ảnh lo. Nếu bây giờ ảnh lén giúp bà Nguyệt mình cũng không biết, nhưng ảnh không làm vậy, ảnh hỏi ý mình trước, anh Thiện được chỗ đó. Thôi thì… kệ, mình làm theo lời ảnh muốn cho nó yên nhà yên cửa. Mình tính khi nào mấy đứa đi chơi ở Nha Trang về, mình làm một bữa tiệc nho nhỏ tại nhà, mời bà con lối xóm đến chung vui nhân dịp bà Nguyệt nhìn con.

– Trời đất!

– Hôm đó bồ qua chơi.

– Qua chớ! Qua để coi cho trọn một vở tuồng, một câu chuyện có thật giống như một chuyện đùa.

– Gặp bà Nguyệt, bồ làm như chẳng biết gì, đừng nhắc chuyện xưa.

– Nể tình bồ mình sẽ không có cử chỉ hay lời nói nào làm mất mặt “con mẹ đó”, nhưng biểu mình vui vẻ với con mẻ thì xin lỗi, mình không hứa.


N. Nguyễn

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 74 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.797 seconds.