Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Chuyện Linh Tinh
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Đời Sống - Xã Hội :Chuyện Linh Tinh  
Message Icon Chủ đề: THÁNG TƯ ĐEN...... VÀ TẤT CẢ.. Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 52
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 16142
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 07/Jan/2021 lúc 11:14am

Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, ‘Người Ở Lại Charlie’

 

Các trận đánh trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, trong đó nổi bật nhất là các cuộc giao tranh tại ba mặt trận lớn ở An Lộc, Kon Tum và Quảng Trị.

 

Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (trái). (Hình: Tài liệu)

 

Từ những ngày đầu Tháng Tư, 1972, tại vùng Tân Cảnh-Dakto ở phía Tây Bắc Kon Tum diễn ra các cuộc giao tranh trước tiên, trong khuôn khổ Chiến Dịch Bắc Tây Nguyên của quân đội Cộng Sản Bắc Việt, và nhắm vào các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Vùng II Chiến Thuật.

 

Bối cảnh trận đánh tại căn cứ Charlie

 

Quân Lực VNCH trấn đóng tại vùng phía Tây Bắc tỉnh Kon Tum gần biên giới Việt-Miên-Lào gồm các lực lượng Bộ Binh, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, và Nhảy Dù, với nhiệm vụ chính là bảo vệ sườn phía Tây của Vùng II Chiến Thuật, đồng thời theo dõi các hoạt động chuyển quân từ Bắc vào Nam của Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt trong mưu đồ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Mỗi khi phát hiện các đoàn quân Cộng Sản xâm nhập này, phía VNCH sẽ báo cáo lại cho Hải và Không Quân Hoa Kỳ, đặc biệt là các phi đội oanh tạc cơ khổng lồ B-52, bay đến tiêu diệt họ cùng với số vũ khí, quân trang, quân dụng, và lương thực mang theo.

 

Hai căn cứ Charlie và Delta, nằm trong tuyến phòng thủ gồm nhiều cứ điểm của Quân Đoàn II Quân Lực VNCH ở phía Tây Sông Pôkô và Quốc Lộ 14, là những mục tiêu bị Cộng Quân tấn công đầu tiên trên đường tiến quân của họ về hướng Tân Cảnh, Dakto và thị xã Kon Tum, một trong ba mặt trận lớn trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Trận đánh quyết định tại Đồi Charlie diễn ra từ ngày 11 đến 14 Tháng Tư, 1972, trong đó Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù (Tiểu Đoàn Song Kiếm Trấn Ải), tử trận, và Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, quyết định rút quân khỏi Charlie.

 

Từ đầu Tháng Ba, 1972, biết được kế hoạch của Cộng Sản Bắc Việt là sẽ dùng các Sư Đoàn 320A, Sư Đoàn 322, và Sư Đoàn F10 cùng các đơn vị du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tấn công vào các cứ điểm của Quân Lực VNCH, Trung Tướng Ngô Du, tư lệnh Quân Đoàn II và Vùng II Chiến Thuật, đã điều động các lực lượng Bộ Binh và Thiết Giáp của Sư Đoàn 22 Bộ Binh lên Tân Cảnh để đối phó. Tướng Du còn điều động Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân đến các căn cứ biên phòng, đặc biệt là đồn Ben Het, để bảo vệ các tuyến giao thông đi vào Vùng II.

 

Vị tư lệnh Quân Đoàn II cũng yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH cho tăng cường thêm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù để làm lực lượng trừ bị tại Kon Tum và sẵng sàng cứu ứng cho Tân Cảnh khi cần thiết. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù đóng tại làng Võ Định, cạnh Quốc Lộ 14, giữa khoảng Kon Tum và Dakto. Các đơn vị trực thuộc được bố trí tại các cao điểm trên Dãy Rocket Ridge về phía Tây quốc lộ 14, với các căn cứ Alpha, Yankee, Charlie, Delta, Hotel… Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù dưới quyền Trung Tá Nguyễn Đình Bảo được chỉ định trấn đóng căn cứ Charlie, gồm các cao điểm 960, 1020, và 1050.

 

Nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. (Hình: Tài liệu)

 

Cộng Quân tấn công căn cứ Charlie, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh

Từ ngày 3 Tháng Tư, các lực lượng Sư Đoàn 320A khởi sự tấn công căn cứ Charlie và cứ điểm Rocket Ridge. Cuộc tấn công diễn ra nhiều đợt, và cho đến ngày 11 và 12, Cộng Quân liên tục nã hàng ngàn quả đạn 130 ly, 122 ly, và hỏa tiễn đủ loại vào hệ thống phòng ngự của căn cứ Charlie, quyết dứt điểm căn cứ này.

 

Khoảng 9 giờ sáng 12 Tháng Tư, Cộng Quân tiếp tục pháo loại đạn nổ chậm. Hầm chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tại cao điểm 1020 bị trúng nguyên một trái đạn 130 ly và bị sập toàn bộ, xác vị chỉ huy tiểu đoàn bị mảnh đạn cắt đứt nhiều chỗ. Khoảng 10 giờ rưỡi đêm đó, các lực lượng Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320A đã chiếm được nhiều nơi trên căn cứ Charlie.

 

Ngày 13 Tháng Tư, Đại Úy Hùng “Móm” dẫn Đại Đội 112 tổ chức phản công với ý định chiếm lại cao điểm 960 để bảo vệ nguồn nước và bãi đáp dành cho trực thăng ở khu yên ngựa của cụm đồi Charlie, nhưng cuộc phản công bị Cộng Quân đầy lui.

 

Ngày 14, Cộng Quân tiếp tục tấn công vào các cao điểm cón lại của căn cứ Charlie bằng những trận mưa pháo ghê gớm. Vừa dứt pháo, Cộng Quân tràn lên tấn công vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù do Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, chỉ huy. Vào lúc này, Thiếu Tá Mễ biết rõ là đơn vị đã hết đạn và cạn lương thực, bởi vì từ ngày 7 Tháng Tư đến nay, tiểu đoàn không nhận được tiếp tế đạn dược và lương thực. Trước hoàn cảnh bi đát đó, Thiếu Tá Mễ bàn với Thiếu Tá Đoàn Phương Hải, trưởng Ban 3 tiểu đoàn, là cần phải rút quân để tìm lấy cái sống trong cái chết cận kề.

 

Để thực hiện kế hoạch này, vị chỉ huy Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã ra lệnh cho các đại đội rời căn cứ Charlie theo hướng Đông-Bắc và tìm đường rút về Tân Cảnh (bộ chỉ huy hành quân của Sư Đoàn 22 Bộ binh) thay vì về Võ Định (nơi đóng quân của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù) vì vị trí này quá xa căn cứ Charlie. Thiếu Tá Mễ cũng xin Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, nửa giờ sau khi lính Dù đã rút đi, cho bắn đạn nổ chụp ngay trên đồi Charlie để tiêu diệt quân tấn công đang tràn ngập căn cứ.

 

Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo (phải) và Ðại Tá Trương Vĩnh Phước trong chiến dịch Damber,

Cambodia, Tháng Tám, 1971. (Hình: Tài liệu)

 

Vĩnh biệt Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie”

 

Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, cả năm đại đội và bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng nhau rời cao điểm 1020, vĩnh biệt Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie.” Cộng Quân tràn lên chiếm đồi thì bị trọng pháo của Nhảy Dù từ các căn cứ hỏa lực gần đó đồng loạt bắn vào. Sau đó, một phi đội pháo đài bay B-52 xuất hiện, dội hàng trăm tấn bom xuống căn cứ Charlie vừa bị bỏ lại. Các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt mới tiến lên căn cứ và chưa kịp chấn chỉnh hàng ngũ thì đã bị tan nát dưới trận mưa bom của Không Lực Hoa Kỳ.

 

Cái chết của vị sĩ quan anh hùng này đã gây nhiều xúc động trong lòng các chiến hữu Nhảy Dù và cả các chiến binh thuộc các quân, binh chủng bạn, bởi vì Trung Tá Bảo nổi tiếng là vị chỉ huy tài ba, gan dạ và hết lòng yêu thương đồng đội.

 

Charlie hay Tân Cảnh, Dakto, Kon Tum… không phải là những chiến trường duy nhất mà gót giày sô của vị trung tá đã đi qua, mà còn những địa danh khác nữa, như “Toumorong, Dakto, Dam-be, Đức Cơ, Krek, Snoul, Khe Sanh, Hạ Lào…” như được kể đến trong ca khúc “Người Ở Lại Charlie” của Trần Thiện Thanh, và còn nhiều, nhiều nữa những “địa ngục trần gian” khác từng “dàn chào” bao người chiến binh Quân Lực VNCH như Nguyễn Đình Bảo trong suốt cuộc chiến bảo vệ miền Nam Tự Do trước cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Quốc Tế hồi hạ bán thế kỷ trước.

 

Giữa mùa tao loạn, cái chết ngay tại chiến trường mới là vinh dự thật sự của người chiến binh, cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, lúc sinh thời, vẫn thường nói vậy. Nếu Trung Úy Nguyễn Văn Đương chỉ nhờ một trận đánh trên Đồi 31 tại chiến trường Hạ Lào mà trở thành “người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương” thì Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie,” trở thành người anh hùng trong cuộc chiến. Không phải chỉ vì một trận chiến trên một ngọn đồi tại vùng núi rừng Kon Tum heo hút mà là vì những chiến công của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo qua biết bao nhiêu lần vào sinh, ra tử tại các mặt trận khác, bởi vì danh vị anh hùng đó còn tùy thuộc vào chiều dài của đời quân ngũ và bề dày của những hy sinh, gian khổ mà người chiến binh cống hiến cho quốc gia, dân tộc.

 

Trong trận chiến trên đồi Charlie, thiết tưởng hai chiến sĩ khác, một Việt, một Mỹ, cũng rất đáng được khâm phục và ngợi ca.

 

 

Bản đồ căn cứ Charlie, 1972. (Hình: nhayduwdc.org)

 

Theo các bài viết về trận đánh tại căn cứ Charlie của tác giả Vương Hồng Anh trên các trang mạng vietbao.com và dongsongcu.wordpress.com, người thứ nhất đáng được vinh danh là Trung Sĩ Lung thuộc Đại Đội 111, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, người chiến sĩ can trường đã xung phong bắn mở đường cho đồng đội tháo lui, rồi sau đó còn gan lì đoạn hậu để che chở cho anh em rút đi yên ổn trước khi hy sinh vì trúng đạn của Cộng Quân.

 

Người thứ nhì là Thiếu Tá Duffy, John Duffy, một sĩ quan Lục Quân Mỹ, sau trở thành Cố Vấn Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù Quân Lực VNCH. Trong cuộc rút quân khỏi căn cứ Charlie, vị sĩ quan Mỹ gan dạ này luôn nằm trong số những người sau cùng lên trực thăng di tản vì có lòng tốt muốn nhường chỗ cho các chiến binh Nhảy Dù lên máy bay trước. Và, vào phút chót, khi đã đặt chân được lên trực thăng rồi mà Thiếu Tá Duffy, bất chấp nguy cơ có thể bị bỏ lại vùng địch chỉ vì đây là chuyến trực thăng chót trong cuộc di tản khỏi Charlie, vẫn còn phải nhảy xuống đất để kịp đỡ Thiếu Tá Hải lên trực thăng, sau khi vị thiếu tá Dù bị trúng đạn địch mà rớt khỏi phi cơ.

 

Phải biết rằng Quân Đội Thiên Hoàng Nhật Bản (hồi Đệ Nhị Thế Chiến) và Quân Lực VNCH (thời Chiến Tranh Việt Nam) vẫn nổi tiếng là hai đạo quân có các chiến binh dũng cảm nhất thế giới. Điều lý thú là các sĩ quan Mỹ từng tâm sự rằng họ rất “ngán” khi được phái đến làm cố vấn cho các đơn vị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, và Biệt Động Quân, bởi vì ai cũng lo sợ mình không đủ gan dạ để theo kịp những người bạn chiến đấu đó trong Quân Lực VNCH.

 

 

Vann Phan

---------------------------------

Người Ở Lại Charlie

 

Tác giả: Trần Thiện Thanh

 

Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie

Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí

Vâng, chính anh là ngôi sao mới

Một lần này chợt sáng trưng

Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng

Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie

Anh! Vâng, chính anh là loài chim quý

Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý

Một lần dậy cánh bay

Người để cho người nước mắt trên tay

Ngày anh đi, anh đi

Anh đi từ tổ ấm

Anh ơi, địa danh nào thiếu dấu chân anh?

Đợi anh về

Chỉ còn trên vầng trán đứa bé thơ, tấm khăn sô bơ vơ

Người góa phụ cầu được sống trong mơ

Toumorong, Dakto, Krek, Snoul

Ôi Dambe, Đức Cơ, Krek, Snoul

Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu

Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình

Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.

Anh! Anh! Nhớ anh trời làm cơn bão

Anh! Anh! Tiếc anh chiều rừng thay áo

Ôi! Vết đau nào đưa anh đến

Ngàn đời của nhớ thương

Hỡi bức chân dung trên công viên buồn

Xin một lần thôi, một lần thôi

Vẫy tay tạ từ Charlie.

Xin một lần nữa, một lần nữa

Vẫy tay chào buồn anh đi.


Vann Phan
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 16142
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 09/Jan/2021 lúc 4:21pm

Tấm Thẻ Bài Rách Tên  <<<<

Tác giả: Hoài Linh
Trình bày: Khánh Ly




Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 16142
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 20/Feb/2021 lúc 3:08pm

Lời Hứa Bên Sông

 




ĐIỆP MỸ LINH 

Trên đoạn đường ngắn từ cư xá trở lại trạm gác, khi đi ngang đoàn chiến đỉnh đang cặp nơi cầu tàu, Bảo Ngọc chợt nghe tiếng hát văng vẳng trong không gian tĩnh lặng của một buồi chiều: There is a river called the River of No Return. Sometimes it’s peaceful and sometimes wild and free…” (1) Tình khúc này gợi lại trong hồn Bảo Ngọc hình ảnh thê thảm sau những giờ phút êm đềm, hạnh phúc khi ông bà Trực đưa bé Bảo Ngọc đi xem xi-nê, phim River Of No Return. Lúc đó, Bảo Ngọc chỉ là cô bé con, được ông Trực cầm tay cho khỏi lạc; còn bà Trực mang thai gần ngày sinh.

Chiều nay, bất ngờ nghe lại ca khúc River Of No Return, Bảo Ngọc nhìn quanh, chợt thấy nơi cầu tàu, một quân nhân Hoa Kỳ – Hải Quân đại úy Taylor – đang ôm Guitar, ngồi bệt phía trước chiếc Cammand, chân thòng xuống sông, vừa đàn vừa hát. Tiếng hát của Taylor làm cho sự hãi hùng, nỗi đau thương và niềm uất hận bừng lên trong hồn Bảo Ngọc một cách dữ dội và tàn ác không khác chi tiếng nổ của mấy trái lựu đạn do Việt Cộng thảy vào đám người vừa từ rạp xi-nê đi ra!

Mấy tiếng nổ kinh hoàng vừa vang lên, nhiều thân người gục xuống trong tiếng gào khóc, réo gọi nhau! Bảo Ngọc nghe giọng hốt hoảng của ông Trực: “Má bé Ngọc đâu? Má bé Ngọc đâu?” Bảo Ngọc sợ quá, khóc thét lên.

Tối đó Bảo Ngọc khóc thét vì hãi sợ tiếng nổ và cảnh hỗn loạn! Vài ngày sau, Bảo Ngọc khóc âm thầm trong không gian buồn thảm khi Bảo Ngọc thấy bà Trực nằm trong quan tài – bụng của Bà vẫn còn căn lớn!

Dòng ký ức đau thương của Bảo Ngọc đến đây cũng là lúc Taylor hát đến câu: “…down the river of no return. Wail-a-ree, wail-a-re-e-ee….” (2) Bao nhiêu năm trước, khi Marilyn Monroe hát trong phim xi-nê, Bảo Ngọc chỉ thích giai điệu êm đềm, thiết tha của dòng nhạc chứ chưa hiểu được lời ca. Sau thời gian học Tú Tài ban Anh văn và học thêm Anh văn tại Hội Việt Mỹ, trình độ Anh văn của Bảo Ngọc rất khá. Bây giờ, nghe Taylor kết thúc bằng câu “…She’ll never return to me!” (3) tự dưng niềm thương nhớ người Mẹ trẻ và đứa em chưa được chào đời như lời gọi sâu thẳm từ tiềm thức, làm cho những bước chân vô hồn của Bảo Ngọc đi dần về hướng bờ sông, đến gần đoàn chiến đỉnh, rồi đứng yên, lắng nghe!

Thấy Bảo Ngọc, Hải Quân trung úy Ngân, cùng khóa với Thuận – con riêng của bà Thắm, Mẹ kế của Bảo Ngọc – nhìn Bảo Ngọc không rời. Nhiều lần, nửa đùa nửa thật, Ngân nói với Thuận: “Thuận! Cho tao làm em mày, nha.” Thuận giả vờ như không nghe; vì ý Thuận muốn Bảo Ngọc phải đạt được những ước mơ trên đường học vấn mà Thuận phải bị gián đoạn vì lệnh động viên.

Bảo Ngọc đứng chơ vơ trên cầu tàu. Hai tà áo dài trắng chờn vờn nhè nhẹ theo từng cơn gió chiều, trông như hai cánh bướm.

Nhân dáng của cô gái nơi cầu tàu làm Taylor ngạc nhiên đến không tin vào thị giác của chàng! Tin làm sao được khi mà dáng người thanh cao, đồng phục trắng, khuôn mặt xinh đẹp và đôi mắt ươn ướt của cô gái này lại giống y như nhân dáng và khuôn mặt của cô học trò mà cách nay vài hôm, khi lái chiếc Jeep qua khỏi cầu, tình cờ Taylor thấy cô nàng đang loay hoay gỡ tà áo dài ra khỏi giây “sên” xe đạp – mà gỡ không được! Taylor dừng xe Jeep, hỏi thăm, thấy mắt cô nàng ửng đỏ như khóc. Taylor gỡ giúp vạt áo dài cho cô.

Nếu người đời cho rằng “love at first sight” có thật, thì ngay hôm giúp cô gái gỡ tà áo, Taylor tự biết rằng chàng không thể xua đuổi khuôn mặt diễm kiều và ánh mắt buồn của cô gái này ra khỏi trái tim của chàng! Taylor hỏi tên, nhưng theo cách phát âm của nàng, không thể nào Taylor có thể nhớ hoặc lập lại được. Taylor đưa cuốn sổ tay, nói nàng viết tên và địa chỉ của nàng, với dụng ý sẽ đến thăm nàng. Cô gái lắc đầu, bảo chỉ có thể viết tên Bảo Ngọc, không dám cho địa chỉ; vì gia đình nghiêm lắm.

Bảo Ngọc biết trước rằng, khi về nhà, thế nào bà Thắm cũng dành cho nàng một trận đòn! Vì biết trước, vì lo sợ, cho nên, trước khi lên xe đạp, Bảo Ngọc nhìn Taylor bằng đôi mắt biết ơn nhưng rất buồn. Chính đôi mắt buồn của Bảo Ngọc làm cho lòng Taylor xao xuyến vô cùng! Sau khi Bảo Ngọc đạp xe đi, Taylor quyến luyến nhìn theo, lòng thầm ước sẽ được gặp lại nàng.

Chiều nay, bất ngờ thấy cô gái mặc đồng phục trắng đang đứng bên bờ sông An Giang, nghĩ rằng có thể niềm mơ ước của mình thành hiện thực, Taylor dựng Guitar cạnh pháo tháp rồi lên bờ, đi về hướng cô gái. Lúc này Bảo Ngọc cũng mườn tượng như đã thấy quân nhân Hoa Kỳ này đâu đó. Khi nhận ra chữ Taylor trên miệng túi áo, Bảo Ngọc mới nhớ.

Sau vài câu xã giao và xác định, Taylor hỏi Bảo Ngọc vào căn cứ Hải Quân có việc gì? Bảo Ngọc đáp:

-Tôi đem thức ăn vào cho anh Thuận của tôi. Nhưng khi trở ra cổng gác, nghe tiếng ai hát bài River Of No Return thì những kỷ niệm đau thương trong tôi chợt sống lại. Tôi muốn biết xem ai đang hát bài đó, vì tôi thích bài đó lắm.

Taylor nhìn vào mắt của Bảo Ngọc một cách tha thiết:

-Rất tiếc vô tình tôi gợi lại kỷ niệm buồn của cô. Xin cảm ơn cô đã thích bài hát mà tôi cũng yêu thích. Nếu có cơ hội, tôi sẽ vui vẻ để đàn và hát cho cô nghe. Tiếc rằng trung úy Thuận và chúng tôi sắp đi công tác; và hai tuần nữa tôi sẽ mãn nhiệm kỳ để trở về Hoa Kỳ.

-Chúc anh may mắn. Có lẽ anh vui lắm vì sắp mãn nhiệm kỳ chiến đấu trên đất nước tôi.

-Cảm ơn lời chúc lành của cô. Nhưng, nếu trước đây khoảng một tuần, cô nói với tôi câu ấy thì hoàn toàn đúng; nhưng từ hôm gỡ hộ tà áo dài của cô ra khỏi giây “sên” xe đạp cho đến nay thì câu nói ấy không đúng nữa.

Bảo Ngọc thật thà quá đổi:

-Tại sao?

Taylor chưa kịp đáp lời của Bảo Ngọc thì đã nghe tiếng Thuận – có vẻ rất gay gắc khi thấy em gái đang nói chuyện với một người Mỹ – phát ra từ nhóm quân nhân đang đi gần đến cầu tàu:

-Bảo Ngọc! Đi về!

Bảo Ngọc vội nói “Good bye” với Taylor. Taylor ngạc nhiên:

-Cô bé ơi! Tại sao cô có vẻ sợ?

-Tôi…tôi không được phép nói chuyện hoặc làm quen với người ngoại quốc.

-Tại sao?

-Dài dòng lắm, tôi không thể giải thích ngay bây giờ.

-Tôi muốn làm quen với cô.

-Sorry! Không được đâu!

Bảo Ngọc xoay bước. Trong giây phút bồng bột, Taylor không nén được tình cảm, nói vói theo:

-Cô bé ơi! “Rever Of No Return” but I will return!

Lời hứa hẹn của Taylor khiến Thuận nhận thức được rằng Bảo Ngọc không còn bé nữa! Thuận nghĩ đến Ngân. Thuận tự hứa sẽ tìm cơ hội để “hai đứa nó” quen nhau. Bây giờ phải ngăn Taylor trước, Thuận bước đến gần, khẻ nói:

-Đại úy Taylor! Ông đừng nên tìm cách gặp em tôi.

-Tại sao?

-Phong tục của đất nước tôi là: Những thiếu nữ chưa lập gia đình, thuộc vào những gia đình nề nếp, lễ nghĩa, có giáo dục cao không bao giờ được phép nói chuyện hoặc làm quen với người ngoại quốc.

-Tôi không hiểu gì cả.

-Ông không cần hiểu. Tôi khuyên ông, khi nào buồn, nhớ nhà thì ra “bars” mà giải khuây.

-Tôi không muốn giải khuây. Tôi muốn làm theo ước vọng của trái tim tôi.

Chưa kịp đáp lời Taylor, chợt thấy thiếu tá Quang – Chỉ Huy Trưởng giang đoàn – đang bước xuống chiếc Command, Thuận và Taylor cũng bước theo.

***

Đoàn chiến đỉnh giang hành chầm chậm, gần bờ. Nhìn dòng An Giang bát ngát trong bóng hoàng hôn mịt mùng, tự dưng Taylor cảm thấy nhớ những ngày thơ dại bên dòng Mississippi bao la. Bất giác Taylor “ngân nga” nho nhỏ: Oh, you Mississippi River with waters so deep and wide. My thoughts of you keep rising just like an evening tide. I’m just like a seagull that’s left the sea. Oh, your muddy waters keep on calling me…” (4) “Ngân nga” đến đây, Taylor chợt nhận ra, ngày đó, chàng yêu thích Hải Quân và ghi tên theo học tại United States Naval Academy chỉ vì sự quyến rũ của dòng Mississippi hùng vỹ!

Trong khi Taylor thương nhớ dòng sông hùng vỹ nơi quê nhà thì màn đêm từ từ bao phủ vạn vật. Đoàn giang đỉnh lầm lủi tiến, không được mở đèn. Nếu không có tiếng của Quang dùng ám từ truyền tin để liên lạc với các đơn vị bạn trên bờ và nếu không có tiếng máy tàu “vi vu”, đoàn chiến đỉnh trông như những “quái vật” khổng lồ đang di động. Trên mỗi “quái vật” khổng lồ này, nhiều cặp mắt quan sát hai bên bờ sông để đề phòng bị Việt Cộng phục kích.

Dù trong đêm đen, hình dáng “dềnh dàng” và những cột “ăng-ten” cao lêu nghêu trên chiếc Command cũng cho thấy sự khác biệt của “quái vật” này với những “quái vật” khác trong đoàn. Chính sự khác biệt này khiến Việt Cộng thường tấn công chiếc Command trước.

Nhiều tiếng nổ kinh hồn vang lên. Chiếc Command và LCM trúng đạn! Đoàn giang đỉnh bắn hỏa châu, soi sáng một vùng. Từ máy truyền tin: “Hai lần tư tưởng Québec! Hai lần tư tưởng Québec! Đây Hotel! Métro ‘đi phép dài hạn’ rồi!” (5) Quang giận dữ, hét lên trong ống liên hợp: “Tất cả cho ‘gà cồ’ ‘gáy’ hướng 3 giờ. Nghe rõ, trả lời?” Âm vang của súng cối từ đoàn chiến đỉnh át hẳn tiếng trả lời. Trong bờ Việt Cộng dùng B40 bắn ra xối xả. Quang ra lệnh đoàn chiến đỉnh ủi thẳng vào bờ bên phải, xử dụng hỏa lực tối đa.

Thấy Việt Cộng “chém vè” và tiếng B40 dịu dần, Quang ra lệnh đoàn giang đỉnh ngưng tác xạ; vì ngại đạn lạc trúng các đơn vị bạn đang đánh bọc hậu.

Gác ống liên hợp xong, Quang mới thấy Taylor đang ôm chân và máu đọng từng vũng trên sàn chiếc Command.

***

Vừa bước đi Taylor vừa lắc đầu như chán nản, như không tin vào nhận xét của chính mình. Tin sao được khi mà, thời còn chiến tranh, những thành phố miền Nam Việt Nam mà chàng đã đi qua – dù thường xuyên bị “Vi-Ci” pháo kích và đặt chất nổ để khủng bố – vẫn vui tươi, đầy sức sống; còn bây giờ, sau khi miền Nam được “giải phóng”, tại sao Taylor chỉ thấy nụ cười hớn hở phô hai hàm răng vẩu trên khuôn mặt sạm đen của những người mặc quân phục màu cứt ngựa, đội nón cối, hoặc nón tai bèo, chân mang dép làm từ vỏ xe hơi; còn thường dân thì mặt ai trông cũng hốc hác như thiếu ăn, mất ngủ?

Quanh Taylor là sự tiêu điều toàn diện! Sự tiêu điều thể hiện nơi từng bộ quần áo vá víu trên tấm thân gầy đét của người dân; trên những đôi chân trần; trên những gánh hàng rong chỉ loe ngoe vài trái bắp, trái ổi hoặc mấy bó rau èo uột. Sân trường thưa thớt học trò, vì tất cả phải bươn chải kiếm sống và cũng vì chính sách “kê khai lý lịch” cho nên con của “Ngụy quân Ngụy quyền” không được đi học!

Qua sách báo, Taylor hiểu, tất cả sĩ quan của “bên thua cuộc” đều bị “Vi-Ci” đày đọa trong những nhà tù được ngụy danh là “trại cải tạo”; còn hạ sĩ quan và binh sĩ thì sao? Cả một quân lực như vậy mà nay tất cả biến đi đâu?

Nhiều lần Taylor gạ chuyện, muốn làm quen với người Việt để hỏi về những quân nhân V.N.C.H. và về những loa phóng thanh được gắn khắp nơi, phát ra tiếng nói rổn rảng, quyết liệt như họ đang cãi nhau, nhưng dường như không ai hiểu tiếng Anh; chỉ có người quản lý khách sạn là có thể vừa ra dấu vừa đàm thoại một cách rất giới hạn! Ngày trước, những người lính và thủy thủ, cũng có thể vừa nói vừa ra dấu để hiểu nhau và ngay cả mấy bác xích lô cũng rất thân thiện, lúc nào cũng “Hello! How are you?” Bây giờ mọi gương mặt đều lạnh lùng với đôi mắt không bao giờ dám nhìn thẳng. Cái gì làm cho mọi người hãi sợ đến như vậy?

Như để giải đáp thắc mắc của Taylor, tiếng thét của một phụ nữ vang lên. Taylor quay nhìn về hướng phát ra tiếng thét và thấy một tên công an đang dằn co với một bà bán hàng rong; vì bà này không có giấy phép “đăng ký kinh doanh”! Cả hai đều lớn tiếng với nhau.

Đây là lần đầu tiên – sau khi trở lại Việt Nam – Taylor thấy một phụ nữ dám lớn tiếng với một nhân vật mặc quân phục “Vi-Ci”. Bất ngờ tên “Vi-Ci” “dộng” vào mặt phụ nữ bán hàng. Cú “dộng” này khiến bà bán hàng té xuống, kiếng đeo mắt rớt, mẻ một góc. Trong khi Taylor giận dữ, vừa quát “Hey! Stop it!” vừa cố đi nhanh đến bên bà bán hàng – nhưng vì chân bị thương trong thời kỳ chiến tranh, đi nhanh không được – thì tên “Vi-Ci” đạp vào người bà bán hàng; thuận chân, hắn đạp luôn vào thúng xôi của bà khiến xôi đổ vươn vải trên nền đất. Và, trước ánh mắt kinh ngạc của Taylor, đám trẻ con từ đâu ùa đến, chụp nhanh mớ xôi, vừa chạy vào hẽm vừa cười vừa ăn!

Thấy một người “nước ngoài” đi đến, tên “Vi-Ci” bỏ đi thật nhanh.

Taylor cầm tờ $20.00 Mỹ kim trong tay, khom người đỡ bà bán hàng dậy, giọng dịu dàng:

-Bà bị đau ở đâu? Bà cần đi bác sĩ hay bệnh viện không?

Khi hỏi hai câu đó Taylor cảm thấy hơi xốn xang trong lòng, vì nghĩ rằng làm thế nào bà bán hàng hiểu được; nhưng chàng không thể nói tiếng Việt thì làm sao! Thật bất ngờ, Taylor thấy bà bán hàng vừa lượm cặp kính bể đeo vào, vừa khóc tức tưởi vừa đáp:

-Cảm ơn. Nhưng cơm chúng tôi còn không có mà ăn thì làm thế nào tôi có thể đi bác sĩ hoặc bệnh viện được!

-Một người nói tiếng Anh khá như bà mà tại sao phải đi bán hàng rong?

-Từ 30 tháng Tư 1975 đến nay, mọi tầng lớp xã hội miền Nam, mọi sự việc trên đất nước tôi đều đảo ngược hết rồi ông ạ!

-Thế bà là người miền Nam, đúng không?

Bà bán hàn buồn bả gật đầu.

Thấy kính cận của bà bán hàng bị bể, Taylor lấy thêm hai tờ $20.00 Mỹ kim nữa, đưa cho bà:

-Đây, $60.00 Mỹ kim, tôi mua tất cả thức ăn trong gánh của bà.

Biết giá trị của sáu mươi Mỹ kim vào thời bao cấp – thời mà hằng ngày, mỗi gia đình “Ngụy” chỉ biết ăn bo bo thay cơm – nhưng bà bán hàng cũng vẫn lắc đầu:

-Cảm ơn. Nhưng xôi đổ hết rồi, ông mua mớ lá chuối và gióng gánh này để làm gì?

-Không. Không. Tôi không lấy bất cứ vật gì. Bà giữ tất cả. Tôi muốn trả tiền cho mớ “cơm” bị đổ.

-Xôi bị đổ không phải lỗi của ông, tại sao ông phải đền tiền? Cảm ơn ông, nhưng tôi không thể nhận tiền của ông.

Không thể nào Taylor hiểu được rằng bà bán hàng được nuôi dạy trong một gia đình theo nền giáo dục xưa: “Giấy rách phải giữ lấy lề” và “Đói cho sạch rách cho thơm”. Vì không hiểu cho nên Taylor bị mặc cảm. Taylor thầm chửi lũ phản chiến Mỹ; vì lũ phản chiến đã áp lực Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Taylor tự hỏi, có phải hệ lụy về việc Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam – để “Vi-Ci” đem tất cả oán thù, đau thương và thảm khốc trút lên đầu người dân miền Nam – đã làm cho chính người miền Nam cũng không còn thiện cảm với người Mỹ nữa hay không? Không thể nào Taylor tự giải đáp được. Taylor cảm thấy buồn buồn, đi dần về hướng bờ sông.

Taylor tựa vào thân cây, nhìn dòng An Giang lặng lờ. Ngày xưa, nhìn dòng An Giang, Taylor nhớ dòng Mississippi hùng vỹ. Giờ đây, nhìn dòng An Giang, Taylor lại nghĩ đến lời hứa của chàng với cô học trò áo trắng. Buồn lòng, Taylor cất tiếng hát nho nhỏ như than thở với dòng An Giang về niềm riêng của chàng: “There is a river called the River of No Return…. Swept on forever to be lost in the stormy sea…” (6)

Tiếng hát của Taylor văng vẳng trong gió chiều khiến bà bán hàng ngẩn ngơ. Nhìn quanh, không thấy ai có radio – dù có radio cũng không ai dám nghe đài của “bọn đế quốc xâm lược” – bà bán hàng băng nhanh qua đường, đến phía sau thân cây và nhận ra người ngoại quốc này đang hát.

Theo tiếng hát khàn khàn của người đàn ông Mỹ đã mất hết nét thanh xuân vì bộ râu “quai nón” cùng với thân người bệ xệ, bà bán hàng chợt nhớ lại hình dáng thon thả, đôi mắt xanh biếc cùng lời hứa của đại úy Taylor nơi cầu tàu thuộc trại Vân Đồn, năm xưa.

Bà bán hàng nghĩ đến Taylor không phải bà thương yêu Taylor; mà chỉ vì bà vừa nhớ lại ý tưởng của bà trong hai lần tiếp xúc với Taylor.

Ý tưởng của bà thuở ấy là: Ước mơ được du học ngoại quốc để thoát khỏi sự đọa đày triền miên của bà Thắm – người dì ghẻ ác độc; ước mơ có thể quên được hình ảnh bi thảm của Mẹ và đứa em chưa chào đời; và ước mơ quân đội Hoa Kỳ sẽ giúp Quân Lực V.N.C.H. “đuổi” được Việt Cộng – những người đã trực tiếp đưa bà vào cuộc sống đầy đau thương và tủi hận – về Bắc.

Khi Taylor vừa dứt lời ca, bà bán hàng bước ra phía trước, hỏi:

-Thưa ông, xin lỗi, ông làm ơn cho tôi hỏi một câu.

Gặp người nói tiếng Anh khá, Taylor vui, muốn kéo dài cuộc đàm thoại, “Okay” ngay.

-Đây là lần đầu tiên ông đến Việt Nam hay là ông từng tham chiến tại Việt Nam?

Nhìn dáng người gầy còm, lưng còng vì thiếu dinh dưỡng, khuôn mặt đen đúa, đầy nếp nhăn, răng sún và đôi mắt tí hí ẩn sau đôi kính cận dày cộm bị mẻ, Taylor đáp:

-Tôi đã phục vụ đơn vị Hải Quân tại đây.

-Ông trở lại để tìm kỷ niệm của thời đáng yêu nhất trong đời người, phải không?

-Không. Ngay sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam bang giao, tôi tìm mọi cách để trở lại đây chỉ với mục đích tìm một người; nhưng suốt gần hai tuần qua tôi tìm không ra.

Nghi đây là cựu Hải Quân đại úy Taylor, nhưng bà bán hàng muốn chính Taylor xác nhận:

-Nếu ông không ngại, ông có thể cho tôi biết tên người mà ông muốn tìm hay không?

Taylor vừa đáp vừa lấy ví, mở ra, lật cuốn sổ tay cũ, giấy đã úa vàng:

-Tôi không thể nói được tên của cô ấy; nhưng đây, chữ viết của cô ấy, nhờ bà đọc giùm.

Vừa thấy nét chữ của chính mình, Bảo Ngọc xúc động, không thốt nên lời! Bảo Ngọc cúi mặt. Bất ngờ hình ảnh của Thuận cùng tiếng khóc than của vợ con Thuận khi hay tin Thuận tử thương trong khi chiến hạm chuyển quân và dân di tản từ Vùng I và Vùng II Duyên Hải đi Phú Quốc chợt hiện về!

Tin Thuận tử thương khiến bà Thắm trở nên lầm lì như một người câm! Nhưng, sau khi bị Việt Cộng tịch thu nhà, đuổi đi kinh tế mới và tiếp đến là tin Thảo – con của bà và ông Trực – tử trận khi thi hành nghĩa vụ quân sự bên Cao Miên thì bà Thắm…quỵ xuống và không bao giờ bà có thể ngồi dậy được nữa!

Bảo Ngọc quyết định không cần suy nghĩ:

-Rất tiếc, tôi cố nhớ xem bạn hữu của tôi ai có tên đó hay không mà nhớ không được! Chào ông.

Bảo Ngọc trả lại cuốn sổ tay.

Lúc nãy, trong khi Bảo Ngọc bị tình cảm chi phối, Taylor kín đáo lấy một số tiền kha khá, cuộn nhỏ. Khi nhận lại cuốn sổ tay, Taylor nắm bàn tay xương xẩu của Bảo Ngọc, để cuộn tiền vào, giọng ân cần:

-Bà cố gắng như vậy là tốt rồi. Tôi cảm ơn bà. Tôi muốn biếu bà món quà để bà mua đôi kính khác; đeo kính bể rất nguy hiểm. Và nếu bà cần đi bác sĩ hoặc đến bệnh viện vì bị chấn thương do tên “Vi-Ci” gây ra cho bà lúc nãy thì bà có thể dùng.

Cúi mặt tránh ánh nhìn của Taylor, Bảo Ngọc chợt nhớ những buổi chiều, nếu xôi bán không hết, nàng đút từng miếng xôi rất nhỏ cho bà Thắm ăn. Bà Thắm thường thều thào: “Ngọc…ơi! Dì…biết Dì đã quá tàn ác đối với con cho nên Trời phạt Dì! Con… tha thứ cho Dì. Con cố làm phước, lấy đức cho hai thằng con của con. Đừng bỏ Dì… chết bờ chết bụi, nhen, con.” Bảo Ngọc xúc động, “dạ” nho nhỏ. Bà Thắm tha thiết hơn: “Con hứa với Dì, nha, Ngọc!”  Từ tâm thức nhân hậu của nàng, Bảo Ngọc vừa nghĩ đến người Cha đang bị Cộng Sản Việt Nam cầm tù vừa đáp: “Dạ, con xin hứa với Dì. Con cũng xin cảm ơn Dì đã thay Má con mà chăm sóc cho Ba con suốt bao nhiêu năm dài”. Từ đôi mắt mờ của bà Thắm, hai hàng nước mắt lăn dài…

Lời hứa với bà Thắm, hình ảnh hai đứa con của nàng đang phụ bán cơm dĩa với vợ con của Thuận tại bến xe đò và nhân dáng tan thương, đói rách của ông Trực và Ngân – chồng của nàng – trong nhà tù A30 đem đến sự dằn co rất mãnh liệt trong lòng Bảo Ngọc. Cuối cùng, nàng nói nhỏ:

-Cảm ơn ông rất nhiều. Gia đình tôi – cũng như không biết bao nhiêu gia đình người miền Nam bị “Vi-Ci” đuổi đi kính tế mới – rất cần sự giúp đỡ của mọi người. Chào ông.

Taylor chưa kịp nói gì, Bảo Ngọc đã vội vàng băng qua đường, đến bên gánh xôi, quảy gánh, bước nhanh như chạy trốn.

Trong khi Bảo Ngọc như muốn liệm chết một dĩ vãng tươi đẹp lẫn đau thương đang bừng sống trong hồn nàng thì Taylor nhìn theo người đàn bà khốn khổ, đi chân trần, lòng buồn buồn, vừa tưởng nhớ cô học trò áo trắng năm xưa vừa “ngân nga” nho nhỏ: “…Gone gone forever down the river of no return. Wail-a-ree, wail-a-re-e-ee, she’ll never return to me!” (6)

ĐIỆP MỸ LINH

http://www.diepmylinh.com/

1-2-3.6- River Of No Return của Lionel Newman, Ken Darby.
4.- Mississippi River Blues của McWilliams, Elsie / Rodgers, Jimmie.
5.-Ám từ truyền tin: Québec được hiểu là thiếu tá Quang. “Métro đi phép dài hạn” là Ông Mẫn tử trận rồi.

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 16142
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 25/Feb/2021 lúc 10:10am

Tấm Thẻ Bài



   

 

 

 



 

 

 

 

Mẹ qua đời tôi chưa tròn một tuổi
Sống với bà, nhờ chén nước cơm vo
Cha cải tạo, không biết đến bao giờ?
Từ giặc chiếm phải xa cha, lìa mẹ!

Tôi không được vào trường như bạn trẻ
Bởi con “ngụy” liên hệ tội của cha
Ăn không no, bà yếu sức tuổi già
Sống lây lất bo bo thay cơm cháo

Cay đắng nào hơn, tuổi vừa lên sáu
Bà qua đời trong khốn khổ, ốm đau!
Tôi lang thang bươi rác, ngủ gầm cầu
Kiếm từng bữa, ngày qua ngày tiếp nối

Lất phất mưa bay, trời chạng vạng tối
Chị hàng rong dừng gánh, ở bên đường
Cho gối xôi, mắt ấm áp tình thương...
Ôi hạnh phúc, nghẹn ngào tôi bật khóc!

Và từ đó đời bớt phần cô độc
Sống với chị, nhờ vào gánh hàng rong
Lâu lắm rồi, giữa đêm tối mùa đông!
Bờ sông vắng, tôi lên xuồng ba lá

Trước, sau xuồng có hai người khách lạ
Họ bơi nhanh từ sáng đến xế chiều
Qua những vùng thôn hoang vắng đìu hiu
Trời khuất núi, xuồng vẫn chưa ghé bến

Tôi không hỏi đi đâu, bao giờ đến?
Qua đồng xanh lác đác cụm trâm bầu
Bông súng vàng hơn hớn dưới đầm sâu
Cá nhảy ngược, dầm bơi làm quấy động

Gió vi vu, xuồng lướt êm trên sóng
Tôi lặng thinh, ngắm đếm những sao trời
Chăm chú nhìn chờ sao xẹt, đổi ngôi…
Thành Tâm nguyện, sẽ ứng linh lập tức

Tiếng ai gọi? Bàng hoàng tôi chợt thức!
“…Con ơi con, hãy tỉnh giấc đi con
Cha đây! Con tôi thân xác gầy còm
Tuổi thơ dại, sớm chịu nhiều đau khổ…”

Chị thiết tha, vuốt tóc tôi bảo nhỏ:
“…Gọi đi em, người đó chính là cha…”
Tôi ôm cha, mắt lệ mãi chan hòa!
Cha ôm tôi trong vòng tay trìu mến!

“…Ngày cha ra đi, Miền Nam giặc chiếm…
Bà qua đời rồi con sống với ai?
Nhận ra con nhờ có tấm thẻ bài
Là di vật cuối cùng cha để lại…” 

Hôm nay đây, mình tôi nơi hải ngoại!
Tuy bạn bè và đồng đội rất đông
Đoàn tựu rồi, vẫn cách núi ngăn sông…
Nhưng cùng dạ, chung lòng cho Chánh nghĩa

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 16142
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: Ngày hôm qua lúc 8:38am

Một Thời Yêu Thương 

Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, nhưng trái đất vẫn mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn; mặt trời vột vã ngả xuống nơi nó đã mọc lên. Gió thổi xuống phiá nam, rồi xoay về phiá bắc: gió xoay lui, xoay tới rồi gió đi, gió trở qua, trở lại lòng vòng. Mọi khúc sông đều xuôi ra biển, nhưng biển cũng chẳng đầy. Sông chẩy tới đâu thì từ đó sông lại tiếp tục. Chuyện gì cũng nhàm chán, chẳng thể nói gì hơn. Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới.

Đoạn mở đầu Sách Giảng Viên — Ecclesiastes — trong Kinh Thánh. Bồi hồi tưởng nhớ những năm 1982, 1983 u ám khủng khiếp ở Sài Gòn, bọn ác ôn tịch thu tất vả những kho sách Kinh Điển Công Giáo, Tin Lành. Khi ấy, với những người Con của Thiên Chúa, và những người đau khổ tìm đến với Chuá, sách Kinh Thánh quí hơn vàng. Người ta ra chợ mua vàng dễ dàng, mua bao nhiêu vàng cũng có, nhưng người ta không thể tìm mua được Kinh Thánh, vì không có nơi nao ở Sài Gòn những năm ấy có bán Kinh Thánh.
“Các ngươi sẽ đói lời Ta từ bờ biển này tới bờ biển kia!” Thưa đúng như Ngài đã nói. Sau 1975, chúng tôi đói lời Chúa một cách thê thảm. Một nhóm tu sĩ tại gia chỉ in ronéo một số bài giảng, tập lịch đạo năm mới, phát cho  tín hữu, bị bắt vào tù với tội “in ấn bất hợp pháp”. Ra toà năm 1985 ba ông thầy can tội in ấn lãnh mỗi ông ba cuốn lịch.
Noel năm 1883 trong căn gác nhỏ trong Cư Xá Tự Do ở Ngã Ba Ông Tạ, tôi ngồi dịch sách Ecclesiastes ra tiếng Việt. Tôi viết và trình bầy như một tập sách nhỏ, đem đến tặng các bạn ở nhà thờ, các bạn truyền tay nhau đọc, ai muốn có tập sách ấy chỉ cần  chép lại hay đi chụp photocopy.

Mùa Giáng Sinh 2005 tôi sống xa Ngã Ba Ông Tạ, xa Nhà Thờ Chí Hoà, Nhà Thờ Đồng Tiến, Nhà Thờ Tân Định, Nhà Thờ Dòng Chuá Cứu Thế, Vương Cung Thánh Đường… không biết bao nhiêu ngàn cây số. Trong căn phòng nhỏ của vợ chồng tôi ở Rừng Phong hiện giờ có đến bốn, năm quyển Kinh Thánh. Sách Kinh Thánh quyí nhất của tôi là bản tiếng Việt mới được dịch và xuất bản tại Sài Gòn. Trong số những vị dịch giả có Linh Mục Nguyễn công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam.

Năm 1987, rồi năm 1989, tôi ở tù chung phòng với Cha Đoan ở Nhà Tù Chí Hoà và Trại Lao Động Cải Tạo Z 30 A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Cha Đoan bị án tù 14 năm. Cha, cùng nhiều Linh mục khác, bị bắt năm 1982.

 Những ngày như lá, tháng như mây… Chúng tôi ra khỏi tù, vợ chồng tôi sang Kỳ Hoa năm 1995. Tháng Tám 1999 Cha Đoan, từ Sài Gòn, đi công việc đạo sang Vatican,Roma, Ý Quốc, Cha ghé sang Hoa Kỳ và Cha đến Rừng Phong gập vợ chồng tôi. Tôi đứng đón Cha dưới hàng cây trên lối vào Rừng Phong. Từng sống với nhau ở Nhà Tù Chí Hoà, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, có bao giờ tôi tưởng tượng một buổi trưa mùa hạ tôi bồi hồi đứng trong con đường vắng, đầy bóng cây, trên đất Hoa Kỳ chờ Cha Đoan đến. Gập nhau mừng mừng, tủi tủi, Cha cầm tay tôi mãi như không muốn buông ra. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Cha không khác chút nào qua năm năm trời kể từ  ngày chúng tôi đi khỏi Sài Gòn.

*
Tôi bị quyến rũ bởi lời và ý Sách Giảng Viên — những bản dịch Kinh Thánh trước dịch là Truyền Đạo — Những lời như Thơ, những ý tình man mác…
Trích trong Kinh Thánh, bản do Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn xuất bản năm 1998:

Ở dưới bầu trời này
mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:
một thời để chào đời, một thời để lìa thế;
một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây;
một thời để giết chết, một thời để chữa lành;
một thời để phá đổ, một thời để xây dựng;
một thời để khóc lóc, một thời để vui cười;
một thời để than van, một thời để múa nhẩy;
một thời để quăng đá, một thời để lượm đá;
một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn;
một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất;
một thời để giữ lại, một thời để vất đi;
một thời để xé rách, một thời để vá khâu;
một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng;
một thời để yêu thương, một thời để thù ghét;
một thời để gây chiến, một thời để làm hoà.

Chúng ta ra đời trong Thế Kỷ Hai Mươi đẫm máu; máu đẫm thế kỷ này từ những ngày đầu đến những ngày cuối. Hai tai hoạ lớn nhất của loài người cùng đến trong Thế Kỷ Hai Mươi: Hoạ Phát Xít và Họa Cộng Sản. Có nhiều quốc gia chỉ bị đau khổ vì một tai họa, Hoạ Phát Xít, hoặc Hoạ Cộng Sản, nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam bị khổ sở vì cả hai tai họa. Dân tộc Việt Nam đau khổ trong gần trọn Thế Kỷ Hai Mươi. Thế Kỷ Hai Mươi Mốt đến, chúng ta mong ta được hưởng một thời để yêu thương.

Và đây những lời khuyên cuối của Vị Giảng Viên:

Giữa tuổi thanh xuân
bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình.
Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới
đừng chờ cho năm tháng qua đi,
những năm tháng mà rồi bạn sẽ phải nói:
“Tôi chẳng có được một niềm vui nào trong thời gian đó cả.”
Đừng chờ đến khi mặt trời với ánh sáng,
mặt trăng cùng tinh tú đều trở thành tối tăm, và mây đen tụ lại khi cơn mưa đã dứt.
Ngày ấy, người giữ nhà sẽ run lẩy bẩy,
chàng trai vạm vỡ phải khòm lưng
các cô xay bột không còn xay tiếp vì không đủ người xay,
các bà nhìn qua cửa sổ: chỉ thấy lờ mờ.
Ngày ấy, cánh cửa ngó ra đường sẽ đóng lại
tiếng cối xay bột từ từ nhỏ đi,
người ta trổi dậy khi vừa nghe tiếng chim hót
và mọi cô ca sĩ sẽ phải lặng thinh.
Ngày ấy, đường hơi dốc cũng làm người ta sợ,
chân bước đi mà lòng thật kinh hoàng.
Ngày ấy, hoa hạnh đào nở ra trắng xóa,
loài châu chấu trở nên chậm chạp, nặng nề,
trái bạch hoa hết còn hương vị.
Bởi vì con người tiến đến nơi an nghỉ ngàn thu,
bên đường đầy những người khóc than ai oán.
Đừng chờ đến khi chỉ bạc đứt, bình vàng vỡ,
vò nước bể ngay tại hồ chứa nước,
ròng rọc gẫy, vụt rơi xuống giếng sâu.
Đừng chờ đến khi bụi đất lại trở về với đất,
khi phàm nhân trả lại cho Thiên Chúa
hơi thở Người đã ban cho mình.
…..
Phù vân, quả là phù vân, mọi sự đều là phù vân cả !

Trên đây là bản dịch tiếng Việt theo bản văn Kinh Thánh Cổ. Đây là bản văn trên viết bằng tiếng Anh hiện đại, trích từ  Good News Bible, Nhà Xuất Bản American Bible Society:

So remember your Creator while you are still young, before those dismal days and years come when you will say: “I don’t enjoy life.” That is when the light of the sun, the moon and the stars will grow dim for you, and the rains clouds will never p*** away. Then your arms, that have protected you, will tremble, and your legs, now strong, will grow weak. Your teeth will be too few to chew your food, and your eyes to dim to see clearly.
Your ears will be deaf to the noise of the street. You will barely be able to hear the mill as it grinds or music as it plays, but even the song of a bird will wake you from sleep. You will be afraid of high places and walking will be dangerous. Your hair will turn white; you will hardly be able to drag yourself along, and all desire will be gone.
We are going to our final resting place, and then there will be mourning in the streets. The silver chain will snap, and the golden lamp will fall and break; the rope at the well will break, and the water jar will be shattered. Our bodies will return to the dust of the earth, and the breath of life will go back to God, who gave it to us.
Useless, useless, said The Philosopher. It is all useless…

Vậy hãy nhớ đến Đấng Tạo Tác ra anh trong khi anh còn trẻ, trước khi những ngày, những năm sầu thảm đến và anh nói:  “Tôi sống không lạc thú.” Đó là khi ánh mặt trời, ánh mặt trăng và ánh sáng những ngôi sao mờ đi với anh, và mây đen cơn mưa không bao giờ tan đi nữa. Khi ấy cánh tay anh, những cánh tay vẫn bảo vệ anh, sẽ run run, và đôi chân anh, lúc này đang mạnh, sẽ trở thành yếu. Răng anh sẽ còn quá ít để có thể nhai thức ăn, mắt anh sẽ quá mờ để có thể nhìn rõ. Tai anh sẽ điếc với những tiếng động ngoài đường phố. Anh sẽ chỉ còn nghe được mơ hồ  tiếng cối xay đang xay hay tiếng nhạc đang trổi, nhưng chỉ cần tiếng hót của con chim cũng làm anh thức giấc. Anh sẽ sợ hãi những nơi cao, việc đi lại sẽ trở thành nguy hiểm. Tóc anh sẽ bạc trắng; anh gần như  chỉ còn có thể sống vất vưởng, và tất cả những ham muốn đều mất.

Chúng ta đi đến nơi an nghỉ cuối cùng, có tiếng than khóc bên đường. Sợi dây bạc sẽ đứt, chiếc đèn vàng sẽ rơi và sẽ vỡ, sợi dây thừng ở giếng sẽ đứt và bình nước sẽ tan tành. Thể xác ta sẽ trở về với bụi của đất, và hơi thở của ta sẽ trở lại với Thượng Đế, Người đã ban nó cho ta.

Vô ích, vô ích. Nhà Hiền Triết nói. Tất cả là vô ích.

Từ Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, một chiều nhớ quê hương, thương tuổi trẻ, tôi viết bài này, tôi gửi bài viết này đến Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Thầy Sáu Trần Văn Bẩy, Tu Sĩ Thích Tâm Lạc, Tu Sĩ Thích Trí Siêu, Tu Sĩ Thích Tuệ Sĩ,  Giáo Sư Mã Thành Công, Kỹ Sư  Lê Công Minh.
Tôi từng được tù chung phòng tù ở quê hương tôi với các vị trên đây, các vị hiện đều sống ở Sài Gòn.

HOÀNG HẢI THỦY
(Viết ở Rừng Phong- Virginia, USA)
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 52
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.422 seconds.